Học Tập Thương Hàn Luận Bản Nghĩa - Phần 2

CHƯƠNG 19

THỦ THIẾU DƯƠNG BỘ VỊ
(6 Tiết, từ 157 đến 162) 
Hai Kinh Âm Dương Trung Hiện là cốt lõi của Tấu Lý có chức năng điều hoà lưu thông các thể Khí - Huyết, Thủy - Hoả trao đổi sinh hoạt nơi thân người. Nguyên Văn liên tục dùng 4 Chương 17 – 18 – 19 – 20 để thuyết minh vấn đề này. Bản Nghĩa phân hiểu được rành mạch chẳng những chứng tỏ rất thông suốt Nguyên Văn mà còn nhắc nhở được người sau cần lưu tâm vai trò của Tấu gắn liền với các Kinh Âm Dương Trung Hiện. 

Tiết 157: Thủ Thiếu Dương Kết tại Tấu, 
chuyển Âm phần Hàn Nhiệt ra Ngoại. 
- Tâm hạ Bĩ: thọ Kết của Âm phần Hàn Nhiệt. 
- Lại sợ lạnh, đổ mồ hôi: chuyển Âm Tà ra Ngoại. 
- Phụ Tử Tả Tâm thang làm chủ. 

Tiết 158: Thủ Thiếu Dương Kết tại Tấu
chuyển Dương phần Hàn Nhiệt vào Nội. 
- Vốn là Bản Hàn, bởi cho Hạ nên hiệp Tiêu Dương mà dưới Tâm Bĩ. 
- Dùng Tả Tâm thang không giải: không phải để trị Bĩ của Dương Tà. 
- Khát mà miệng táo phiền: Tiêu Dương Kết ở Nội. 
- Tiểu tiện không lợi: Bản Hàn Kết ở Nội. 
- Ngũ Linh Tán làm chủ. 

Tiết 159: Thủ Thiếu Dương thọ Thái Dương Thiếu Âm tại Cách. 
- Thương Hàn đổ mồ hôi sau khi giải: Thái Dương tại Ngoại giải. 
- Trong Vị không hoà: Thái Dương nhập Nội hiệp Thiếu Âm chưa giải. 
- Dưới Tâm Bĩ rắn: thọ Thái Dương Thiếu Âm Kết. 
- Ợ khan mùi đồ ăn: Thiếu Âm tại Cách hạ đi lên. 
- Dưới Hiếp có Thủy Khí, trong bụng sôi lụp bụp, ỉa chảy: Thái Dương tại Cách thượng đi xuống. 
- Sinh Khương Tả Tâm thang làm chủ: Sinh Khương tán Kết tại Cách; Can Khương, Bán Hạ trị Dương Hàn; Hoàng Cầm, Hoàng Liên trị Âm Nhiệt; Nhân Sâm, Cam Thảo, Đại táo trợ Vị Khí là chủ tại Cách. 

Tiết 160: Thủ Thiếu Dương thọ Thái Dương Thiếu Âm Kết tại Cách thượng. 
- Thương Hàn Trúng Phong: đồng thời thọ Phong Hàn. 
- Thầy thuốc trái lại cho Hạ: Phong Hàn nhập Lý. 
- Người bệnh hạ lợi ngày vài mươi lượt, cơm nước không tiêu hoá, trong bụng sôi lụp bụp: Thái Dương hiệp Thiếu Âm hạ lợi. 
- Dưới Tâm Bĩ mà rắn đầy: Thái Dương Thiếu Âm hiệp làm rắn. 
- Nôn khan: Hàn truyền. 
- Tâm phiền, không yên được: Nhiệt hệ. 
- Thầy thuốc thấy dưới Tâm Bĩ, không biết Bĩ do bởi Hạ làm nên, lại cho Hạ nữa, chứng Bĩ càng thêm nặng. 
- Đấy không phải là thực Kết, mà là trong Vị hư trống; Chính hư, Khách Khí nghịch lên làm rắn. 
- Cam Thảo Tả Tâm thang làm chủ. 

Tiết 161: Thủ Thiếu Dương thọ Thái Dương Thiếu Âm Kết tại Đái. 
- Thương Hàn: thọ Biểu Hàn đồng thời thọ Hàn truyền Kinh. 
- Uống thuốc thang hạ lợi không dứt: Lưỡng Hàn hiệp bệnh. 
- Trong Tâm Bĩ rắn: đồng thời thọ Bản Nhiệt. 
- Uống Tả Tâm thang rồi lại dùng thuốc khác cho Hạ, lợi không dứt: trị Bản Nhiệt mà không trị Bản Hàn. 
- Dùng Lý Trung thang, lợi càng thêm nhiều: trị Trung tiêu mà không trị đến Hạ tiêu. 
- Đây là lợi tại Hạ tiêu, Xích Thạch Chỉ Võ Dư Lương thang làm chủ: phép ‘ tắc nhân tắc dụng’ vậy. 
- Lại còn lợi không dứt, nên cho lợi tiểu tiện: phép ‘ thông nhân thông dụng’ vậy. 
Tiết 162: Thủ Thiếu Dương thọ Thái Dương Thiếu Âm truyền chư Kỳ Kinh. 
- Thương Hàn: thọ Phong Hàn truyền chư Kỳ Kinh. 
- Thổ Hạ rồi: Lý hư - Phát Hãn: Biểu hư. 
- Hư phiền: Tấu hư - Mạch rất Vi: Cách hư. 
- 8 – 9 ngày: ngày Thái Dương nhập Lý. 
- Dưới Tâm Bĩ rắn: cùng với Thiếu Âm Kết. 
- Dưới Hiếp đau, Khí xung lên Yết hầu: truyền Xung Kinh. 
- Huyễn mạo, Kinh mạch rung động: truyền Đốc Kinh. 
- Lâu ngày thành chứng Nuy: truyền Nhâm Kinh. 


CHƯƠNG 20
TÚC THIẾU DƯƠNG BỘ VỊ
(7 Tiết, từ 163 đến 169) 
Thiếu Dương là Dương (Hàn + Nhiệt) Trung Hiện gồm có Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu và Túc Thiếu Dương Đởm là cốt lõi của Tấu Lý; tại Chương 19 đã luận Bộ Vị của Thủ Thiếu Dương, chương này tiếp luận Túc Thiếu Dương Bộ Vị cho thấy rõ vai trò của các cặp Âm Dương Trung hiện. 

Tiết 163: Túc Thiếu Dương Kết tại Tấu. 
- Phát Hãn, Thổ Hạ sau khi giải: các Bộ Vị đã giải, chỉ tại Tấu phần chưa giải. 
- Dưới Tâm Bĩ rắn: thọ Dương Hàn Âm Nhiệt Kết tại dưới Tâm. 
- Ợ hơi không khỏi: Kết ở dưới mà Khí thăng lên trên. 
- Toàn Phúc Hoa Đại Giả Thạch thang làm chủ. 

Tiết 164: Túc Thiếu Dương Kết tại Cơ. 
- Sau khi Hạ, không thể lại dùng Quế Chi thang: cùng với ‘sau khi Hãn, không thể lại dùng Quế Chi thang’ xem xét; Kia nói tại Biểu đến Cơ, đây nói tại Lý đến Cơ. 
- Hãn ra mà Suyễn: tại Cơ phần Dương Nhiệt. 
- Không nóng lắm: Âm Nhiệt chuyển sang Dương Nhiệt. 
- Ma Hoàng Thạch Cao Hạnh Nhân Cam Thảo thang làm chủ. 

Tiết 165: Túc Thiếu Dương Kết tại Biểu tại Lý. 
- Thái Dương Bệnh Ngoại chứng chưa trừ: Bản Hàn chưa giải, Tiêu Dương cũng chưa giải. 
- Mấy lần cho Hạ bèn hiệp Nhiệt mà lợi, lợi Hạ không dứt: Tiêu Dương hiệp Bản Hàn mà lợi, Bản Hàn cũng hiệp Tiêu Âm mà lợi không dứt. 
- Dưới Tâm Bĩ rắn: Kết tại Bán Lý. 
- Biểu Lý không giải: cớ bởi Kết tại Tấu không giải. 
- Quế Chi Nhân Sâm thang làm chủ. 

Tiết 166: Túc Thiếu Dương tại Bán Biểu Bán Lý phân trị. 
- Sau khi đại Hạ: Lý hư. 
- Lại Phát Hãn: Biểu hư. 
- Dưới Tâm Bĩ: Kết tại Tấu. 
- Sợ lạnh là Biểu chưa giải: 
. Trước giải Bản Hàn tại Biểu, dùng Quế Chi thang. 
. Sau giải Bản Nhiệt tại Tấu, dùng Đại Hoàng Hoàng Liên Tả Tâm thang. 
- Thái Dương Thiếu Âm nên phân trị vậy. 


Tiết 167: Túc Thiếu Dương tại Bán Biểu Bán Lý hiệp trị. 
- Phát sốt đổ mồ hôi không giải: tại Bán Biểu. 
- Dưới Tâm Bĩ rắn: tại Bán Lý. 
- Nôn mửa: Hàn Nhiệt hiệp ở trên. 
- Hạ lợi: Hàn Nhiệt hiệp ở dưới. 
- Đại Sài Hồ thang làm chủ. 

Tiết 168: Túc Thiếu Dương Kết tại Cách. 
- Quế Chi chứng: Dương Hàn. 
- Như chứng Quế Chi: Âm Hàn. 
- Đầu không đau, gáy không cứng: bệnh không do Dương Hàn. 
- Mạch Thốn hơi Phù: Bệnh tại Âm Hàn. 
- Trong Hung Bĩ rắn: Túc Thiếu Dương Kết. 
- Khí xung lên Yết hầu không thở được: Kết tại Cách. 
- Đấy là Âm phần Hàn Nhiệt lên ở Cách, nên cho Thổ, dùng Qua Đế Tán. 
- Các bệnh vong Huyết không thể uống: nói Thủ Tam Âm Kinh Huyết hư, không thể dùng. 

Tiết 169: Túc Thiếu Dương Kết tại Tấu truyền các Kỳ Kinh. 
- Dưới Hiếp vốn có Bĩ: bình thời vốn có chứng Kết tại Đởm Kinh. 
- Lan đến bên rốn: truyền Xung Kinh. 
- Đau dẫn xuống bụng dưới: truyền Đốc Kinh. 
- Vào Âm cân: truyền Nhâm Kinh. 
- Đây là Thận Tạng thọ Kết, chứng chết vậy. 

CHƯƠNG 21
PHONG HÀN TẠI CÁCH MÔ
(11 Tiết, từ 170 đến 180) 
Cách Mô không chỉ là vách ngăn chia Nội Tạng thành 3 vùng Thượng – Trung - Hạ mà còn là nơi hội tụ các Kinh Lạc toàn thân, thông lên Phế rồi có biểu hiện ra Thốn Khẩu là nơi Đông Y dùng để xem mạch, chẩn đoán; Nhất là nghiên cứu Bệnh Lý Tim Mạch không thể bỏ qua Bộ Vị này. 

Tiết 170: Tại Cách chư Lạc thọ Bản Nhiệt làm Thương Hàn. 
- Thương Hàn: chư Lạc thương bởi Hàn thì làm Nhiệt bệnh. 
- Sau khi Thổ Hạ: chư Âm Lạc tại Lý đến Cách. 
- 7- 8 ngày không giải: chư Dương Lạc tại Biểu đến Cách. 
- Nhiệt Kết tại Lý, Biểu Lý đều Nhiệt: chư Lạc Kết Nhiệt tại Cách Lý, sở dĩ Biểu Lý đều Nhiệt. 
- Thỉnh thoảng sợ gió: Lạc của chư Hàn Kinh thọ Nhiệt. 
- Khát lắm trên lưỡi khô ráo mà phiền, muốn uống nước vài thăng: chư Nhiệt Kinh Lạc thọ Nhiệt. 
- Bạch Hổ gia Nhân Sâm thang làm chủ. 

Tiết 171: Tại Cách chư Kinh thọ Bản Nhiệt làm Thương Hàn. 
- Thương Hàn: chư Kinh thương bởi Hàn thì làm Nhiệt. 
- Không đại Nhiệt: Nhiệt nhập Kinh. 
- Miệng ráo khát, Tâm phiền: chư Nhiệt Kinh thọ Bản Nhiệt. 
- Lưng hơi sợ lạnh: chư Hàn Kinh thọ Bản nhiệt. 
- Bạch Hổ gia Nhân Sâm thang làm chủ. 

Tiết 172: Tại Cách chư Khí thọ Bản Nhiệt làm Thương Hàn. 
- Thương Hàn: chư Khí thương bởi Hàn thì làm Nhiệt. 
- Mạch Phù, phát sốt, không mồ hôi: tại Cách chư Khí thọ Nhiệt. 
- Biểu không giải thì không thể dùng Bạch Hổ thang: tại Cách chư Hàn Khí vậy. 
- Khát muốn uống nước không Biểu chứng: tại Cách chư Nhiệt Khí vậy. 
- Bạch Hổ gia Nhân Sâm thang làm chủ. 
(3 Tiết 170 – 171 – 172 Bản Nghĩa đều nói làm Thương Hàn đây là từ quan niệm nhất quán, người quen suy luận tương đối không thể hiểu được, suy gẩm đến tuyệt đối thì mới hiểu được như vậy). 

Tiết 173: Chư Kỳ Kinh tại Cách, Phong Ôn chứng. 
- Thái Dương Thiếu Dương ‘tinh bệnh’: 2 Dương ‘tinh’ (dồn) vào Thiếu Âm, Phong Ôn chứng vậy. 
- Dưới Tâm rắn: chư Kỳ Kinh thọ Phong Ôn tại Hung (ngực) phần. 
- Cổ gáy cứng mà hoa mắt: chư Kỳ Kinh thọ Phong Ôn tại Bối (lưng) phần. 
- Châm Đại Chùy, Phế Du, Can Du: trị chư Kỳ Kinh tại Bối phần. 
- Cẩn thận không thể Hạ: chư Kỳ Kinh tại Hung phần không thể Hạ. Hoặc châm Kỳ Môn, hoặc dùng các thang Tả Tâm, có thể được. 

Tiết 174: Chư Kỳ Kinh tại Cách, Ôn bệnh. 
- Thái Dương với Thiếu Dương hiệp bệnh: Dương Hàn truyền Dương Nhiệt làm Ôn bệnh. 
- Tự Hạ lợi dùng Hoàng Cầm thang: Bản Hàn truyền Tiêu Dương làm Ôn bệnh. 
- Nếu nôn, Hoàng Cầm gia Bán Hạ Sinh Khương thang làm chủ: Ôn bệnh chuyển làm Thương Hàn. 


Tiết 175: Chư Khí Kinh Lạc tại Cách làm Thương Hàn. 
- Trong Hung có Nhiệt: Ôn bệnh thuộc Nhiệt loại. 
- Trong Vị có Tà khí: Vị Nhiệt thọ Hàn. 
- Trong bụng đau: Thấp thọ Hàn. 
- Muốn nôn: Hàn Thấp theo Nhiệt ra Biểu. 
- Hoàng Liên thang làm chủ. 
(Có thể thấy, Thương Hàn là 2 Khí Âm Dương, cùng nhau ly hợp, cùng nhau tuần hoàn. Từ đó phát sinh các tên bệnh vậy. Bản Nghĩa chú rất nhất quán để dẫn cũng như trị, từ Bệnh Lý trở lại Sinh Lý. Nhưng người học đã quen nhìn theo tương đối nên có đổi lại lời chú khác để tiện tham khảo). 

Tiết 176: Chư Kỳ Kinh tại Cách thọ Hàn Thấp. 
- Thương Hàn 8 – 9 ngày: do Thương Hàn chuyển làm Hàn Thấp. 
- Phong Thấp tương bác: Hàn Thấp chuyển sang Phong Thấp. 
- Thân thể đau nhức không thể tự xoay trở được: chư Kỳ Kinh thọ Hàn Thấp. 
- Không nôn không khát: Khí của chư Kỳ Kinh thọ Hàn Thấp. 
- Mạch Phù hư mà Sáp: Lạc của chư Kỳ Kinh thọ Hàn Thấp. 
- Quế Chi Phụ Tử thang làm chủ. 
- Nếu đại tiện rắn: Hàn Thấp chuyển sang Phong Ôn. 
- Tiểu tiện tự lợi: Hàn Thấp chuyển sang Phong Thấp. 
- Khứ Quế gia Bạch Truật thang làm chủ: Khứ Quế Chi vì cớ chuyển sang Phong Ôn, gia Bạch Truật vì cớ chuyển sang Phong Thấp. 

Tiết 177: Chư Kỳ Kinh tại Cách thọ Thái Dương Thiếu Âm làm Phong Thấp. 
- Phong Thấp xung tương bác: do Hàn Thấp chuyển làm Phong Thấp. 
- Xương khớp phiền nhức, đau xiết, sờ đến thì đau dữ dội: chư Kỳ Kinh tại Cách thọ Thái Dương Thiếu Âm làm Phong Thấp. 
- Đổ mồ hôi, hơi thở ngắn, tiểu tiện không lợi: chư Kỳ Kinh thọ Thiếu âm Phong Thấp. 
- Sợ gió, không muốn cởi áo, hoặc mình hơi sưng: chư Kỳ Kinh thọ Thái Dương Phong Thấp. 
- Cam Thảo Phụ Tử thang làm chủ. 
(Tiết trên Thái Dương chuyển sang Thiếu Âm cho nên khứ bỏ Quế Chi. Tiết này Thiếu Âm chuyển sang Thái Dương cho nên lại dùng Quế Chi). 

Tiết 178: Lạc mạch tại Cách làm Thương Hàn. 
- Thương Hàn: Lạc mạch thọ Hàn truyền Kinh. 
- Mạch Phù Hoạt: Lạc mạch thương bởi Hàn mà thành Nhiệt. 
- Đấy là Biểu ‘Lạc’ làm thành Nhiệt bệnh, do Lý ‘Kinh’ bị thương bởi Hàn. 
- Lạc mạch thọ Nhiệt, Bạch Hổ thang làm chủ. 
(Kinh là Lý, phàm thấy ở ngoài đều là Lạc mạch (xem Mạch độ luận). Luận điều này tìm trong sách Thương Hàn không chỉ thấy một lần, riêng chưa nói rõ như ở Tiết này, là chỗ Trọng Sư ‘phụng hát’ (như Thiền Sư ‘đánh hét’ Thiền sinh) khiến cho người học thức tỉnh mãnh liệt về Thương Hàn). 

Tiết 179: Kinh mạch tại Cách làm Thương Hàn. 
- Mạch do chư Khí tích Đản Trung, từ Cách đến Tấu rồi đến Cơ, Kinh mạch Lạc mạch đều như vậy. 
- Mạch Kết là chư Kinh ‘Kết’ tại Cách. 
- Mạch Đại là chư Kinh mạch ‘Đại’ tại Cách. 
- Tâm động quý: chư Âm Kinh hư thì Tâm động, chư Dương Kinh hư thì Tâm quý. 
- Chích Cam Thảo thang làm chủ: còn gọi là Phục Mạch thang, bổ ích Kinh mạch vậy. 

Tiết 180: Lạc mạch Kinh mạch đều thọ Cách Khí. 
- Mạch đến Hoãn có lúc ngừng một lần rồi lại đến: đấy là Âm Dương Khí tương Kết. 
- Mạch đến Động mà giữa chừng ngừng lại đến Tiểu Sác, giữa đó có quay lại Động: đấy là Âm Khí bị Dương Kết, không thể đạt ra Ngoại. 
- Mạch đến Động mà giữa chừng ngừng không thể tự quay về sau đó trở lại Động, lấy mạch khác để Đại (thay thế) nó: đấy là Dương Khí bị Âm Kết, không thể đạt vào Nội. 
- Phàm xem thấy mạch Kết Đại đều khó trị: tại Cách Vị Khí Kiệt vậy. 
(Trong Luận phàm 2 chữ ‘ danh viết’ (gọi tên là), là chỗ Trọng Sư kêu gọi Học giả thức tỉnh, thể nhận Âm Dương trải khắp thân người, mỗi mỗi đều có Bộ Vị rõ ràng. Ở đây, gọi là Kết, gọi là Đại là chỉ Âm Dương tại Cách Bộ). 

Thêm bình luận


Mã an ninh
Làm tươi

6351085
Hôm nay
Hôm qua
Tháng này
Tháng trước
Tổng số
1611
5000
118987
138003
6351085