Học Tập Thương Hàn Luận Bản Nghĩa - Phần 2


CHƯƠNG 13
THÁI DƯƠNG PHONG HÀN TRUYỀN TẤU PHẦN
(15 Tiết, từ 97 đến 111) 
Tấu Phần là màn lưới Kinh Lạc trải suốt Biểu Lý gồm có 2 phần Tấu Bán Biểu do Thái Dương làm chủ và Tấu Bán Lý do Thiếu Âm làm chủ. Cần lưu ý tuy theo tương đối nói Tấu là Nhiệt đối lập với Bì là Hàn nhưng theo tuyệt đối thì Âm Dương Hàn Nhiệt ra vào đều tập trung tại Tấu. Xét bệnh tại Lý cần nhận định rõ các mặt Âm Dương - Hàn Nhiệt - Biểu Lý; Người học xin phép được thay chữ truyền tại Bán Lý bằng chữ chuyển để dễ nhận định. 

Tiết 97: Thái Dương Phong Hàn tại Tấu Bán Biểu truyền các Kinh Dương. 
- Thương Hàn 5 – 6 ngày Trúng Phong: Nói trước bị Thương Hàn rồi sau mới Trúng Phong tại Tấu các Dương Kinh. Có Trúng Phong trước, có Thương Hàn trước, có Phong Hàn đồng thời, có thể thấy Thái Dương Kinh Khí làm bệnh đâu có nhất định!
- Nóng lạnh qua lại: Dương Hàn Dương Nhiệt qua lại tại Tấu. 
- Ngực sườn đầy tức: Dương Hàn Dương Nhiệt hiệp bệnh tại Tấu. 
- Lìm lịm không muốn ăn uống: Tà bế tại Tấu là nơi Vị Khí làm chủ. 
- Tâm phiền hay nôn: Đồng thời thọ Phong Hàn. 
- Hoặc trong ngực phiền mà không nôn: Hoặc Trúng Phong mà không Thương Hàn. 
- Hoặc khát: thọ Bản Nhiệt. 
- Hoặc trong bụng đau: thọ Bản Hàn. 
- Dưới sườn đầy cứng: Hàn Nhiệt kết tại Tấu. 
- Hoặc dưới Tim hồi hộp, tiểu tiện không lợi: Hàn Nhiệt kết tại Lý. 
- Hoặc không khát, mình có hơi nóng: tại Tấu Bán Biểu. 
- Hoặc ho: Hàn Nhiệt cùng thọ. 
- Tiểu Sài Hồ thang làm chủ: Chuyên trị Dương Kinh tại Bán Biểu nên nói ‘Tiểu’. 


Tiết 98: Phong Hàn tại Tấu Bán Lý chuyển các Dương Kinh. 
- Tấu Bán Biểu do Thiếu Dương Hoả Khí làm chủ. Tấu Bán Lý do Thiếu Âm Nhiệt Khí làm chủ. Bản Hàn vào Bán Biểu tranh với Dương Nhiệt, vào Bán Lý tranh với Âm Nhiệt. 
- Huyết nhược Khí tận, Tấu Lý khai: Tại Tấu Khí Huyết suy. 
- Thái Dương Tà nhập cùng với Chính Khí Thiếu Âm chọi nhau, Kết ở dưới hiếp, tức Tấu Bán Lý phần. 
- Chính Tà phân tranh, nóng lạnh qua lại, nghỉ phát có lúc: Đó là Thái Dương Thiếu Âm ’tương bác’ (chọi nhau). 
- Lừ đừ không muốn ăn uống: Đó là Thái Dương Thiếu Âm ‘tương kết’ (kết nhau). 
- Tạng Phủ liền nhau, chỗ đau tất ở thấp: Tấu Bán Lý trong liền Phủ Tạng, Kinh của nó đi Tung, ngoài liền Bán Biểu, Kinh của nó đi Hoành – Từ Tung ra Hoành tất đau, từ Tung vào Lý tất xuống thấp. 
- Thái Dương ở ngoài là Tà cao, cùng với tại Tấu Thiếu Âm thọ (Hàn) làm đau ở thấp, từ dưới mà lên nên khiến sinh nôn. 
- Tiểu Sài Hồ thang làm chủ. 
- Uống thang rồi mà khát là thuộc Dương Minh: Ly khai (lìa bỏ) Dương Hàn, vãng tòng (đi theo) Dương Nhiệt. 
- Dùng ‘Pháp’ để trị: ‘Pháp’ là Nhiệt của Dương Minh gốc ở Thiếu Âm Nhiệt Khí. 

Tiết 99: Phong Hàn tại Tấu Bán Lý chuyển các Âm Kinh. 
- Mắc bệnh 6 - 7 ngày: ngày của Thái Dương tại Tấu nhập Lý. 
- Mạch Trì Phù Nhược: 
. Trì là Âm Nhiệt bị Dương Hàn cản trở. 
. Phù là tại Tấu. 
. Nhược là Dương Hàn thọ (chịu) Âm Nhiệt hoá. 
- Sợ gió lạnh: Thái Dương nhập Nội. 
- Tay chân ấm: Thiếu Âm xuất Ngoại. 
- Thầy thuốc 2 - 3 lần Hạ, không ăn được: Hạ thì Âm Nhiệt hư mà Dương Hàn thực. 
- Dưới hiếp đầy đau: Phong Hàn súc tích ở Nội. 
- Mặt mắt và mình đều vàng: Phong Hàn biểu hiện ở Ngoại. 
- Cổ gáy cứng: Bản Hàn truyền Kinh. 
- Tiểu tiện khó: Bản Nhiệt chuyển Hệ. 
- Dùng Sài Hồ thang sau tất hạ trọng: Bệnh đã lìa bỏ Dương Kinh nhập Âm Kinh. 
- Vốn khát: nhập Âm Nhiệt Kinh. 
- Uống nước vào thì nôn: nhập Âm Hàn Kinh. 
- Dùng Sài Hồ thang là không đúng: bởi đã lìa bỏ Dương Kinh. 
- Ăn cơm vào thì nôn ọe: Bởi đã nhập Âm Kinh. 

Tiết 100: Phong Hàn tại Tấu Bán Biểu truyền các Âm Kinh 
- Thương Hàn 4 - 5 ngày: ngày các Âm hành Kinh. 
- Mình nóng: Âm Nhiệt. 
- Sợ gió: Âm Hàn. 
- Cổ gáy cứng: Phong Hàn truyền Kinh. 
- Dưới hiếp đầy: Từ Bán Lý ra Bán Biểu. 
- Tay chân ấm mà khát: Từ Âm Nhiệt chuyển sang Dương Nhiệt. 
- Tiểu Sài Hồ thang làm chủ. 

Tiết 101: Tấu Lý có 2 phần. 
- Dương mạch Sáp: Dương Nhiệt tại Bán Biểu hư. 
- Âm mạch Huyền: Âm Hàn tại Bán Lý thực. 
- ‘Pháp đương’ trong bụng đau gấp: Dương Sáp Âm Huyền ‘ Pháp đương’ theo Thái Dương Thiếu Âm. 
- Cấp thống (đau gấp) là tại Kinh Lạc ‘do’ Hoành ‘nhi’ Tung. 
- Dùng Tiểu Kiến Trung thang: khiến cho Dương Hàn không nhập Lý. 
- Không bớt thì dùng Tiểu Sài Hồ thang: khiến cho Âm Nhiệt ra ngoài. 

Tiết 102: Tấu Bán Biểu Ngoại liên Bì Nhục. 
- Thương Hàn: tại Bì phần. 
- Trúng Phong: tại Nhục phần. 
- Có chứng Sài Hồ: tại Tấu phần. 
- Trong 3 phần có 1 chứng Sài Hồ liền trị đi, không cần phải đủ cả, sợ tại Tấu dễ nhập Lý vậy. 

Tiết 103: Tấu Bán Lý Nội Liên Phủ Tạng. 
- Phàm bệnh chứng thuộc Sài Hồ thang: Nói chứng trị thang Sài Hồ rất rộng. 
- Cho Hạ: thì nhập vào Phủ Tạng. 
- Nếu tại Tấu chứng Sài Hồ không dứt, lại dùng Sài Hồ thang, tất rung động Kinh Lạc tại Tấu, rồi sau ra mồ hôi mà giải. 

Tiết 104: Bản Hàn truyền Kinh tại Tấu làm Thương Hàn. 
- Thương Hàn 2 – 3 ngày: ngày Tam Dương hành Kinh. 
- Trong Tâm Quí mà phiền: chứng không truyền Dương Kinh mà truyền Âm Kinh. 
- Tiểu Kiến Trung thang làm chủ. 
- Thái Dương Bệnh liền truyền Tam Âm, không tuần tự nhật số vậy. 

Tiết 105: Tiêu Dương thọ Bản Hàn truyền Dương Nhiệt 
làm Ôn Bệnh truyền Âm Nhiệt làm Phong Ôn. 
- Thái Dương tức Tiêu Dương; Bệnh: thọ Hàn truyền Kinh. 
- Quá Kinh hơn 10 ngày: Dương Kinh hành Biểu 7 ngày thì nay hơn 10 ngày vẫn tại Dương Kinh, gọi là ‘quá Kinh’. 
- Trái lại cho Hạ 2 – 3 lần, sau 4 – 5 ngày: là ngày Âm hành Kinh. 
- Chứng Sài Hồ vẫn còn: nói thủy chung bệnh tại Dương Kinh, không tuần tự theo nhật số. 
- Trước dùng Tiểu Sài Hồ thang: Ôn Bệnh tại Dương Nhiệt Kinh. 
- Nôn không dứt: Bản Hàn vẫn còn. 
- Dưới Tâm cấp, uất uất hơi phiền: Bản Hàn tiếp tục truyền hiệp Bản Nhiệt chuyển làm Phong Ôn tại Dương Nhiệt Kinh. 
- Dùng Đại Sài Hồ thang cho Hạ. 

Tiết 106: Thương Hàn tại Bán Lý làm Phong Ôn, 
ra Bán Biểu làm Ôn Bệnh. 
- Thương Hàn 13 ngày không giải: tại Bán Lý làm Phong Ôn. 
- Ngực Hông đầy mà nôn: Thái Dương Tiêu Bản cùng bệnh. 
- Xế chiều phát Triều Nhiệt: Thiếu Âm Tiêu Bản cùng bệnh. 
- Rồi đi ngoài hơi lỏng, đấy vốn là chứng Sài Hồ cho Hạ mà không được lợi, nay lại lợi thì biết thầy thuốc đã dùng thuốc hoàn để Hạ chứng tại Tấu, trị không đúng vậy. 
- Triều Nhiệt là chứng thực: Phong Ôn tại Tấu Bán Lý. 
- Trước nên dùng Tiểu Sài Hồ thang giải Bán Biểu Ôn Bệnh. 
- Sau dùng Sài Hồ gia Mang Tiêu thang giải Bán Lý Phong Ôn. 

Tiết 107: Thương Hàn nhập Tấu chuyển làm Nhiệt Bệnh. 
- 13 ngày không giải, quá Kinh nói xàm: đây, Bản Hàn nhập Tấu chuyển sang Bản Nhiệt, có thể dùng thang cho Hạ. 
- Nếu tiểu tiện lợi thì đại tiện phải rắn: Bản Hàn hạ mà Bản Nhiệt không hạ. 
- Nay trái lại hạ lợi, mạch điều hoà thì biết thầy thuốc dùng thuốc hoàn để hạ nhưng Bản Hàn hạ mà Bản Nhiệt vẫn không hạ, trị không đúng vậy. 
- Nếu tự Hạ lợi thì Mạch phải nên Vi: Bản Hàn Bản Nhiệt đều Hạ. 
- Nay trái lại hoà, đấy là Nội thực: Bản Hàn Bản Nhiệt đều chưa hạ, đấy là Thương Hàn chuyển làm Nhiệt bệnh, Điều Vị Thừa Khí thang làm chủ. 

Tiết 108: Tiêu Dương tại Tấu hoặc chuyển làm Tiêu Âm Hàn Thấp, 
hoặc chuyển làm Bản Nhiệt Phong Thấp. 
- Thái Dương Tiêu Dương tại Tấu không giải, Nhiệt kết Bàng Quang, người bệnh như cuồng: truyền nhập Thiếu Âm Kinh Huyết. 
- Huyết tự hạ, hạ thì khỏi: truyền ở Thái Âm Tiêu Âm làm Hàn Thấp. 
- Nếu tại Ngoại Dương Hàn chưa giải, nên trước cho giải để cho Dương Hàn không nhập Nội hiệp Âm Hàn. 
- Chỉ còn chứng bụng dưới kết cấp: truyền ở Thiếu Âm Tiêu Âm làm Phong Thấp, thì mới có thể công, nên dùng Đào Hạch Thừa Khí thang. 

Tiết 109: Thương Hàn vào Tấu làm Hàn Thấp, hoặc chuyển làm 
Thái Dương Phong Thấp, hoặc Thiếu Âm Phong Thấp. 
- Thương Hàn 8 – 9 ngày: Bản Hàn nhập Tấu làm Hàn Thấp. 
- Cho Hạ ngực đầy phiền Kinh: Hiệp Thái Dương Tiêu Bản làm Phong Thấp. 
- Tiểu tiện không lợi, nói xàm: Hiệp Thiếu Âm Tiêu Bản làm Phong Thấp. 
- Cả mình nặng nề không thể xoay trở: Thái Dương Thiếu Âm cùng bệnh. 
- Sài Hồ gia Long Cốt Mẫu Lệ thang làm chủ. 

Tiết 110: Tại Bán Biểu, Thương Hàn Hoành Kinh chuyển sang Tung Kinh. 
- Bụng đầy: Túc Âm Kinh Lạc. 
- Thiềm ngữ (nói xàm): Thủ Âm Kinh Lạc. 
- Mạch Phù mà Khẩn: các Dương Kinh Lạc. 
- Đấy là ‘Can thừa Tỳ’: Các Kinh truyền đến chỗ thắng. 
- Tại Bán Biểu Kinh đi Hoành như loại Tả Can, Hữu Tỳ. Vào Bán Lý Kinh nó đi Tung, ‘do Hoành Nhi Tung’ cho nên gọi là Tung. 
- Châm Kỳ Môn: hội Huyệt các Kinh. 

Tiết 111: Tại Bán Lý, Thương Hàn Tung Kinh chuyển sang Hoành Kinh. 
- Phát sốt, sợ lạnh: Thủ Túc Dương Kinh. 
- Đại khát muốn uống nước bụng đầy: Thủ Túc Âm Kinh. 
- Tự đổ mồ hôi: do Dương Kinh giải. 
- Tiểu tiện lợi: do Âm Kinh giải. 
- Đấy là ‘Can thừa Phế’: Các Kinh truyền đến chỗ không thắng. 
- Tại Bán Lý Kinh đi Tung, như Phế Can đi Tung lên xuống, ra Bán Biểu Kinh đi Hoành. ‘Do Tung nhi Hoành’ cho nên gọi là Hoành. 
- Châm Kỳ Môn: (xem ở trên). 
(Đây là chỗ Trọng Sư giảng Kinh Lạc cực phân minh). 



CHƯƠNG 14
THỦ THÁI DƯƠNG KINH KHÍ
(11 Tiết, từ 112 đến 122) 
1 Kinh Thái Dương chia Thủ Túc thành 2 Kinh, Túc Thái Dương Bản Hàn là Kinh Dương Hàn Khí Âm Hàn, Thủ Thái Dương là Kinh Dương Hàn Khí Dương Nhiệt. Bản là gốc, Tiêu là ngọn; Bản Khí là Âm Hàn thì Tiêu Khí đối lập là Dương Nhiệt; Như vậy cùng là Kinh Thái Dương mà Bản là Âm Hàn đồng Khí với Tiêu Âm; Tiêu là Dương Nhiệt đồng Khí với Bản Nhiệt. 
Thủ Thái Dương Kinh tức Tiểu Trường Kinh, tức Tiêu Dương Hàn Kinh đối giao với Bản Âm Nhiệt Kinh tức Tâm Kinh, Thủ Thiếu Âm Kinh. 
Thủ Thái Dương Khí tức Tiểu Trường Khí, Tiêu Dương Hàn Khí đồng là Dương Nhiệt với Bản Âm Nhiệt Khí tức Tâm Khí, Thủ Thiếu Âm Khí. 

Tiết 112: Thủ Thái Dương thọ Thái Dương Tiêu Bản truyền 4 Kỳ Kinh
- Thủ Thái Dương thọ Bản Hàn truyền Tiêu Dương 2 ngày, trái lại vật vã. 
- Thầy thuốc không biết chứng Hàn truyền Tiêu Dương, lại dùng lửa chườm lưng làm mồ hôi ra nhiều: Bản Hàn thọ khốn. 
- Hoả Nhiệt nhập Vị, trong Vị thủy kiệt, phiền táo nói xàm: đó là Thủ Thái Dương thọ Tiêu Dương chuyển đến Bản Nhiệt. 
- Hơn 10 ngày, run rẩy, tự hạ lợi, đấy là muốn giải: Bản Hàn truyền Kinh, Tiêu Dương giải, Bản Nhiệt cũng giải. 
- Từ thắt lưng trở xuống không ra mồ hôi, muốn tiểu tiện không đi được: thọ Tiêu Dương truyền Đốc Kinh. 
- Trái lại khi nôn muốn són đái, phần dưới chân sợ gió: thọ Bản Hàn truyền Đốc Kinh. 
- Đại tiện rắn, tiểu tiện đáng lẽ sác: thọ Tiêu Dương truyền Nhâm Kinh. 
- Trái lại không sác mà nhiều: thọ Bản Hàn truyền Nhâm Kinh. 
- Đại tiện rồi, đầu đột nhiên đau: thọ Tiêu Dương truyền Xung Kinh. 
- Lòng bàn chân tất nóng là vì Cốc Khí chuyển xuống dưới vậy: thọ Bản Hàn truyền Đái Kinh. 

Tiết 113: Thủ Thái Dương thọ Thiếu Âm Tiêu Bản truyền 4 Kỳ Kinh. 
- Thái Dương Bệnh Trúng Phong: Thủ Thái Dương Trúng Thiếu Âm Phong. 
- Dùng Hoả cưỡng ép Phát hãn: Không biết Phát hãn của Thiếu Âm. 
- Tà Phong bị Hoả Nhiệt: Phong thọ Hàn tại Cơ là Tà, từ Cơ vào Tấu là bị Hoả Nhiệt. 
- Thái Dương Kinh hành Khí, Thiếu Âm Kinh hành Huyết, mất đi độ thường. 
- Thái Dương là Dương, Thiếu Âm Nhiệt Khí cũng là Dương, hai Dương xông đốt nhau, thân mình phát vàng. 
- Dương Nhiệt thạnh thì muốn nục, Âm Hàn hư thì tiểu tiện khó. 
- Dương Tân Âm Dịch đều hư thì thân thể khô khao. 
- Chỉ đầu đổ mồ hôi, đến cổ thì hết: Thái Dương ở trên ra mồ hôi, Thiếu Âm ở dưới không có mồ hôi. 
- Bụng đầy hơi Suyễn: thọ Tiêu Âm. 
- Miệng khô họng lở: thọ Bản Nhiệt. 
- Hoặc không đại tiện, lâu ngày thì nói xàm: truyền Đốc Đái Kinh. 
- Nặng thì ọe, chân tay vật vã không yên, lần áo men giường: truyền Xung Nhâm Kinh. 
- Tiểu tiện lợi thì người bệnh có thể trị: thọ Bản Nhiệt, được Bản Hàn truyền Kinh vậy. 

Tiết 114: Thủ Thái Dương thọ Bản Hàn tại Biểu vào Lý
- Mạch Phù: tại Biểu. 
- Dùng Hoả bức ép: Bản Hàn nhập Lý. 
- Vong Dương là Dương Hàn Vong ở Biểu mà nhập vào Lý. 
- Kinh cuồng nằm dậy không yên: Bản Hàn nhập Lý nhiểu loạn Bản Nhiệt. 
- Quế Chi Cứu Nghịch thang làm chủ: trị Hàn tại Ngoại mà nhập Nội làm nghịch. 

Tiết 115: Thủ Thái Dương thọ Bản Nhiệt tại Lý ra Biểu. 
- Thiếu Âm Bản Nhiệt Khí xuất Ngoại làm Thương Hàn gọi là Hình Tác. 
- Thọ Thái Dương Bản Hàn thì mạch Huyền Khẩn, nay không Huyền khẩn mà lại Nhược là riêng chỉ Bản Nhiệt làm bệnh. 
- Bản Nhiệt tại Cách tất khát, tại Tấu tất nói Xàm, tại Cơ tất phát sốt, tại Bì tất mạch Phù, giải đi mồ hôi ra thì khỏi. 
Tiết 116: Thủ Thái Dương thọ Bản Hàn tại Tấu. 
- Bản Hàn tại Tấu dùng lửa xông đi, không ra được mồ hôi tất vật vã: Hàn nhập Nhiệt phần. 
- ‘Đáo Kinh’ không giải tất tiện huyết: đại tiểu tiện hiệp Tấu Nhiệt hạ Huyết vậy. 
- Gọi là Hoả Tà: Tấu Hoả thọ Hàn là Hoả Tà, lại có tên Hoả nghịch cũng là ý này. 

Tiết 117: Thủ Thái Dương thọ Bản Nhiệt tại Tấu 
- Mạch Phù Nhiệt thậm: Thực Nhiệt. 
- Trái lại dùng phép cứu: Chứng Thực Nhiệt mà dùng phép trị Hư Nhiệt. 
- Tất yết táo thoá Huyết: Hàn vào Dương Nhiệt Kinh tất nục huyết (chảy máu mũi), Nhiệt vào Dương Hàn Kinh tất thoá Huyết (nhổ ra máu). 

Tiết 118: Thủ Thái Dương thọ Bản Nhiệt tại Biểu vào Lý
- Mạch Vi Sác cẩn thận không thể cứu: Phàm Thủ Kinh tại Biểu mạch đều Vi Sác, thọ Thực Nhiệt không thể cứu vậy. 
- Cứu thì nhân Hoả thành Tà: tại Biểu Hàn phần thọ Hoả là Tà, dùng Hoả trị Nhiệt thì phiền nghịch. 
- Cứu là Hư Hoả, Bản Nhiệt là Thực Nhiệt, dùng cái Hư của Hoả cứu truy trục cái Thực của Bản Nhiệt tất Huyết tán trong mạch. 
- Hoả Khí tuy nhỏ, sức Nội công lớn, xém xương hại gân, Huyết khó hồi phục. 

Tiết 119: Thủ Thái Dương thọ Bản Hàn tại Lý ra Biểu
- Mạch Phù: Bản Hàn tại Biểu. 
- Dùng Hoả cứu đi thì Hàn nhập Lý. 
- Nhân đó Hoả thịnh, từ thắt lưng trở xuống tất nặng mà tê, tên là ‘ Hàn tại Nội cùng với Hoả làm nghịch’. 
- Muốn cho Nội Hàn xuất Ngoại tất phải nên trước giải Hoả tại Nội làm phiền, rồi có mồ hôi mà giải. 
- Nhưng, Mạch tất phải Phù, Tà muốn hướng ra ngoài, mới có thể giải vậy. 

Tiết 120: Thủ Thái Dương thọ Bản Hàn truyền các Túc Kinh
- Thiêu Châm cho ra mồ hôi: Nhiệt Kinh có thể làm cho ra mồ hôi, Hàn Kinh không thể làm cho ra mồ hôi. 
- Chỗ châm bị Hàn: Túc Thái Dương Kinh Bản Hàn. 
- Nổi hạch đỏ: Phản ứng của Thủ Thái Dương Kinh Tiêu Dương. 
- Bôn đồn, Khí từ bụng dưới xung lên Tâm: các Túc Kinh thọ Hàn truyền, từ dưới mà đi lên. 
- Cứu trên hạch đó mỗi hạch 1 tráng: cứu chữa sai thất của Thiêu Châm. 
- Quế Chi gia Quế thang trị các Túc Kinh thọ Hàn. 

Tiết 121: Thủ Thái Dương thọ Bản Hàn truyền các Thủ Kinh
- Hoả nghịch: dùng Hoả trị Bản Hàn nhập Tấu là nghịch. 
- Cho Hạ: dùng Hàn trị Bản Hàn tại Tấu là nghịch. 
- Phiền Táo: nghịch trị xoay chuyển truyền các Thủ Kinh. 
- Quế Chi Cam Thảo Long Cốt Mẫu Lệ thang làm chủ. 

Tiết 122: Thủ Thái Dương Thương Hàn chuyển làm Nhiệt Bệnh
truyền các Thủ Túc Kinh 
- Thái Dương không nói bệnh: Thương Hàn đã truyền làm Nhiệt bệnh. 
- Gia Thiêu Châm tất Kinh: Thủ Thái Dương Hàn Kinh dùng Hàn trị nó tất truyền các Thủ Túc Kinh mà thành chứng Kinh (sợ). 

THIÊN 3: 
THÁI DƯƠNG HẠ
(7 CHƯƠNG, 58 TIẾT) 


CHƯƠNG 15
TÚC THÁI DƯƠNG LẠC
(8 Tiết, từ 123 đến 130) 
Túc Thái Dương Lạc tức Bàng Quang Lạc có 2 chức năng: 
Lạc thống nhất tùy theo Kinh là đường liên kết giữa 2 Kinh Thái Dương (Dương Hàn) và Thiếu Âm (Âm Nhiệt). 
Lạc đối lập tùy theo Khí, do Bàng Quang Khí là Âm Hàn nên đối lập tùy theo Khí là Dương Nhiệt Lạc. 

Tiết 123: Túc Thái Dương Lạc tại Tấu thọ chư Âm Dương
- Đáng lý sợ lạnh phát sốt: Kinh Khí bệnh. 
- Nay tự đổ mồ hôi không sợ lạnh phát sốt: Lạc bệnh. 
- Bộ Quan mạch Tế Sác: Âm Nhiệt hư, lại là Dương Nhiệt hư, mạch của Túc Thái Dương Lạc hư, là bởi thầy thuốc dùng phép Thổ sai lầm mà Lạc hư vậy. 
- Bệnh 1 - 2 ngày dùng phép Thổ là Thổ tại Dương Kinh. 
- Trong bụng đói miệng không ăn được: thọ Dương Nhiệt lại thọ Dương Hàn. 
- Bệnh 3 - 4 ngày dùng phép Thổ là Thổ tại Âm Kinh. 
- Không ưa cháo lại muốn ăn thức lạnh: thọ Âm Nhiệt. 
- Sớm ăn tối mửa: lại thọ Âm Hàn. 
- Đấy bởi không biết Túc Thái Dương Lạc thọ Hàn là Tiểu nghịch vậy. 

Tiết 124: Túc Thái Dương Lạc tại Cách thọ Âm Hàn chuyển Dương Nhiệt. 
- Túc Thái Dương Lạc thọ Âm Hàn đáng lý sợ lạnh, trái lại không sợ lạnh, không muốn mặc áo, như thế là chuyển Dương Nhiệt. 
- Đấy là vì cho Thổ sinh Nội phiền: nói Dương Nhiệt động đến Âm Nhiệt vậy. 

Tiết 125: Túc Thái Dương Lạc tại Cách thọ Dương Nhiệt chuyển Âm Hàn. 
- Sác là mạch của Dương Nhiệt. 
- Đáng lẽ tiêu cốc mà lại mửa là cớ gì? Đây là Thái Dương chủ Khí tại Cách do bởi Hãn mà hư, cho nên Cách Khí hư, mạch bèn Sác. 
- Sác là Khách Khí của Dương Nhiệt, không tiêu cốc được. 
- Dương Nhiệt chuyển Âm Hàn là thọ Bản Hàn truyền Kinh, cho nên trong Vị lạnh mà mửa. 
(Dương Nhiệt đối với Dương Hàn thì ‘Tỳ’, đối với Âm Nhiệt thì là ‘Khách’. Toàn sách lấy Bản Hàn Bản Nhiệt làm chủ). 

Tiết 126: Túc Thái Dương Lạc tại Đái thọ Âm Nhiệt chuyển Dương Hàn 
- Thái Dương Bệnh quá Kinh hơn 10 ngày: Túc Thái Dương Lạc tại Cách đến Đái. 
- Nôn nao muốn mửa, trong ngực đau, đại tiện nát, bụng hơi đầy, uất uất hơi phiền: Đái phần Lạc thọ Âm Nhiệt chuyển Dương Hàn. 
- Trước khi tự ‘cực thổ Hạ’: là chứng Âm Hàn chuyển Dương Hàn. 
- Trước lúc đó là Âm Nhiệt chuyển Dương Nhiệt có thể dùng Điều Vị Thừa Khí thang. 
- Nếu không như thế không thể dùng: vì là Âm Nhiệt chuyển Dương Hàn; chỉ muốn nôn, trong bụng đau, phân hơi nát ấy là chứng của nó, chẳng phải là chứng Sài Hồ của Dương phần Hàn Nhiệt. 
- Vì Âm Nhiệt chuyển Dương Hàn có chứng nôn, cho nên biết Âm Hàn chuyển Dương Hàn tất có chứng cực thổ hạ. 
Tiết 127: Túc Thái Dương Lạc tại Đái thọ Dương Hàn chuyển Âm Nhiệt. 
- 6 - 7 ngày Biểu chứng vẫn còn: Dương Hàn vẫn tại Tấu. 
- Tại Tấu Thiếu Âm thọ Hàn cho nên mạch Vi, Thái Dương tại Tấu cho nên Trầm. 
- Thái Dương Thiếu Âm đồng tại Tấu nên Kết Hung, trái lại không Kết, người bệnh phát cuồng vì Nhiệt tại Hạ tiêu. 
- Bụng dưới nên rắn đầy: do Tấu vào Đái, Thái Dương chuyển Thiếu Âm. 
- Tiểu tiện tự lợi, hạ Huyết thì khỏi: tại Đái Thiếu Âm chuyển Thái Dương. 
- Sở dĩ như thế, (Bàng Quang vì sao Súc Huyết) là vì Túc Thái Dương Lạc tùy Bản Kinh, nhập Lý ứ Nhiệt, Để Đáng thang làm chủ. 

Tiết 128: Túc Thái Dương Lạc thọ Âm Nhiệt truyền Xung Nhâm Kinh
- Mình vàng: Lạc thọ Thiếu Âm Huyết hành ở Ngoại. 
- Mạch Trầm Kết: Lạc thọ Thiếu Âm Huyết Súc ở Nội. 
- Bụng dưới rắn: truyền Xung Nhâm Kinh. 
- Tiểu tiện không lợi: Thủy Kết mà Huyết không Kết. 
- Tiểu tiện tự lợi, người bệnh như cuồng: Thủy không kết mà Huyết Kết. 
- Để Đáng thang làm chủ: Thủy làm cho Huyết Kết nên dùng Bản phương, Huyết làm cho Thủy Kết nên dùng Đào Nhân Thừa Khí thang. 
(Thọ Bản Hàn, tiểu tiện không lợi là Huyết không Kết. Thọ Bản Nhiệt, tiểu tiện tự lợi là Huyết Kết). 

Tiết 129: Túc Thái Dương Lạc thọ Âm Nhiệt truyền Đốc Đái Kinh
- Có Nhiệt bụng dưới đầy: Túc Lạc thọ Bản Nhiệt. 
- Ưng tiểu tiện không lợi, giờ trái lại lợi là có Huyết: Nhiệt Huyết Kết Lạc rồi truyền Đốc Kinh. 
- Cho Hạ không thể ‘dư dược’: không thể quá nhiều, không thể quá ít. 
- Để Đáng Hoàn dùng vừa đủ cho bệnh mà thôi. 
(Huyết Kết Xung Nhâm nên dùng thang, Huyết Kết Đốc Đái nên dùng hoàn. Đấy là pháp vậy). 

Tiết 130: Túc Thái Dương Lạc thọ Dương Hàn truyền các Kỳ Kinh
- Tiểu tiện lợi là thọ Bản Hàn truyền Kinh. 
- Uống nước nhiều tất dưới Tâm Quí: Túc Lạc truyền các Kỳ Kinh. 
- Tiểu tiện ít tất khổ Lý cấp: thọ Hàn truyền tất có Nhiệt chuyển. 

Thêm bình luận


Mã an ninh
Làm tươi

6350698
Hôm nay
Hôm qua
Tháng này
Tháng trước
Tổng số
1224
5000
118600
138003
6350698