Học Tập Thương Hàn Luận Bản Nghĩa - Phần 2



CHƯƠNG 9: 
TÚC THÁI DƯƠNG KHÍ
(7 Tiết, từ 70 đến 76) 
Túc Thái Dương Khí tức Bàng Quang Khí tức Bản Dương Hàn Khí đồng là Âm Hàn Khí với Tiêu Âm Nhiệt Khí tức Thận khí, tức Túc Thiếu Âm Khí. 

Tiết 70: Túc Thái Dương thọ Thái Dương Thiếu Âm Khí. 
- Thái Dương Bệnh: Túc Thái Dương Khí phần bệnh. 
- Sau khi Phát Hãn: Thái Dương Hãn xuất. 
- Mồ hôi ra rất nhiều: Thiếu Âm Hãn cũng xuất. 
- Trong Vị khô, phiền táo không ngủ được: Thái Dương chuyển sang Thiếu Âm. 
- Muốn uống nước, cho in ít một, khiến cho Vị Khí hoà thì khỏi: Trị Thiếu Âm. 
- Nếu mạch Phù, tiểu tiện không lợi: thọ Thiếu Âm Nhiệt Khí. 
- Hơi sốt, tiêu khát: thọ Thái Dương Hàn Khí. 
- Ngũ Linh Tán làm chủ. 

Tiết 71: Túc Thái Dương thọ Thiếu Âm Nhiệt Khí hư. 
- Mạch Phù Sác: Dương Khí hư tức Âm Nhiệt Khí hư. 
- Phiền khát: Âm Nhiệt hư thì Dương Hàn không hoá Khí. 
- Ngũ Linh Tán làm chủ. 

Tiết 72: Túc Thái Dương thọ Hàn Khí thực. 
- Thương Hàn mồ hôi ra rồi mà khát là Dương Hàn Khí không hoá, Ngũ Linh Tán làm chủ. 
- Không khát là thọ Hàn truyền Kinh, Phục Linh Cam Thảo thang làm chủ. 

Tiết 73: Túc Thái Dương thọ Dương Hàn Âm Nhiệt thực. 
- Trúng Phong: thọ Âm Nhiệt. 
- Phát sốt: thọ Dương Hàn. 
- 6 – 7 ngày không giải mà phiền: Hàn Nhiệt cùng thọ. 
- Có chứng Biểu Lý: Biểu Dương Hàn, Lý Âm Nhiệt cùng tại Tấu. 
- Khát muốn uống nước: cớ bởi thọ Âm Nhiệt. 
- Nước vào thì mữa: cớ bởi thọ Dương Hàn. 
- Gọi là Thủy nghịch: Kinh Túc Thái Dương Hàn Thủy mà lại thọ Hàn Khí là nghịch. 
- Ngũ Linh Tán làm chủ. 

Tiết 74: Túc Thái Dương thọ Dương Hàn Âm Nhiệt hư. 
- Chéo tay ấp lên Tim: thọ hư Hàn. 
- 2 tai điếc không nghe: thọ hư Nhiệt. 
- Sở dĩ như thế, Phát Hãn thì Dương Hàn hư, trùng Phát Hãn thì Âm Nhiệt hư cho nên vậy. 


Tiết 75: Túc Thái Dương thọ Dương Hàn truyền Kinh. 
- Sau khi Phát Hãn: Thái Dương Khí hư. 
- Uống nước nhiều tất Suyễn: tại Lý Dương hư thọ Hàn truyền. 
- Dùng nước lạnh tưới dội cũng Suyễn: tại Biểu Dương hư thọ Hàn truyền. 

Tiết 76: Túc Thái Dương thọ Dương Hàn truyền cũng thọ Âm Nhiệt hệ. 
- Sau khi Phát Hãn: Dương Hàn Khí suy ở Thượng. 
- Nước, thuốc không uống vào miệng được: Âm Nhiệt Khí theo cùng ở Thượng. 
- Nếu lại Phát Hãn nữa: Dương Hàn Khí suy ở Nội. 
- Tất Thổ Hạ không dứt: Âm Nhiệt Khí cũng suy ở Nội. 


CHƯƠNG 10
THỦ THÁI DƯƠNG LẠC
(6 Tiết, từ 77 đến 82) 
Thủ Thái Dương Lạc tức Tiểu Trường Lạc, tức Tiêu Dương Hàn Lạc. Lạc tùy theo khí thì khí của Thủ Thái Dương là Dương Nhiệt nên Lạc của nó là Âm Hàn; còn Lạc tùy theo Kinh vì Kinh là Dương Hàn đối giao với Kinh Âm Nhiệt nên Lạc của nó là Trung Đạo của Dương Hàn + Âm Nhiệt. 

Tiết 77: Thủ Thái Dương Lạc thọ Thái Dương Thiếu Âm hư thực. 
- Hư phiền không ngủ được: riêng thọ Thiếu Âm Bản Nhiệt. 
- Nếu nặng thì trăn trở đảo điên, trong Tâm áo não: cùng thọ Thái Dương Bản Hàn. Chi Tử Xị thang làm chủ. 
- Nếu thiểu Khí là Bản Hàn chuyển sang Bản Nhiệt, Chi Tử Cam Thảo Xị thang làm chủ. 
- Nếu nôn là Bản Nhiệt chuyển sang Bản Hàn, Chi Tử Sinh Khương Xị thang làm chủ. 

Tiết 78: Thủ Thái Dương Lạc thọ Dương Hàn Âm Nhiệt tại Cách. 
- Phiền Nhiệt: cùng thọ Hàn Nhiệt. 
- Trong Hung tắc nghẽn: tại Cách, Chi Tử Xị thang làm chủ. 

Tiết 79: Thủ Thái Dương Lạc thọ Dương Hàn Âm Nhiệt tại Biểu tại Lý. 
- Thương Hàn: tại Biểu. 
- 5 – 6 ngày sau khi đại Hạ: tại Lý. 
- Mình nóng không dứt: cùng bệnh tại Biểu. 
- Trong Tâm kết đau: cùng bệnh tại Lý. 
- Chưa muốn giải: Lý chưa giải cho nên Biểu chưa giải. 
- Chi Tử Xị thang làm chủ. 

Tiết 80: Thủ Thái Dương Lạc thọ Dương Hàn Âm Nhiệt tại Tấu. 
- Thương Hàn: tại Biểu. 
- Sau khi Hạ: tại Lý. 
- Tâm phiền bụng đầy, nằm dậy không yên: thọ tại Tấu. 
- Chi Tử Hậu Phát thang làm chủ. 

Tiết 81: Thủ Thái Dương Lạc thọ Dương Hàn truyền Kinh
tất thọ Âm Nhiệt chuyển hệ. 
- Mình nóng không dứt: Dương Hàn truyền Kinh. 
- Hơi phiền: Âm Nhiệt chuyển hệ. 
- Chi Tử Can Khương thang làm chủ. 
Tiết 82: Thủ Thái Dương Lạc không thọ Dương Hàn truyền Kinh, 
Âm Nhiệt chuyển hệ. 
- Người bệnh vốn có chứng đi ngoài phân hơi nát: Thủ Thái Dương Lạc hư. 
- Không thể uống Chi Tử Xị thang: nói phải nên trị chứng hư. 
 

CHƯƠNG 11
TÚC THÁI DƯƠNG KINH
(8 Tiết, từ 83 đến 90) 
Túc Thái Dương Kinh tức Bàng Quang Kinh, tức Bản Dương Hàn Kinh đối giao Bản Âm Nhiệt Kinh tức Tâm Kinh, tức Thủ Thiếu Âm Kinh. 

Tiết 83: Túc Thái Dương Kinh thọ Thái Dương Bản Hàn. 
- Phát Hãn mồ hôi ra không giải: Bản Hàn nhập Kinh. 
- Vẫn phát sốt: Hàn tại Biểu Kinh. 
- Dưới Tâm hồi hộp: Hàn tại Lý Kinh. 
- Đầu váng: Dương Hàn ở trên, Âm Nhiệt theo cùng ở trên. 
- Mình máy giật: Dương Hàn ở ngoài, Âm Nhiệt theo cùng ở ngoài. 
- Rung động muốn ngã xuống đất: Dương Hàn thực mà Âm Nhiệt không còn đất dung thân. 
- Chân Võ thang làm chủ. 

Tiết 84: Túc Thái Dương Kinh thọ Thái Dương Tiêu Dương. 
- Hàn thực ở Kinh mồ hôi ra không giải. 
- Dương thực ở Kinh Yết hầu khô ráo, không thể Phát Hãn. 
Tiết 85: Túc Tam Dương Kinh hư không thể Phát Thái Dương Hãn. 
- Lâm gia: Túc Dương Kinh thủy hư. 
- Phát Thái Dương Hãn thì Kinh thủy kiệt mà Kinh Huyết kế tiếp (tất tiểu tiện ra máu). 

Tiết 86: Túc Tam Âm Kinh hư không thể Phát Thái Dương Hãn. 
- Sang gia tuy mình đau nhức: Túc Âm Kinh Huyết kiệt. 
- Phát Hãn thì Dương thủy kiệt mà Âm Huyết táo, làm bệnh Kỉnh. 

Tiết 87: Thủ Tam Dương Kinh hư không thể Phát Thái Dương Hãn. 
- Nục gia: Thủ Tam Dương Kinh hư. 
- Phát Hãn thì Dương thủy kiệt. 
. Không hành ở Thủ Thiếu Âm Tâm Kinh thì trên trán lõm xuống. 
. Không hành ở Thủ Thái Âm Phế Kinh thì mạch Khẩn cấp. 
. Không hành ở Thủ Khuyết Âm Tâm Bào Lạc thì mắt trực thị không đảo được tròng, không ngủ được. 

Tiết 88: Thủ Tam Âm Kinh hư không thể Phát Thái Dương Hãn. 
- Vong Huyết gia: Thủ Tam Âm Kinh Huyết vong. 
- Phát Hãn thì Dương Khí hư mà Âm Huyết Hàn cho nên rét run lẩy bẩy. 

Tiết 89: Túc Thái Dương Kinh thọ Thiếu Âm Bản Nhiệt. 
- Dương Hàn thủy được Âm Nhiệt Khí làm thành Hãn, gọi là Hãn gia. 
- Người vốn hay đổ mồ hôi, lại Phát Hãn nữa thì Thái Dương ‘Hãn’, Thiếu Âm cũng ‘Hãn’. 
- Hoảng hốt Tâm loạn: Thiếu Âm tại Hạ mà lên Thượng. 
- Tiểu tiện rồi âm vật đau buốt: Thái Dương tại Ngoại mà vào Nội. Đều do Phát Hãn quá nhiều mà ra. 
- Dùng Võ Dư Lương Hoàn là để chỉ Hãn vậy. 

Tiết 90: Túc Thái Dương thọ Thiếu Âm Tiêu Âm. 
- Người bệnh có Hàn: Hàn Kinh thọ Hàn Khí. 
- Lại Phát Hãn, trong Vị lạnh tất thổ Vưu trùng: Hãn thì Dương càng hư thì Hàn thậm, tất vị lạnh thổ Vưu trùng. 


CHƯƠNG 12
THƯƠNG HÀN TRỊ PHÁP
(6 Tiết, từ 91 đến 96) 
Mỗi Kinh có 3 thành phần là Khí – Kinh – Lạc, Bộ Vị tại Biểu cũng có 3 là Bì phần – Tấu phần – Nhục phần; Điều này cho thấy Đức Trọng Cảnh luận bệnh rất chu đáo và Cụ Lưu Thủy tâm đắc được cũng tuyệt vời không thể nghĩ bàn. 

Tiết 91: Khí phần Trị pháp. 
- Bản Hàn Khí tại Ngoại, nên trước Hãn mà trái lại Hạ, đấy là nghịch: Hàn Khí tại Ngoại (Biểu) mà trái lại trị Nội (Lý) cho nên vậy. 
- Nếu Phát Hãn trước là trị không nghịch: Hàn Khí tại Ngoại phải nên trị Ngoại trước. Có thể thấy Hàn Khí tại Nội phải nên trị Nội trước. 
- Bản Nhiệt Khí chủ Nội, nên trước Hạ mà trái lại Hãn là nghịch; nếu Hạ trước là không nghịch: Nhiệt Khí tại Nội, nên trước Hạ. Có thể thấy Nhiệt Khí tại Ngoại phải nên trước Phát Hãn. 


Tiết 92: Kinh phần Trị pháp. 
- Thương Hàn thầy thuốc cho Hạ rồi tiếp tục hạ lợi phân sống không dứt: Dương Kinh 
vào Lý chuyển sang Âm Kinh. 
- Mình đau nhức: Âm Kinh ra Biểu chuyển sang Dương Kinh. 
- Gấp nên cứu Lý: Lý Kinh tức là chỗ nhập (vào) của Biểu Kinh. 
- Sau, mình còn đau nhức, đại tiểu tiện tự điều hoà, gấp nên cứu Biểu: Biểu Kinh tức là chỗ xuất (ra) của Lý Kinh. 
- Nói Biểu Lý chỉ Nhất Kinh, riêng là Âm là Dương thì có phân biệt vậy. 
- Cứu Lý nên dùng Tứ Nghịch thang: Trị tại Lý Thiếu Âm tức trị chỗ nhập của Thái Dương. 
- Cứu Biểu nên dùng Quế Chi thang: Trị tại Biểu Thái Dương tức trị chỗ xuất của Thiếu Âm. 

Tiết 93: Lạc phần Trị pháp. 
- Bệnh phát sốt đầu đau: Dương Kinh bệnh tại Biểu, cũng là Dương Lạc bệnh tại Biểu. 
- Mạch trái lại Trầm: Âm Kinh mạch tại Lý, cũng là Âm Lạc mạch tại Lý; nói trị Lạc phải nên tùy theo Kinh. 
- Nếu không bớt: không biết phép trị Lạc. 
- Mình mẩy đau nhức: tại Biểu Âm Dương Lạc bệnh. 
- Cần phải cứu Lý, nên dùng Tứ Nghịch thang: trị tại Lý Âm Dương Kinh. Sở dĩ như thế, vì Hàn Kinh từ Biểu vào Lý, Nhiệt Kinh từ Lý ra Biểu. Chia nhánh đi ngang nối liền Âm Dương Biểu Lý là Lạc. Biệt của Lạc là Tôn Lạc đều thấy ở ngoài. Đây, trị ‘Ngoại Lạc’ tất do ‘ Nội Kinh’, trị Lạc tất do Hàn khí, Thương Hàn Trị Pháp vậy. 

Tiết 94: Bì phần Trị pháp. 
- Thái Dương Bệnh trước cho Hạ mà không khỏi: bởi vì Thái Dương tại Biểu nên Hãn trước, không nên Hạ trước. 
- Nhân lại Phát Hãn: Thái Dương nên ‘Hãn trước’, không nên Hạ trước rồi lại Hãn. 
- Thất trị ở Hãn, lại thất trị ở Hạ vì thế Biểu Lý đều hư. 
- Người bệnh do đó sinh chứng Mạo: Thiếu Âm tại Biểu ‘Mạo’ làm Thái Dương gọi là ‘Mạo gia’. 
- Ra mồ hôi tự khỏi: hoà Thái Dương Thiếu Âm tại Biểu. 
- Nếu Lý chưa hoà thì sau lại cho Hạ: hoà Thái Dương Thiếu Âm tại Lý. 

Tiết 95: Tấu phần Trị pháp. 
- Thái Dương Bệnh chưa giải: tại Tấu chưa giải. 
- Mạch Âm Dương ‘Câu đình’: nhất thiết mạch ‘Câu đình’ tại Tấu – Định lệ vậy! 
- Tất trước run cầm cập Kinh Lạc của nó rồi sau đổ mồ hôi mà giải; nhất thiết Kinh Lạc đều tập trung tại Tấu – Định lệ vậy! 
- Chỉ Dương Mạch Vi là Dương Nhiệt Mạch Vi thì Dương Hàn thực. 
- Trước cho ra mồ hôi mà giải: Dương Hàn nên Hãn trước. 
- Chỉ Âm Mạch Vi: là Âm Hàn Mạch Vi thì Âm Nhiệt thực. 
- Cho Hạ mà giải: không nói ‘trước’ là vì Âm Nhiệt tại Biểu có ‘Hãn trước’; nhất thiết Âm Dương đều hội ở Tấu – Định lệ vậy! 
- Nếu muốn Hạ, nên dùng Điều Vị Thừa Khí thang cho Hạ: nhất thiết trị Tấu phần Nhiệt Khí nên dùng Bản phương – Định lệ vậy! 

Tiết 96: Nhục phần Trị pháp. 
- Thái Dương Bệnh phát sốt: đấy là Vệ cường. 
- Đổ mồ hôi: đấy là Vinh nhược. 
- Chỉ vì Vệ cường phát sốt, cho nên Vinh nhược mồ hôi ra. Âm Dương tương ứng làm nên vậy. 
- Muốn cứu Tà Phong: tại Nhục phần Phong bị Hàn truyền cho nên gọi Tà. 
- Nên dùng Quế Chi thang. 

Thêm bình luận


Mã an ninh
Làm tươi

6326342
Hôm nay
Hôm qua
Tháng này
Tháng trước
Tổng số
1922
7522
94244
138003
6326342