Học Tập Thương Hàn Luận Bản Nghĩa - Phần 2

HỌC TẬP THƯƠNG HÀN LUẬN BẢN NGHĨA

TẬP 1

Từ lúc tiếp nhận được các di cảo của Cụ Lưu Thủy đến khi đúc kết được cuốn Đông Y với truyền thống Đạo Học Khí Hoá, tư tưởng của tôi đã trải qua 3 giai đoạn: 

- Hớn hở: Tôi mừng rở như vừa gặp một Kỳ nhân và được trao một bí kiếp về Đông Y, tôi chan chứa hy vọng trên bước đường học tập.

- Chán nản: Sau một thời gian dài đọc các di cảo, tôi vẫn thấy chưa hiểu nỗi, tôi gần như mất dần lòng tin đối với các tác phẩm này. 

- Kiên trì: Tôi chợt tỉnh thức, không thể nóng vội, không thể dùng trí thức và lòng dạ hẹp hòi của mình để tiếp thu một tác phẩm giá trị to lớn như vậy; Tôi phải kiên trì học hỏi nâng cao trình độ của mình.


Tôi đã dốc sức học tập Kinh Dịch để rồi kiên trì hơn trong học tập Thương Hàn Luận Bản Nghĩa và đã thu hoạch được một vài nét nhìn như tôi đã trình bày. Tôi ghi lại đôi nét học tập của mình để chia sẻ với những thế hệ sau tôi, không nên xem là chú giải vì nó chưa được chọn lọc, cũng đừng xem nó như một giáo trình vì nó chưa đủ tính sư phạm. Nó chỉ là việc làm cố sức của một người đang mong đợi các thế hệ tương lai.

Nếu thấy vài điều học tập được ghi lại có khác với Bản Nghĩa xin đừng vội cố chấp. Tôi, lúc nào tôi cũng nhớ đến ân ích khai thị của Cụ, vâng lời, tiếp nối và làm cho trong sáng hơn các di cảo của Cụ mà thôi. 

Trong học tập Bản Nghĩa đối chiếu với Nguyên Văn, Kinh Dịch, Phật Pháp, tôi thấy được một lý do làm cho các thế hệ sau đến nay chưa hiểu được nội dung của Thương Hàn Luận là tính cố chấp. Ai cũng biết Âm Dương, Hàn Nhiệt là tương đối nhưng cũng đều không chịu biết Sinh Lý cũng như Bệnh Lý là tình trạng chuyển hoá, đắp đổi giữa hai cực này; Và Đạo Tam Cực gọi sự chuyển hoá đắp đổi này là Trung Đạo; Cũng như Phật Pháp chú trọng Trung Đạo giữa hai cực Nhân Quả là Duyên (Nhân – Duyên – Quả). Bệnh Lý cũng Tùy Duyên mà có, do thọ Hàn truyền hoặc thọ Nhiệt chuyển hoặc cùng thọ. 

Khi làm sách Thương Hàn, Đức Trọng Cảnh cũng rất chính danh. Ví dụ: 

- Thái Dương Bệnh: Gọi chung các bệnh tại Thái Dương. 

- Thương Hàn: Dùng một tên bệnh của Thái Dương Bản Hàn để gọi mọi bệnh do Hàn truyền. 

- Trúng Phong: Dùng một tên bệnh của Thái Dương Tiêu Dương để gọi mọi bệnh do Nhiệt chuyển. 


THIÊN 1: 
THÁI DƯƠNG THƯỢNG
(6 Chương, 41 Tiết) 
Trường hợp làm sách chú giải đầy đủ thì mỗi Tiết đều được trình bày 3 phần: 
- Nguyên Văn: Ghi chữ Hán, dưới mỗi chữ có Âm tiếng Hán Việt. 
- Dịch Nghĩa: dịch gọn nghĩa tiếng Việt đúng theo Nguyên Văn Hán Việt kể trên. 
- Chú Giải: Xác thực, thích hợp với từng phân đoạn tại Nguyên Văn. 
Nhằm giản lược, tôi không ghi lại Nguyên Văn và Dịch nghĩa vì các sách đã có. Chỉ ghi lại các Chương Tiết và các phân đoạn của Tiết đã được Bản Nghĩa Chú Giải mà thôi. 

CHƯƠNG 1: 
THÁI DƯƠNG THỂ LỆ
(11 Tiết, từ 1 đến 11) 
Lý do Luận Kinh trước hết đã nói nơi ý nghĩa tên sách, đây chỉ bàn đến Thể Lệ. Người xưa làm sách thường trước hết trình bày Thể Lệ vì Thể Lệ cũng chính là nguyên tắc không thể tách rời Nội dung của sách. Bản Nghĩa nói Thể Lệ của Thái Dương cũng là Thể Lệ của toàn sách, một sách Bệnh Lý học được kế thừa từ Kinh Dịch có Nội dung không ra ngoài cơ cấu mà Kinh Dịch đã dùng với những quan điểm:
- Toàn thể sự vật là một Thái cực, Thái cực thị sinh Lưỡng Nghi là sự vật đã chia ra Âm Dương, rồi Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng ….. v.. v…… . 
- Sự vật biến dịch trong môi trường không rời 2 dữ kiện Thời và Vị. 
- Sự vật biến dịch theo Đạo Tam Cực gồm cả 2 quy luật Âm Dương thống nhất và Âm Dương đối lập. 

Tiết 1- Thái Dương Bệnh mạch chứng tổng quát. 
- Thái Dương Chi Vi Bệnh: Thái Dương không nói Khí- Kinh- Lạc tức là chỉ nói tổng quát bệnh của Kinh này. Chi Vi Bản Nghĩa chú là Thái Dương Chi Kinh Khí Vi Bệnh nghĩa là Kinh Khí của Thái Dương làm bệnh. Kinh- Khí-Lạc là 3 thành phần cốt lõi của Kinh, Khí lưu động Làm bệnh, Kinh cố định chỉ Thọ bệnh, Lạc quan hệ Âm Dương Hàn Nhiệt là đầu mối Truyền - Chuyển bệnh. Nên hiểu Chi Vi với nghĩa rộng hơn là hai mặt Âm Dương của một sự vật, cụ thể ở đây là Hàn Nhiệt, Tiêu Bản. 
- Mạch Phù: Chứng của Lạc, mạch máu từ Lý ra Biểu. Thái Dương chủ Biểu cho nên mạch bệnh của Thái Dương tại Biểu là Phù. 
- Đầu gáy cứng đau: Chứng của Kinh, Kinh Thái Dương đi qua đầu gáy, Kinh bệnh nên đầu gáy cứng đau. 
- Mà sợ lạnh: Chứng của Khí, Kinh Thái Dương hành Hàn Khí nên người bệnh sợ lạnh. 
(Thấy những lời kể trên khác với Bản Nghĩa vì người học có trình độ không thể hiểu đến chỗ thấy của tác giả nên tạm thời hiểu trước như vậy rồi từ từ vươn lên). 

Tiết 2- Thái Dương Tiêu Dương làm Trúng Phong. 
- Thái Dương bệnh: Gọi là Thái Dương bệnh vì có đủ mạch chứng tổng quát như đã nêu ở Tiết 1. 
- Phát nóng: Thái Dương Tiêu Khí. 
- Đổ mồ hôi: Thái Dương Bản Khí. 
- Sợ gió: Tiêu Bản cùng bệnh. 
- Mạch Hoãn: Vệ Khí tại Nhục phần bị Phong cản trở. 
- Gọi là Trúng Phong: Chỉ bệnh Thái Dương Trúng Phong tại Nhục phần. Tiêu Khí là Dương Nhiệt, Bản Khí là Âm Hàn. Trung cũng như Kinh là Bộ Vị giữa Âm Dương, Phong là Hoà Khí giữa Hàn Nhiệt. Khi Sinh Lý thì nói Trung Phong, khi Bệnh Lý thì nói Trúng Phong, chỉ thêm một dấu sắc mà Sinh Lý được đổi thành Bệnh Lý thật giản dị mà có ý nghĩa vô cùng. 

Tiết 3: Thái Dương Bản Hàn làm Thương Hàn. 
- Thái Dương bệnh: như tiết trên. 
- Hoặc đã phát nóng: bệnh tại Kinh. 
- Hoặc chưa phát nóng: bệnh tại Bản Hàn. 
- Tất sợ lạnh: Hàn Khí chủ Bì phần. 
- Mình đau: Khí bệnh, Kinh cũng bệnh. 
- Ói ngược: Phong trước Hàn sau là nghịch (trái với Hàn trước Phong sau là thuận, bệnh tại Bì Phu do Hàn mà ói nên gọi là ói ngược). 
- Mạch Âm Dương đều Khẩn: trước bộ Quan là Dương, sau bộ Quan là Âm, gọi Dương Hàn che lấp Âm Nhiệt, ba bộ mạch đều Khẩn. 
- Gọi là Thương Hàn: chỉ bệnh Thái Dương Thương Hàn tại Bì phần. 
(Thương Hàn là tên bệnh chủ đề của sách. Thái Dương là Kinh Dương Hàn, Thái Dương chủ Vệ Khí, Dương Vệ bị Hàn Khí làm bị thương nên giản dị gọi là Thương Hàn). 

Tiết 4: Thương Hàn truyền các Âm Kinh làm Hàn Thấp, Phong Thấp. 
- Thương Hàn một ngày Thái Dương mắc phải: ngày mắc bệnh đầu tiên là ngày Thái Dương thọ chịu. 
- Mạch như yên tĩnh là không truyền: không truyền là chỉ bệnh tại Thái Dương Kinh. Biết truyền hay không truyền bằng cách xem xét mạch. 
- Hơi muốn mửa: Thương Hàn truyền Âm Hàn Kinh làm Hàn Thấp. 
- Nếu như Táo phiền: Thương Hàn truyền Tiêu Âm Nhiệt Kinh làm Phong Thấp. 
- Mạch Sác cấp: chứng của Lạc, chỉ bệnh truyền đến Tiêu Âm Nhiệt Kinh. 

Tiết 5: Thương Hàn không truyền các Dương Kinh. 
- Thương Hàn hai ba ngày, chứng Dương Minh Thiếu Dương không thấy là không truyền: Nói Thái Dương thọ Thương Hàn, không truyền các Dương Kinh. Biết truyền hoặc không truyền bằng cách xem xét chứng. 
Tiết 6: Thái Dương Tiêu Dương truyền Kinh làm Ôn bệnh, Phong Ôn. 
- Thái Dương bệnh: Thái Dương Tiêu Dương bệnh. 
- Phát nóng mà khát: Thái Dương Tiêu Khí bệnh tại Tấu phần. 
- Không sợ lạnh: tại Tấu phần Nhiệt Khí làm chủ. 
- Gọi là Ôn bệnh: tại Tấu Bán Biểu phần, Dương Nhiệt Kinh thọ Dương Hàn truyền. 
- Phát Hãn rồi mình nóng như đốt: Dương Hàn lui, Dương Nhiệt thọ Âm Nhiệt. 
- Gọi là Phong Ôn: tại Tấu Bán Lý phần, Dương Nhiệt thọ Dương Hàn truyền, đồng thọ Âm Nhiệt chuyển. 
- Phong Ôn làm nên bệnh: nói chứng Phong Ôn tại Biểu. 
- Mạch Âm Dương đều Phù: Thái Dương Bản Hàn, Thiếu Âm Bản Nhiệt đều bệnh tại Biểu. 
- Tự đổ mồ hôi: Bản Hàn hiệp với Thiếu Âm Tiêu Khí. 
- Mình nặng nề: Tiêu Dương hiệp với Thiếu Âm Bản Khí. 
- Ngủ nhiều: cớ bởi Bản Hàn truyền nhập Bản Nhiệt. 
- Thở khò khè như ngáy, nói năng khó ra lời: cớ bởi Bản Nhiệt chuyển nhập Bản Hàn. 
- Nếu bị (lầm) cho Hạ: nói Phong Ôn tại Lý. 
- Tiểu tiện không lợi: Bản Hàn Bản Nhiệt cùng nhập Lý. 
- Mắt trực thị: Bản Nhiệt bệnh. 
- Đái són (tiểu tiện không tự chủ): Bản Hàn bệnh. 
- Nếu bị (lầm) dùng lửa: nói Phong Ôn tại Tấu. 
- Nhẹ thì mình phát sắc vàng: từ Bán Biểu đi ra Bì Nhục. 
- Nặng thì như Kinh Giản, có lúc co giật: từ Bán Lý nhập vào gân cốt. 
- Nếu dùng lửa để xông: nói tại Tấu Bản Hàn bị Bản Nhiệt Hoá. 
- Nghịch lần đầu còn có thể kéo dài ngày: thọ hoá tại Tấu. 
- Nghịch lần nữa thì nguy đến tính mạng: thọ hoá tại Cách tại Đái. 

Tiết 7: Số ngày truyền Kinh. 
- Phát nóng sợ lạnh: Tam Dương bệnh. 
- Không nóng sợ lạnh: Tam Âm bệnh. 
- Phát ở Dương 7 ngày khỏi: 6 Kinh hành tại Biểu là 6 ngày. Phát ở Dương thì giải ở Biểu. Giải tại Biểu thì phải mất thêm 1 ngày trở lại Thái Dương (6+1= 7) cho nên phát ở Dương 7 ngày khỏi. 
- Phát ở Âm 6 ngày khỏi: 6 Kinh hành tại Lý là 6 ngày. Phát ở Âm thì giải ở Lý. Giải ở Lý không cần trở lại Thái Dương nên chỉ 6 ngày là khỏi. 

Tiết 8: Dương Kinh bệnh từ Tấu đến Biểu. 
- Thái Dương bệnh đầu đau đến 7 ngày trở lên tự khỏi: vì 7 ngày là số ngày của Dương Kinh giải tại Biểu. 
- Nếu muốn làm ‘Tái Kinh’: nói Thái Dương bệnh Tái Kinh là muốn nhập Lý. 
- Châm Túc Dương Minh Kinh (Túc Tam Lý huyệt) khiến cho không truyền nhập Lý thì khỏi. 

Tiết 9: Thái Dương hành Kinh Vượng thời. 
- Thái Dương bệnh lúc muốn giải, theo từ giờ Tỵ đến giờ Mùi: Bệnh ở Thái Dương giải theo giờ Vượng hành Kinh của nó từ giờ Tỵ đến giờ Mùi, tức là giờ Ngọ. 

Tiết 10: Âm Kinh bệnh từ Tấu đến Lý. 
- Phong gia: nói Âm Kinh bệnh tại Lý. 
- Biểu giải rồi nhưng chưa được khoan khoái: Biểu giải mà Lý chưa giải. 
- 12 ngày khỏi: chỉ nói số ngày Âm Kinh giải tại Lý. 

Tiết 11: Âm Dương Hàn Nhiệt Kinh tập trung tại Tấu. 
- Mình nóng dữ: Nhiệt tại Bì Phu (thuộc Tấu Biểu). 
- Lại muốn được mặc áo: Hàn tại Tấu. 
- Nhiệt tại Bì phu: Dương Nhiệt hiệp Âm Nhiệt từ Tấu đến Biểu. 
- Hàn tại Cốt Tủy: Dương Hàn, Âm Hàn vẫn tập trung tại Tấu. 
- Mình lạnh dữ: Hàn tại Bì Phu (thuộc Tấu Biểu). 
- Lại không muốn mặc áo: Nhiệt tại Tấu. 
- Hàn tại Bì Phu: Dương Hàn hiệp Âm Hàn tại Tấu đến Biểu. 
- Nhiệt tại Cốt Tủy: Dương Nhiệt, Âm Nhiệt vẫn tập trung tại Tấu. 
(Bản Nghĩa giải Hàn Nhiệt tại Cốt Tủy là từ Tấu đến Lý; điều này không thấy Nguyên Văn nói đến các triệu chứng của Lý như ói ỉa. Đành rằng Tấu là Bộ Vị màn lưới Kinh Lạc trải suốt Biểu Lý nhưng trong phạm vi của Chương Tiết, Nguyên Văn chỉ đề cập đến Cốt Tủy là Tấu nơi tập trung của Kinh Lạc nên đổi lại là tại Tấu cho dễ tiếp thu). 




CHƯƠNG 2: 
THÁI DƯƠNG TRÚNG PHONG TẠI NHỤC PHẦN
(6 Tiết, từ 12 đến 17) 
Trúng Phong là bệnh của Thái Dương Tiêu Dương, Kinh Thái Dương có Bản là Hàn, có Tiêu là Nhiệt, Hàn làm bệnh tại Tiêu là Phong (Hàn + Nhiệt); Khí Hoá làm bệnh tại 1 Kinh nơi Trung Khí của Tiêu Bản là vậy. Cơ Nhục cũng là Bộ Vị ở giữa Bì Phu và Tấu cho nên bệnh Thái Dương Trúng Phong tại Cơ Nhục là tương hợp giữa Khí Hoá và Bộ Vị nơi thân người. 

Tiết 12: Thái Dương Trúng Phong tại Nhục phần. 
- Thái Dương Trúng Phong: Trúng Phong Thương Hàn đều là Thái Dương Bệnh. Đây không nói “bệnh”, cho đến các Kinh Trúng Phong đều không nói bệnh để ưu tiên chỉ nói bệnh do Hàn truyền. 
- Dương Phù mà Âm Nhược: đây là Mạch của Thái Dương Trúng Phong Hàn loại khác với Mạch Phù Khẩn của Trúng Phong Nhiệt loại. 
- Dương Phù thì Nhiệt tự phát, Âm Nhược thì Hạn tự ra: Trúng Phong tại Nhục phần. 
- Gây gây ghét lạnh: chứng thuộc Thái Dương, Thái Âm. 
- Rờn rợn ghét gió: chứng thuộc Dương Minh, Khuyết Âm. 
- Hâm hấp phát Nhiệt: chứng thuộc Thiếu Dương, Thiếu Âm. 
- Mũi kêu: chứng thuộc các Kinh Dương. 
- Nôn khan: chứng thuộc các Kinh Âm. 
- Quế Chi thang làm chủ: trị nhất thiết các Kinh Trúng Phong thuộc Hàn loại tại Nhục phần. 

Tiết 13: Tại Nhục phần Thái Dương Kinh Khí Trúng Phong. 
- Đầu đau: Thái Dương Kinh. 
- Phát nóng đổ mồ hôi: Thái Dương Khí. 
- Ghét gió: tại Nhục phần. 
- Quế Chi thang làm chủ: trị Thái Dương Kinh Khí Trúng Phong. 

Tiết 14: Tại Nhục phần Thái Dương Kinh Lạc Trúng Phong. 
- Gáy, Lưng cứng đơ: Gáy Lưng đều là Kinh, chỗ liền nhau là Lạc; cứng đơ ở chỗ Kinh Lạc giao liên. 
- Trái lại đổ mồ hôi ghét gió: bệnh tại Kinh Lạc trái lại mồ hôi do Khí phần mà xuất ra. 
- Quế Chi gia Cát Căn thang làm chủ: trị Thái Dương Kinh Lạc Trúng Phong. 

Tiết 15: Tại Nhục phần Âm Hàn Khí Trúng Phong. 
- Thái Dương bệnh sau khi Hạ mà Khí xung lên: Hàn Khí vẫn tại Ngoại. 
- Nên cho uống Quế Chi thang, phép dùng uống như trước: thuộc Thái Dương. 
- Nếu không xung lên không thể dùng: Hàn Khí tại Nội, thuộc Thái Âm Khuyết Âm. 

Tiết 16: Dương Hàn Trúng Phong khác với Dương Nhiệt Trúng Phong. 
- Thái Dương bệnh: Thái Dương Tiêu Khí thọ bệnh. 
- 3 ngày: ngày 3 Dương hành Kinh. 
- Đã Phát hãn, nếu Thổ, nếu Hạ, nếu Ôn châm: phàm thuộc Dương Hàn Kinh Khí đã trị. 
- Vẫn không giải, đấy là hoại bệnh: chẳng phải Bản Dương Hàn bệnh mà là Tiêu Dương Nhiệt bệnh, Bản Dương Hàn bị Tiêu Dương Nhiệt làm Hoại, gọi là Hoại bệnh. 
- Dùng Quế Chi thang không trúng: bệnh tại Tiêu Khí tức Dương Nhiệt Khí cho nên vậy. 
- Xem mạch chứng, biết phạm vào nghịch nào, hoặc nghịch do Bản Hàn truyền, hoặc nghịch do Tiêu Nhiệt tự bệnh, hoặc nghịch do Bản Nhiệt chuyển, tùy chứng mà chữa. 

Tiết 17: Thái Dương Trúng Phong khác với Thiếu Âm Trúng Phong. 
- Quế chi (thang) vốn là giải chứng Thái Dương tại Nhục phần. 
- Nếu người bệnh mạch Phù Khẩn là mạch Thái Dương chuyển Thiếu Âm. 
- Phát nóng mồ hôi không ra: chứng Thái Dương chuyển Thiếu Âm. 
- Không thể cho uống: vì đã chuyển Thiếu Âm (làm Thiếu Âm Trúng Phong tại Bì phần). 
- Phải nên biết như thế, chớ để lầm: Cần phân biệt Hàn Nhiệt. Thái Dương Bản Hàn với Thiếu Âm Tiêu Âm đồng Khí Âm Hàn. Thái Dương Tiêu Dương với Thiếu Âm Bản Nhiệt đồng Khí Dương Nhiệt. 


CHƯƠNG 3: 
TRÚNG PHONG THƯƠNG HÀN TRUYỀN KINH
(6 Tiết, từ 18 đến 23) 
Trúng Phong Thương Hàn là bệnh tại Kinh Thái Dương được Kinh này Truyền và các Kinh còn lại đều Thọ chịu. Tấu là đường Truyền Chuyển Sinh Bệnh lý nơi thân người, luận bệnh Truyền Chuyển tại Biểu không thể bỏ qua Nhục phần là Bộ Vị giữa Bì Tấu, luận bệnh Truyền Chuyển tại Lý cũng không thể bỏ xót Trung phần giữa 2 Bộ Vị Thượng Hạ. Nơi các Chương 3 - 4 – 5 Bản Nghĩa đều có nói tại Nhục phần là đều không thể phủ nhận nhưng lại khó hiểu đối với người cố chấp và mới học, nên xin phép được Tùy Duyên lược giản. Các Chương này chứng tỏ Thái Dương Bệnh là Truyền Kinh Bệnh. 

Tiết 18: Dương Nhiệt Kinh Trúng Phong. 
- Tửu khách bệnh không thể dùng Quế Chi thang: Dương Minh Nhiệt Kinh hành Nhiệt Khí, nên lấy làm tỉ dụ. 
- Uống thang vào thì nôn ói: Thiếu Dương Kinh cũng hành Nhiệt Thủy. 
- Bởi vì người nghiện rượu không ưa của ngọt: Đồng là Dương Nhiệt Thủy Kinh cho nên đồng không ưa Quế Chi thang cam ôn. 

Tiết 19: Âm Hàn Kinh Trúng Phong. 
- Suyễn: Dương Hàn. 
- Suyễn gia: Âm Hàn là Bản Khí của Dương Hàn nên được gọi là ‘gia’. 
- Dùng thang Quế Chi gia Hậu Phát Hạnh Nhân: Trị Âm Hàn Khí Suyễn. 

Tiết 20: Âm Nhiệt Kinh Trúng Phong. 
- Phàm uống thang Quế Chi mà mửa: vì dùng Quế Chi thang ngộ trị Âm Nhiệt. 
- Kỳ hậu (về sau) tất mửa ra mủ máu: vì dùng Quế Chi thang ngộ trị Âm Nhiệt Kinh (Kinh tại Khí chi hậu cho nên nói Kỳ hậu). 

Tiết 21: Thương Hàn truyền Tam Âm Kinh. 
- Thái Dương bệnh, Phát hãn rồi mồ hôi ra không ngừng: Thái Dương Hàn Khí truyền Tam Âm. 
- Sợ gió: tại Nhục phần. 
- Đi đái khó: truyền Âm Nhiệt Kinh. 
- Tay chân hơi căng cứng, khó co duỗi: truyền Âm Hàn Kinh. 
- Quế Chi gia Phụ Tử thang làm chủ. 

Tiết 22: Thái Dương Thương Hàn truyền Thủ Túc Tam Âm. 
- Mạch Xúc hung đầy: Truyền Thủ Tam Âm. 
. Quế Chi khứ Bạch Thược thang làm chủ. 
- Hơi sợ lạnh: Truyền Túc Tam Âm. 
. Quế Chi khứ Bạch Thược gia Phụ Tử thang làm chủ. 

Tiết 23: Thái Dương Thương Hàn truyền Thủ Túc Tam Dương. 
- Mắc phải 8 – 9 ngày: bệnh Tái Kinh. 
- Như trạng sốt rét: tại Biểu muốn nhập Tấu phần. 
- Phát sốt sợ lạnh: chứng Thái Dương. 
- Nóng nhiều lạnh ít: chứng Dương Minh Thiếu Dương. 
- Người bệnh không nôn: Thiếu Dương không nhập Lý. 
- Đại tiện như thường: Dương MInh không nhập Lý. 
- Một ngày phát 2 - 3 lần, mạch Vi Hoãn: các Dương Kinh vẫn tại Dương phần muốn tùy theo giờ Vượng ra ngoài rồi giải. 
- Mạch Vi mà sợ lạnh: đó là tại Nhục phần Âm Dương đều hư không thể lại Hạn, Thổ, Hạ nữa. 
- Sắc mặt trái lại có sắc Nhiệt: Bản Hàn truyền Thủ Dương Kinh muốn giải mà chưa giải. 
- Không ra được chút ít mồ hôi cho nên mình tất ngứa: Bản Hàn truyền Túc Dương Kinh không ra được chút ít mồ hôi để giải. 
- Nên dùng Quế Chi Ma Hoàng Các Bán thang: chỉ phát hạn của Dương Kinh nên nói tiểu (chút ít), có Dương Nhiệt tại Nội nên nói nghi (nên dùng). Bệnh muốn giải từ Nhục ra Bì nên dùng cả 2 phương Quế Chi, Ma Hoàng mỗi thứ một nữa. 

CHƯƠNG 4: 
THƯƠNG HÀN LOẠI VÀ TRÚNG PHONG LOẠI
(7 Tiết, từ 24 đến 30 ) 
Bản Nghĩa chỉ nói Thương Hàn Loại là Đạo thống nhất, lý này người học khó theo kịp; Xin nói thêm Trúng Phong Loại (Nhiệt loại) theo Nghĩa đối lập với Thương Hàn Loại (Hàn loại). 
Tiết 24: Thái Dương Bản Khí, Tiêu Khí cùng bệnh. 
- Thái Dương bệnh: Thái Dương Tiêu Bản làm bệnh. 
- Mới đầu uống Quế Chi thang: Trị Bản Khí. 
- Trái lại phiền không giải: có Tiêu Khí tại Nội. 
- Trước Châm Phong Trì, Phong Phủ: trước trị Tiêu Khí. 
- Rồi lại dùng thang Quế Chi thì khỏi: rồi sau trị Bản Hàn. 

Tiết 25: Bản Hàn truyền làm Hàn Thấp, Phong Thấp. 
- Uống Quế Chi thang: trị Bản Hàn. 
- Ra nhiều mồ hôi: Hàn truyền Âm Kinh. 
- Mạch Hồng Đại: Tiêu Dương đi theo Bản Hàn. 
- Dùng thang Quế Chi như phép trước: trị Bản Hàn truyền làm Hàn Thấp. 
- Hình như sốt rét, ngày phát 2 lần: Hàn Thấp chuyển làm Phong Thấp. 
- Ra mồ hôi tất giải: bởi tại Nhục phần. 
- Nên dùng Quế Chi Nhị Ma Hoàng Nhất thang: giải từ Nhục ra Bì. 

Tiết 26: Tiêu Dương lìa Bản Hàn làm Nhiệt bệnh. 
- Uống Quế Chi thang: trị Bản Hàn. 
- Sau khi ra nhiều mồ hôi: Bản Hàn đi. 
- Bứt rứt khát nước lắm, không giải, mạch Hồng Đại: Tiêu Dương theo Bản Nhiệt. 
- Bạch Hổ gia Nhân Sâm thang làm chủ. 

Tiết 27: Dương Nhiệt thọ Dương Hàn làm Ôn bệnh. 
- Phát nóng sợ lạnh: Thái Dương bệnh. 
- Nóng nhiều lạnh ít: Chứng Tiêu Dương lìa bỏ Bản Hàn. 
- Mạch Vi Nhược, đấy là ‘không có Dương’: Dương Hàn truyền Dương Nhiệt làm Ôn bệnh. Không còn bệnh tại Dương Hàn nên gọi là Vô Dương. 
- Không thể Phát hãn: bởi không có Dương Hàn. 
- Nên dùng Quế Chi Nhị Việt Tỳ Nhất thang: Phải Việt (vượt) hạn của Dương Nhiệt. Dương Hàn là chủ, Dương Nhiệt là Tỳ. Giải Dương Nhiệt từ Tấu đến Nhục. 

Tiết 28: Dương Nhiệt thọ Dương Hàn - Âm Nhiệt làm Phong Ôn. 
- Uống Quế Chi thang: trị Bản Dương Hàn. 
- Hoặc dùng phép Hạ: trị Tiêu Dương Nhiệt. 
- Nhưng đầu gáy vẫn cứng đau: thọ Dương Hàn truyền Kinh. 
- Hâm hấp phát sốt, không mồ hôi: thọ Âm Nhiệt. 
- Dưới Tâm đầy hơi đau, tiểu tiện không lợi: thọ Phong Ôn tại Lý. 
- Quế Chi khứ Quế gia Phục Linh Bạch Truật thang làm chủ: Quế Chi đứng đầu tên thang là vì Tiêu Dương bệnh do Bản Hàn đưa tới. Khứ Quế Chi vì đã chuyển Bản Nhiệt. Gia Phục Linh Bạch Truật trị nhập Lý làm Phong Ôn. 

Tiết 29: Cứu ngộ Trúng Phong Loại Ôn bệnh. 
- Thương Hàn Loại: gọi bệnh nhập từ ngoài. 
- Mạch Phù: mạch tại Nhục phần. 
- Tự đổ mồ hôi: chứng tại Nhục phần. 
- Tiểu tiện nhiều lần (Sác): Tiêu Dương. 
- Tâm phiền: Thọ Bản Nhiệt. 
- Hơi sợ lạnh: Bản Hàn truyền Kinh. 
- Chân co quắp: Bản Hàn truyền Kinh tất Bản Nhiệt chuyển hệ. 
- Trái lại dùng Quế Chi thang công Biểu, thế là lầm: Lầm bởi không biết Ôn bệnh thuộc Thương Hàn Loại nên dùng Quế Chi Nhị Việt Tỳ Nhất thang, trái lại còn dùng Quế Chi thang. 
- Uống vào bèn phát quyết: Vì dùng Quế Chi trị Tiêu Dương Nhiệt, Nhiệt cực phản Quyết. 
- Trong họng khô: Tiêu Dương thọ Bản Nhiệt. 
- Phiền táo thổ nghịch: Tiêu Dương thọ Bản Hàn. 
- Làm thang Cam Thảo Can Khương cho dùng để phục hồi Dương: Trước trị Bản Hàn. 
- Quyết khỏi, chân ấm, lại làm thang Thược Dược Cam Thảo cho uống chân liền duỗi được: Sau trị Bản Nhiệt. 
- Nếu nói xàm dùng Điều Vị Thừa Khí thang: Điều hoà Bản Hàn Bản Nhiệt tại Nhục phần. 
- Nếu phát hãn đôi lần, lại gia thiêu châm, Tứ Nghịch thang làm chủ: Trị Bản Hàn Bản Nhiệt hư tại Nhục phần. 

Tiết 30: Cứu ngộ Trúng Phong Loại Phong Ôn. 
- Chứng giống Dương Đán: Gọi Phong do Nội xuất. Chứng Dương Đán do Thiếu Âm chuyển sang Thái Dương. Đây là chứng Phong Ôn do Thiếu Âm chưa chuyển Thái Dương, đều tại Nhục phần, ngộ trị nên thêm nặng. 
- Quyết Nghịch: thọ Bản Hàn truyền. 
- Trong họng khô: thọ Bản Nhiệt chuyển. 
- Bứt rứt vật vã, mửa ngược: Cùng thọ. 
- 2 ống chân co quắp mà nói xàm: Bản Hàn Bản Nhiệt xâm lấn nhau ở dưới, quấy nhiểu nhau ở trên. 
- Nữa đêm 2 chân ấm, 2 ống chân duỗi: Nữa đêm Dương Khí lại, Âm Huyết hoà. 
- Mạch Phù thì là Phong: Bản Hàn Bản Nhiệt hiệp. 
- Đại thì là hư: Bản Hàn Bản Nhiệt cùng hư. 
- Phong thì sinh sốt nhẹ: hiệp Tiêu Dương. 
- Hư thì 2 ống chân co rút: thọ Bản Hàn. 
- Chứng giống Quế Chi; nhân bởi gia thêm Phụ Tử vào, tăng Quế khiến cho đổ mồ hôi: Trị lầm bệnh Phong Ôn. 
- Phụ Tử làm ấm Kinh cho nên vong Dương: Vong Thiếu Âm Nhiệt Khí, bởi vì dùng Nhiệt trị Nhiệt. 
- Quyết nghịch: thọ Hàn truyền. 
- Trong Yết khô, Dương Minh Nội Kết, nói xàm, bứt rứt rối loạn: Dương Nhiệt thọ Bản Nhiệt. 
- Làm thang Cam Thảo Can Khương cho uống, Nữa đêm Dương Khí trở lại, 2 chân ấm: Trước trị Bản Hàn. 
- 2 ống chân còn hơi co quắp, dùng thang Thược Dược Cam Thảo, thế là chân duỗi được: Sau trị Bản Nhiệt. 
- Dùng Điều Vị Thừa Khí thang, phân hơi nát, dứt chứng nói xàm thì bệnh có thể khỏi: Điều hoà Bản Hàn Bản Nhiệt để ổn định bệnh Phong Ôn do Nội xuất. 
 



CHƯƠNG 5: 
PHONG HÀN HIỆP TRUYỀN KỲ KINH
(4 Tiết, từ 31 đến 34) 

Kỳ Kinh thuộc hệ Âm Dương có chức năng điều hoà Âm Dương Hàn Nhiệt của 6 Kinh. Khi bệnh tại một Bộ Vị thái quá hoặc có hai Kinh hiệp bệnh thì thường có truyền Kỳ Kinh. 

Tiết 31: Thái Dương Phong Hàn đồng thời truyền Đốc Kinh. 
- Thái Dương bệnh: Có Trúng Phong trước, có Thương Hàn trước, có Phong Hàn đồng thời. 
- Gáy lưng cứng đờ: Truyền Đốc Kinh. 
- Không mồ hôi: Bệnh nhập Kinh. 
- Sợ gió: tại Nhục phần. 
- Cát Căn thang làm chủ. 

Tiết 32: Phong Hàn hiệp truyền Đái Kinh. 
- Thái Dương hiệp với Dương Minh tất tự hạ lợi: Thái Dương Kinh đi phía lưng của thân, Dương Minh Kinh đi phía trước của thân. Thái Dương Phong Hàn hiệp Dương Minh tất từ đó nhập Đái Mạch mà hạ lợi.
- Cát Căn thang làm chủ. 

Tiết 33: Phong Hàn truyền Nhâm Xung Kinh
- Nhâm Xung Kinh đều dính bám vào Dương Minh. Phong Hàn không nhập Đái Kinh mà hạ lợi, tất nhập Xung Nhâm Kinh mà nôn. 
- Cát Căn gia Bán Hạ thang làm chủ. 

Tiết 34: Thái Dương Phong Hàn chuyển Thiếu Âm truyền các Kỳ Kinh. 
- Thái Dương bệnh: hiệp Thiếu Âm đồng thời làm bệnh. 
- Quế Chi chứng: tại Nhục phần. 
- Thầy thuốc trái lại cho Hạ: thế là lầm. 
- Bèn lợi không dứt: Thái Dương hiệp Thiếu Âm mà hạ. 
- Mạch Xúc là Biểu chưa giải: Thiếu Âm ra ngoài hiệp Thái Dương. 
- Suyễn: truyền các Kỳ Kinh. 
- Đổ mồ hôi: tại Nhục phần. 
- Cát Căn Hoàng Cầm Hoàng Liên thang làm chủ. 


CHƯƠNG 6: 
THƯƠNG HÀN LÀM BỆNH TẠI BÌ PHẦN. 
(7 Tiết, từ 35 đến 41) 
Thương Hàn là do Thái Dương Bản Hàn làm bệnh, Bì phần là Bộ Vị có Hàn Khí cùng tương hợp truyền làm bệnh đến các Kỳ Kinh và hai Kinh Dương Nhiệt Âm Hàn. 

Tiết 35: Tại Bì phần, Thái Dương Phong Hàn truyền Đốc Nhâm Kinh. 
- Thái Dương bệnh: 
. Hiệp lại nói là Thái Dương Phong Hàn làm bệnh. 
. Phân ra nói thì Thái Dương là Hàn, Thiếu Âm là Phong cùng bệnh. 
- Đầu đau phát nóng: chứng Thái Dương, Thiếu Âm đều có. 
- Mình nhức, eo lưng đau, khớp xương đau nhức: chứng truyền Đốc Kinh của Thái Dương Thiếu Âm đều có. 
- Sợ gió: mắc bệnh tại Cơ đến Bì. 
- Không mồ hôi: tại Bì phần. 
- Suyễn: truyền Đốc Nhâm Kinh. 
- Ma Hoàng thang làm chủ. 

Tiết 36: Tại Bì phần, Thái Dương Phong Hàn truyền Xung Đái Kinh. 
- Thái Dương cùng với Dương Minh hiệp bệnh: Thái Dương Phong Hàn hiệp Dương Minh truyền Xung Nhâm Đái Kinh. 
- Phong Hàn nhập các Kỳ Kinh Lạc thì Suyễn mà ngực đầy vì đều do từ dưới mà đi lên. 
- Không thể Hạ: bởi tại Bì. 
- Nên dùng Ma Hoàng thang làm chủ: Thái Dương thì ‘làm chủ’ (chủ chi). Hiệp Dương Minh thì ‘nên dùng’ (nghi). 

Tiết 37: Biện Thái Dương Thiếu Âm là 1 khi đồng Bộ Vị. 
- Thái Dương bệnh đã qua 10 ngày: Thái Dương tại Nội tức Thiếu Âm. 
- Mạch Phù Tế: Hai Kinh (Thái Dương Thiếu Âm) đồng có mạch này. 
- Ưa nằm: Hai Kinh (Thái Dương Thiếu Âm) đồng có chứng này. 
- Ngoài đã giải vậy: Giải thì đều giải. Thiếu Âm tại Ngoại tức Thái Dương. Nội Ngoại như vậy, tại Tấu cũng vậy. 
- Ví như ngực bụng đầy đau, dùng Tiểu Sài Hồ thang: Hai Kinh tại Tấu đồng một chứng, đồng một thang phương; không riêng Chứng trị như vậy, Mạch cũng vậy. 
- Mạch chỉ Phù, dùng Ma Hoàng thang: Hai Kinh tại Bì phần đồng một mạch, đồng một thang phương. 

Tiết 38: Biện Trúng Phong Hàn, Nhiệt. 
- Thái Dương Trúng Phong mạch Phù Khẩn, cùng với ‘Thái Dương Trúng Phong Dương Phù mà Âm Nhược’ xem xét: Kia là Trúng Phong Hàn Loại, đây là Trúng Phong Nhiệt Loại. (Trúng Phong là bệnh do Hàn Nhiệt phối hợp, Thái Dương từ Biểu vào Lý cụ thể là từ Bì vào Cơ phối hợp với Thiếu Âm làm bệnh Thái Dương Trúng Phong Hàn Loại; Thiếu Âm từ Lý ra Biểu cụ thể là từ Cơ ra Bì phối hợp với Thái Dương làm Thái Dương Trúng Phong Nhiệt Loại. Không thể nói là Thiếu Âm Trúng Phong vì đây là bệnh của Thái Dương chủ tại Biểu nhưng rất cần phân hiểu Thái Dương Thiếu âm là 2 khi làm bệnh khác Bộ Vị ). 
- Mạch Phù Khẩn: Dương Hàn Nhược (yếu) mà Âm Nhiệt Cường (mạnh) . 
- Phát sốt sợ lạnh: tại Bì phần. 
- Mình đau nhức: Bản Nhiệt thọ Bản Hàn. 
- Không ra mồ hôi, phiền táo: Bản Nhiệt tranh với Bản Hàn. 
- Đại Thanh Long thang làm chủ: trị Trúng Phong Nhiệt Loại. 
- Nếu mạch Vi Nhược: lìa bỏ Bản Nhiệt. 
- Mồ hôi ra sợ gió: hiệp Tiêu Âm. 
- Không thể uống: bởi không có Bản Nhiệt. 
- Uống vào Quyết nghịch, gân giật, thịt máy: Lầm trị Trúng Phong Hàn Loại. 
- Đại Thanh Long thang phát hạn của Thiếu Âm, Hạn nhiều thì vong Dương là vong Âm Nhiệt. 
- Thành hư chứng, sợ gió: Âm Nhiệt hư. 
- Phiền táo không ngủ được: Âm Nhiệt hư thì Dương Hàn quấy nhiểu. 

Tiết 39: Biện Ôn bệnh Phong Ôn. 
- Mạch Phù Hoãn: Dương thực mà Hàn hư, cùng với mạch Phù Sác Dương hư mà Hàn thực đối nhau. 
- Mình không nhức: bởi Hàn hư. 
- Chỉ nặng, chợt có lúc nhẹ: bởi Dương thực. 
- Không có chứng Thiếu Âm: chỉ Dương Nhiệt làm Ôn bệnh; không Âm Nhiệt thì không làm Phong Ôn, đấy là biện Ôn bệnh Phong Ôn. 
- Đại Thanh Long thang để ‘phát’: Hàn Nhiệt cùng trị nên gọi Đại, Phong thuộc Đông phương nên nói Thanh, bệnh do Thái Dương Hàn Thủy mà đến nên tên Long. Toàn luận chỉ ở đây dùng một chữ Phát, nói riêng phát Dương Nhiệt mà Âm Nhiệt cũng có thể phát, với không thể phát hạn mà dùng Việt Tỳ để vượt hạn của Dương Nhiệt ý đồng. 

Tiết 40: Biện Hàn Thấp Phong Thấp. 
- Biểu không giải: tại Biểu làm Thương Hàn. 
- Dưới Tâm có thủy Khí: tại Lý làm Hàn Thấp hoặc Phong Thấp. 
- Nôn khan: Hàn truyền Thái Âm làm Hàn Thấp. 
- Phát Sốt mà ho: Hàn truyền Thiếu Âm làm Phong Thấp. 
- Hoặc khát, hoặc lợi, hoặc nghẹn: tại Lý Hàn Thấp hoặc thọ Bản Nhiệt, hoặc thọ Bản Hàn, hoặc cùng thọ. 
- Hoặc tiểu tiện không lợi, bụng dưới đầy, hoặc Suyễn: tại Lý Phong Thấp hoặc thọ Bản Nhiệt, hoặc thọ Bản Hàn, hoặc cùng thọ. 
- Dùng Tiểu Thanh Long thang làm chủ: chỉ trị Dương Hàn cho nên nói ‘Tiểu’, Hàn Thấp Phong Thấp đều thọ Thái Dương Bản Hàn truyền Kinh. Ma Quế trị Biểu Hàn, Cương Tân trị Lý Hàn, Thược Thảo trị Lý Nhiệt, Ngũ Vị Tử liễm Bản Nhiệt hoà Bản Hàn, Bán Hạ giáng Bản Nhiệt, tán Bản Hàn. 
- Hơi lợi bỏ Ma Hoàng gia Phục Linh: Hoá thủy trị Bản Hàn tại Lý. 
- Khát bỏ Bán Hạ gia Quát Lâu Căn 3 lạng: trị Bản Nhiệt tại Lý hoá Táo. 
- Nghẹn, bỏ Ma Hoàng gia Phụ Tử: Bản Nhiệt tại trên, Bản Hàn lên theo; Bản Hàn giải, Bản Nhiệt tự giải. 
- Tiểu tiện không lợi, bụng dưới đầy bỏ Ma Hoàng, gia Phục Linh: Bản Hàn tại dưới, Bản Nhiệt xuống theo; Lợi Hàn thủy tức lợi Nhiệt thủy. 
- Suyễn, bỏ Ma Hoàng gia Hạnh Nhân: Ma Hoàng phát tại Dương, Hạnh Nhân phát tại Âm, Hàn Thấp đều là Âm. 

Tiết 41: Triệu chứng Phong Thấp dùng thang Tiểu Thanh Long muốn giải. 
- Thương Hàn, dưới Tâm có thủy Khí: Tại Biểu là Thương Hàn, tại Lý là Hàn Thấp Phong Thấp. 
- Ho mà Suyễn: chứng Phong Thấp. 
- Phát sốt không khát: chứng Hàn Thấp. 
- Uống thang rồi khát: đấy là Hàn đi muốn giải. 
- Tiểu Thanh Long thang làm chủ. 
(Bản Nghĩa nêu thêm một vòng luân chuyển Bệnh Lý cần xét lại, xin phép lược giản cho người mới học khỏi hoang mang). 

 



THIÊN 2: 
THÁI DƯƠNG TRUNG
(8 Chương, 81 Tiết) 


CHƯƠNG 7
THÁI DƯƠNG TẠI BIỂU TRUYỀN CÁC KINH
(15 Tiết, từ 42 đến 56) 
Chương này chứng tỏ Chân Lý Thái Dương làm chủ tại Biểu. 

Tiết 42: Thái Dương tại Biểu thống Thiếu Âm. 
- Thái Dương Thiếu Âm cùng nhau làm Tiêu Bản, cùng nhau làm Nội Ngoại. 
- Ngoại chứng chưa giải: Hai Kinh đều chưa giải. 
- Mạch Phù Nhược: Thái Dương Cường mà Thiếu Âm Nhược. 
- Nên cho Hãn giải đi: Thái Dương giải Thiếu Âm cũng giải. 
- Nên dùng Quế Chi thang: có Âm Nhiệt tại Nội nên nói nghi (nên dùng). 

Tiết 43: Thái Dương tại Biểu thống Thái Âm, Khuyết Âm. 
- Thái Dương Bản Hàn với Âm Hàn Khí cùng nhau làm Biểu Lý. 
- Cho Hạ mà hơi Suyễn: chứng Âm Hàn tại Lý. 
- Biểu chưa giải: tại Lý chưa giải cho nên tại Biểu chưa giải. 
- Quế Chi gia Hậu Phát Hạnh Nhân thang làm chủ. 

Tiết 44: Thái Dương tại Biểu thống Dương Minh Thiếu Dương. 
- Thái Dương Tiêu Dương với Dương Nhiệt Khí cùng nhau làm Nội Ngoại. 
- Ngoại chứng chưa giải: Dương Hàn Dương Nhiệt đều chưa giải. 
- Không thể Hạ: Dương Nhiệt tại Ngoại. 
- Hạ là nghịch: Dương Hàn tại Ngoại. 
- Muốn giải Ngoại ‘nên’ dùng Quế Chi thang làm ‘chủ’: Dương Nhiệt thì nghi, Dương Hàn thì chủ. 

Tiết 45: Thái Dương tại Biểu truyền Túc Thái Dương Kinh. 
- Trước phát hãn không giải: trước Phát hãn tại Khí phần, mà chưa Phát hãn ở Kinh phần. 
- Rồi lại Hạ đi, mạch Phù không khỏi: bởi bệnh ở Biểu Ngoại mà trị ở Lý Nội. 
- Phù là tại Ngoại mà trái lại Hạ cho nên không khỏi: Hàn Khí tại Ngoại không thể Hạ, Hàn Kinh tại Ngoại càng không thể Hạ. 
- Nay mạch Phù cho nên biết là tại Ngoại, cần phải giải Ngoại thì khỏi: tại Khí nên giải, tại Kinh lại càng nên giải. 
- Quế Chi thang làm chủ. 

Tiết 46: Thái Dương tại Biểu truyền Túc Dương Minh Kinh 
- Mạch Phù Khẩn: Mạch Hàn truyền Dương Nhiệt Kinh. 
- Phát Sốt không mồ hôi, mình đau nhức: Chứng Hàn truyền Dương Nhiệt Kinh. 
- 8 – 9 ngày không giải: Dương Nhiệt Kinh nhập Lý. 
- Biểu chứng vẫn còn, như thế nên Phát hãn: nhân đó khiến tà theo Dương Kinh xuất. 
- Uống thang rồi hơi bớt: bớt Bản Hàn tại Khí phần. 
- Người bệnh phát phiền, mắt mờ: tại Kinh phần chưa trừ. 
- Nặng thì chảy máu mũi, chảy máu mũi rồi thì giải: Hãn nhập Kinh theo Kinh Huyết mà giải. 
- Sở dĩ như thế vì Dương Minh là Kinh ‘Lưỡng Dương hiệp Minh’, là Dương Khí trùng. 
- Ma Hoàng thang làm chủ: có thể giải Hãn của Khí phần, cũng có thể lại dùng để giải Hãn của Kinh phần. 

Tiết 47: Thái Dương tại Biểu truyền Túc Thiếu Dương Kinh. 
- Mạch chứng đồng với trên, chỉ riêng Thiếu Dương là Dương Khí mới sinh, tuy Bản Hàn truyền Kinh nhưng không có chứng ‘mình đau nhức’, cho nên tự chảy máu mũi thì khỏi, không cần dùng Ma Hoàng thang. 

Tiết 48: Thái Dương tại Biểu truyền Túc Thiếu Âm Kinh
- Nhị Dương tinh bệnh: Dương Hàn Dương Nhiệt cùng nhập Âm Nhiệt Kinh. Ở Dương là 
hiệp, vào Âm là tinh. Sau này phỏng theo đó. 
- Lúc Thái Dương mới mắc bệnh, cho phát Hãn, Hãn trước ra không triệt để: Hãn của Khí phần xuất trước, của Kinh phần chưa xuất. 
- Nhân đó chuyển thuộc Dương Minh, tự ra in ít mồ hôi, không sợ lạnh: Bản Hàn do Dương Nhiệt nhập Âm Nhiệt. 
- Không thể Hạ: Hàn chuyển thuộc Dương Nhiệt tại Biểu. 
- Hạ đi là nghịch: Hàn truyền Âm Nhiệt tại Biểu. 
- Như thế có thể ‘tiểu’ Phát hãn: chỉ Phát Hãn Thiếu Âm Kinh là ‘tiểu’, tựa như nên dùng Ma Hoàng Cam Thảo Phụ Tử thang. 
- Ví phỏng sắc mặt bừng bừng đỏ gay: đấy là Thiếu Âm Kinh tại Biểu thọ Dương Hàn phất uất, nên cho Giải, cho Xông. 
- Nếu như Phát Hãn không triệt để: Dương Hàn nhập Thiếu Âm Kinh không xuất ra. 
- Không thể nói là Dương Khí không Việt được: Dương Nhiệt thọ Dương Hàn thì nên cho Việt Hãn, không thể nói chứng này là như vậy. 
- Đáng Hãn không Hãn: Chứng này là Âm Nhiệt thọ Dương Hàn, phải Phát Hãn là tối yếu, bởi thế không thể nói là Việt Hãn của Dương phần. Tựa như nên dùng Ma Hoàng Phụ Tử Tế Tân thang. 
- Người bệnh phiền táo: Hàn truyền Âm Nhiệt Kinh. 
- Không biết đau chỗ nào, chợt tại trong bụng, chợt tại tứ chi: Biểu Lý bất định. 
- Dò tìm không thể được: Âm Dương bất phân. 
- Thở ngắn, chỉ ngồi: trước ngực sau ngực đều thọ chịu. 
- Vì Hãn tại Thiếu Âm ra không triệt để cho nên thế. 
- Sao biết được? Vì mạch Sáp cho nên biết: Hàn Kết Âm Nhiệt Kinh, tựa như nên dùng Quế Chi Khứ Quế gia Phụ Tử Bạch Truật thang. 

Tiết 49: Thái Dương tại Biểu truyền Túc Thái Âm Kinh. 
- Mạch Phù Sác: Dương Nhiệt hư; Dương Nhiệt hư thì Âm Hàn thực. 
- Theo phép nên đổ mồ hôi mà giải: Trị Dương Nhiệt Âm Hàn nên theo phép Dương Hàn Âm Nhiệt. 
- Nếu cho Hạ, mình nặng, tim hồi hộp: Bản Hàn truyền Túc Thái Âm Kinh. 
- Bản Hàn nhập Lý làm bệnh thì không thể Phát Hãn; Bản Hàn bệnh tại Biểu truyền Túc Thái Âm Kinh tự đổ mồ hôi sẽ khỏi. 
- Sở dĩ như thế là vì trong bộ Xích mạch Vi: tại Lý Dương hư cho nên tại Biểu không ra mồ hôi được. Đợi Dương Khí tại Biểu Lý thực, thì tại Tấu tân dịch hoà, bèn tự đổ mồ hôi mà khỏi. 
- Ôn Dương Khí để làm Hãn, tựa như nên dùng Phục Linh Tứ Nghịch thang. 

Tiết 50: Thái Dương tại Biểu truyền Túc Khuyết Âm Kinh
- Mạch Phù Khẩn: Dương Nhiệt Phù mà Âm Hàn Khẩn, phép trị nên theo Mạch Âm Nhiệt Phù mà Dương Hàn Khẩn, mình đau nhức nên dùng Hãn giải. 
- Giả sử Bộ Xích mạch Trì, đó là tại Lý, Khuyết Âm Kinh thọ Hàn không thể Phát Hãn, tựa như nên dùng Đương Quy Tứ Nghịch thang. 

Tiết 51: Thái Dương tại Biểu truyền Thủ Khuyết Âm Kinh. 
- Mạch Phù là thọ Biểu Dương Hàn nên dùng Ma Hoàng thang. 
- Mạch Phù mà Sác: lại thọ Biểu Âm Nhiệt cũng dùng Ma Hoàng thang. 

Tiết 52: Thái Dương tại Biểu truyền Thủ Thái Âm Kinh. 
- Bệnh thường tự đổ mồ hôi: Thủ Thiếu Âm Nhiệt Kinh tại Nội là Vinh khí hoà. 
- Vinh khí hoà thì Ngoại không hài, vì Thủ Thái Âm Hàn Kinh tại Ngoại là Vệ khí không cùng với Vinh khí hoà hài, cho nên thế. 
- Vì Vinh khí thọ Bản Nhiệt đi trong Kinh mạch, Vệ khí thọ Bản Hàn đi ngoài Kinh mạch. 
- Phải nên Phát hãn của Bản Hàn cho Vinh Vệ hoà thì khỏi, Quế Chi thang làm chủ. 

Tiết 53: Thái Dương tại Biểu truyền Thủ Thiếu Âm Kinh
- Tạng Tâm không bệnh gì khác, có lúc phát sốt, tự đổ mồ hôi mà không khỏi, đấy là Vệ khí không hoà. 
- Trước lúc đó, Phát Hãn thì khỏi, Quế Chi thang làm chủ: làm cho Thái Dương chủ Vệ hoà với Thiếu Âm chủ Vinh. 
(Nếu như Tâm Vinh thọ Hàn nên dùng Nhân Sâm Tứ Nghịch thang). 

Tiết 54: Thái Dương tại Biểu truyền Thủ Thiếu Dương Kinh. 
- Thương Hàn: Thủ Thiếu Dương tại Ngoại thọ Hàn. 
- Mạch chứng cùng với Túc Thiếu Dương đồng, riêng tự đổ máu cam thì giải nên không phải dùng Ma Hoàng thang; cùng với không Phát Hãn, nhân đó đến chảy máu cam, cần phải dùng Ma Hoàng thang có khác. 

Tiết 55: Thái Dương tại Biểu truyền Thủ Dương Minh Kinh. 
- Thương Hàn không đại tiện 6 - 7 ngày, đầu đau có sốt, dùng Thừa Khí thang: thọ Lý Bản Nhiệt, lại thọ Biểu Bản Hàn. 
- Hễ tiểu tiện trong, biết là thọ Biểu Bản Hàn không thọ Lý Bản Nhiệt. 
- Cần phải Phát Hãn: thọ Biểu Bản Hàn. 
- Nếu nhức đầu tất chảy máu cam: Bản Hàn nhập Kinh, Quế Chi thang làm chủ. 

Tiết 56: Thái Dương tại Biểu truyền Thủ Thái Dương Kinh. 
- Phát Hãn giải: tại Biểu Khí phần giải. 
- Độ nữa ngày trở lại phiền: tại Biểu Kinh phần chưa giải. 
- Mạch Phù Sác: Dương hư mà Hàn nhập Kinh. 
- Có thể Phát Hãn lần nữa: lại Phát Hãn tại Kinh phần. 
- Quế Chi thang làm chủ. 


CHƯƠNG 8
THÁI DƯƠNG TẠI TẤU TRUYỀN KINH
(13 Tiết, từ 57 đến 69) 
Chương này chứng tỏ Chân Lý Thái Dương tại Tấu thống lãnh tất cả Kinh. 

Tiết 57: Thái Dương Khí tại Tấu thống nhất thiết Khí. 
- Phát Hãn: Biểu khí hư. 
- Nếu Thổ, nếu Hạ: Lý khí hư. 
- Vong tân dịch: Tấu khí hư. 
- Âm Dương hoà tất tự khỏi: Thái Dương Khí có vừa đủ Thiếu Âm Khí tại Nội, Thái Dương Khí hoà không bệnh nào không khỏi. 

Tiết 58: Thái Dương Kinh tại Tấu thống nhất thiết Kinh. 
- Sau khi Hạ: tại Lý (Âm) Kinh hư. 
- Lại Phát Hãn: tại Biểu (Dương) Kinh hư. 
- Tiểu tiện không lợi là vì mất tân dịch: tại Tấu các Âm Dương Kinh kiệt. 
- Chớ nên trị: không cần trị Kinh khác. 
- Được tiểu tiện lợi tất tự khỏi: tại Tấu Thái Dương Kinh có vừa đủ Thiếu Âm Kinh tại Nội, Thái Dương Kinh lợi tất tự khỏi. 

Tiết 59: Thái Dương Lạc tại Tấu thống nhất thiết Lạc. 
- Sau khi đại Hạ: Lý Kinh hư thì Lý Lạc hư. 
- Lại Phát Hãn: Biểu Kinh hư thì Biểu Lạc hư. 
- Tất rét run: Tấu Kinh hư. 
- Mạch Vi Tế: Tấu Lạc cũng hư. 
- Sở dĩ như thế là bởi Nội (Kinh) Ngoại (Lạc) đều hư: Kinh là Lý, chia nhánh đi hoành là Lạc tại Ngoại. Kinh tại ‘Nội’ hư thì Lạc tại ‘Ngoại’ cũng hư. 

Tiết 60: Bản Hàn nhập Tấu truyền Âm Hàn Kinh. 
- Sau khi Hạ: tại Tấu Âm Nhiệt hư. 
- Lại Phát Hãn: Dương Hàn nhập Tấu. 
- Ban ngày phiền táo không ngủ được: Âm Nhiệt hư thì Dương Hàn quấy nhiễu. 
- Đêm thì yên tĩnh: Âm Nhiệt hồi phục nên Dương Hàn hoà. 
- Không nôn: Âm Nhiệt hư. 
- Không khát: Dương Hàn thực. 
- Không Biểu chứng: không Biểu Dương Nhiệt chứng. 
- Mạch Trầm Vi: Dương Hàn hiệp Âm Hàn mà Âm Nhiệt hư cực. 
- Mình không nóng lắm: Kinh Hàn, Lạc cũng Hàn. 
- Can Khương Phụ Tử thang làm chủ. 

Tiết 61: Dương Hàn nhập Tấu truyền Âm Nhiệt Kinh. 
- Sau khi Phát Hãn: Dương Hàn nhập Tấu. 
- Mình đau nhức: nhập Tấu cùng Âm Nhiệt tương bác (đánh nhau). 
- Mạch Trầm Trì: Dương Hàn nhập Tấu thì mạch Trầm, Âm Nhiệt tại Tấu ‘đương chi’ thì mạch Trầm Trì. 
- Quế Chi Tân Gia thang làm chủ: Dương Hàn ‘tân gia’ Âm Nhiệt vẫn dùng Quế Chi. 

Tiết 62: Dương Hàn nhập Tấu truyền Dương Nhiệt Kinh. 
- Sau khi Phát Hãn không thể lại dùng thang Quế Chi vì Dương Hàn đi mà Dương Nhiệt còn ở. 
- Đổ mồ hôi mà Suyễn: tại Tấu Dương Nhiệt thực. 
- Không nóng lắm (vô đại nhiệt): tại Tấu không có Âm Nhiệt hiệp. Có thể dùng: Ma Hoàng Hạnh Nhân Cam Thảo Thạch Cao thang làm chủ. 

Tiết 63: Dương Hàn truyền Kinh tại Tấu thượng phần. 
- Phát Hãn quá nhiều: tại Tấu Dương hư. 
- Chéo tay lên ấp tim: Dương hư tại Tấu phần trên. 
- Dưới tim hồi hộp muốn được án tay vào: Dương hư mà Bản Hàn muốn đi lên. 
- Quế Chi Cam Thảo thang làm chủ. 
Tiết 64: Dương Hàn truyền Kinh tại Tấu Hạ phần. 
- Sau khi Phát Hãn, dưới rún hồi hộp: tại Đái hạ Dương hư mà Hàn thực. 
- Muốn làm Bôn đồn: Hàn thực ở dưới muốn chạy vội lên trên. 
- Phục Linh Quế Chi Cam Thảo Đại Táo thang làm chủ. 

Tiết 65: Dương Hàn truyền Kinh tại Tấu Trung phần. 
- Sau khi Phát Hãn: tại Tấu Dương hư. 
- Bụng trướng đầy: Dương hư mà Hàn thực tại Tấu phần giữa. 
- Hậu Phác Sinh Khương Bán Hạ Cam Thảo Nhân Sâm thang làm chủ. 

Tiết 66: Tại Tấu phần Dương Nhiệt thực, Âm Hàn cũng thực. 
- Thương Hàn: tại Biểu Dương Nhiệt thực. 
- Sau khi cho Thổ hoặc cho Hạ: tại Lý Âm Hàn thực. 
- Dưới Tim nghịch đầy, Khí xung lên ngực: Dương Nhiệt tại ngực, Âm Hàn theo cùng tại ngực. 
- Đứng dậy thì đầu choáng váng: Dương Nhiệt tại đầu, Âm Hàn theo cùng tại đầu. 
- Mạch Trầm Khẩn: Dương Hàn tại Nội, Âm Nhiệt theo cùng tại Nội. 
- Phát Hãn thì động Kinh, thân mình lắc lư chao đảo: Dương Hàn tại Ngoại, Âm Nhiệt theo cùng tại Ngoại. 
- Phục Linh Quế Chi Bạch Truật Cam Thảo thang làm chủ. 

Tiết 67: Tại Tấu phần Dương Nhiệt thực mà Âm Hàn hư. 
- Phát Hãn bệnh không giải: Dương Hàn hư mà Dương Nhiệt thực. 
- Trái lại sợ lạnh là bởi hư vậy: Dương Nhiệt thực do Âm Hàn hư (theo cùng Dương Hàn hư). 
- Thược Dược Cam Thảo Phụ Tử thang làm chủ. 

Tiết 68: Tại Tấu phần, Dương Hàn hư Âm Nhiệt cũng hư. 
- Phát Hãn: Dương Hàn hư. 
- Hoặc Hạ: Âm Nhiệt hư. 
- Bệnh vẫn không giải: Âm Dương đều hư. 
- Phiền táo: do Tấu nhập Lý. 
- Phục Linh Tứ Nghịch thang làm chủ. 
Tiết 69: Tại Tấu phần, Dương Hàn hư mà Âm Nhiệt thực. 
- Sau khi Phát Hãn, sợ lạnh: tại Tấu Dương Hàn hư. 
- Không sợ lạnh chỉ nóng: tại Tấu Âm Nhiệt thực. 
- Phải nên hoà Vị khí: tả Âm Nhiệt thực để cho Vị khí hoà. 
- Điều Vị Thừa Khí thang làm chủ. 




CHƯƠNG 9: 
TÚC THÁI DƯƠNG KHÍ
(7 Tiết, từ 70 đến 76) 
Túc Thái Dương Khí tức Bàng Quang Khí tức Bản Dương Hàn Khí đồng là Âm Hàn Khí với Tiêu Âm Nhiệt Khí tức Thận khí, tức Túc Thiếu Âm Khí. 

Tiết 70: Túc Thái Dương thọ Thái Dương Thiếu Âm Khí. 
- Thái Dương Bệnh: Túc Thái Dương Khí phần bệnh. 
- Sau khi Phát Hãn: Thái Dương Hãn xuất. 
- Mồ hôi ra rất nhiều: Thiếu Âm Hãn cũng xuất. 
- Trong Vị khô, phiền táo không ngủ được: Thái Dương chuyển sang Thiếu Âm. 
- Muốn uống nước, cho in ít một, khiến cho Vị Khí hoà thì khỏi: Trị Thiếu Âm. 
- Nếu mạch Phù, tiểu tiện không lợi: thọ Thiếu Âm Nhiệt Khí. 
- Hơi sốt, tiêu khát: thọ Thái Dương Hàn Khí. 
- Ngũ Linh Tán làm chủ. 

Tiết 71: Túc Thái Dương thọ Thiếu Âm Nhiệt Khí hư. 
- Mạch Phù Sác: Dương Khí hư tức Âm Nhiệt Khí hư. 
- Phiền khát: Âm Nhiệt hư thì Dương Hàn không hoá Khí. 
- Ngũ Linh Tán làm chủ. 

Tiết 72: Túc Thái Dương thọ Hàn Khí thực. 
- Thương Hàn mồ hôi ra rồi mà khát là Dương Hàn Khí không hoá, Ngũ Linh Tán làm chủ. 
- Không khát là thọ Hàn truyền Kinh, Phục Linh Cam Thảo thang làm chủ. 

Tiết 73: Túc Thái Dương thọ Dương Hàn Âm Nhiệt thực. 
- Trúng Phong: thọ Âm Nhiệt. 
- Phát sốt: thọ Dương Hàn. 
- 6 – 7 ngày không giải mà phiền: Hàn Nhiệt cùng thọ. 
- Có chứng Biểu Lý: Biểu Dương Hàn, Lý Âm Nhiệt cùng tại Tấu. 
- Khát muốn uống nước: cớ bởi thọ Âm Nhiệt. 
- Nước vào thì mữa: cớ bởi thọ Dương Hàn. 
- Gọi là Thủy nghịch: Kinh Túc Thái Dương Hàn Thủy mà lại thọ Hàn Khí là nghịch. 
- Ngũ Linh Tán làm chủ. 

Tiết 74: Túc Thái Dương thọ Dương Hàn Âm Nhiệt hư. 
- Chéo tay ấp lên Tim: thọ hư Hàn. 
- 2 tai điếc không nghe: thọ hư Nhiệt. 
- Sở dĩ như thế, Phát Hãn thì Dương Hàn hư, trùng Phát Hãn thì Âm Nhiệt hư cho nên vậy. 


Tiết 75: Túc Thái Dương thọ Dương Hàn truyền Kinh. 
- Sau khi Phát Hãn: Thái Dương Khí hư. 
- Uống nước nhiều tất Suyễn: tại Lý Dương hư thọ Hàn truyền. 
- Dùng nước lạnh tưới dội cũng Suyễn: tại Biểu Dương hư thọ Hàn truyền. 

Tiết 76: Túc Thái Dương thọ Dương Hàn truyền cũng thọ Âm Nhiệt hệ. 
- Sau khi Phát Hãn: Dương Hàn Khí suy ở Thượng. 
- Nước, thuốc không uống vào miệng được: Âm Nhiệt Khí theo cùng ở Thượng. 
- Nếu lại Phát Hãn nữa: Dương Hàn Khí suy ở Nội. 
- Tất Thổ Hạ không dứt: Âm Nhiệt Khí cũng suy ở Nội. 


CHƯƠNG 10
THỦ THÁI DƯƠNG LẠC
(6 Tiết, từ 77 đến 82) 
Thủ Thái Dương Lạc tức Tiểu Trường Lạc, tức Tiêu Dương Hàn Lạc. Lạc tùy theo khí thì khí của Thủ Thái Dương là Dương Nhiệt nên Lạc của nó là Âm Hàn; còn Lạc tùy theo Kinh vì Kinh là Dương Hàn đối giao với Kinh Âm Nhiệt nên Lạc của nó là Trung Đạo của Dương Hàn + Âm Nhiệt. 

Tiết 77: Thủ Thái Dương Lạc thọ Thái Dương Thiếu Âm hư thực. 
- Hư phiền không ngủ được: riêng thọ Thiếu Âm Bản Nhiệt. 
- Nếu nặng thì trăn trở đảo điên, trong Tâm áo não: cùng thọ Thái Dương Bản Hàn. Chi Tử Xị thang làm chủ. 
- Nếu thiểu Khí là Bản Hàn chuyển sang Bản Nhiệt, Chi Tử Cam Thảo Xị thang làm chủ. 
- Nếu nôn là Bản Nhiệt chuyển sang Bản Hàn, Chi Tử Sinh Khương Xị thang làm chủ. 

Tiết 78: Thủ Thái Dương Lạc thọ Dương Hàn Âm Nhiệt tại Cách. 
- Phiền Nhiệt: cùng thọ Hàn Nhiệt. 
- Trong Hung tắc nghẽn: tại Cách, Chi Tử Xị thang làm chủ. 

Tiết 79: Thủ Thái Dương Lạc thọ Dương Hàn Âm Nhiệt tại Biểu tại Lý. 
- Thương Hàn: tại Biểu. 
- 5 – 6 ngày sau khi đại Hạ: tại Lý. 
- Mình nóng không dứt: cùng bệnh tại Biểu. 
- Trong Tâm kết đau: cùng bệnh tại Lý. 
- Chưa muốn giải: Lý chưa giải cho nên Biểu chưa giải. 
- Chi Tử Xị thang làm chủ. 

Tiết 80: Thủ Thái Dương Lạc thọ Dương Hàn Âm Nhiệt tại Tấu. 
- Thương Hàn: tại Biểu. 
- Sau khi Hạ: tại Lý. 
- Tâm phiền bụng đầy, nằm dậy không yên: thọ tại Tấu. 
- Chi Tử Hậu Phát thang làm chủ. 

Tiết 81: Thủ Thái Dương Lạc thọ Dương Hàn truyền Kinh
tất thọ Âm Nhiệt chuyển hệ. 
- Mình nóng không dứt: Dương Hàn truyền Kinh. 
- Hơi phiền: Âm Nhiệt chuyển hệ. 
- Chi Tử Can Khương thang làm chủ. 
Tiết 82: Thủ Thái Dương Lạc không thọ Dương Hàn truyền Kinh, 
Âm Nhiệt chuyển hệ. 
- Người bệnh vốn có chứng đi ngoài phân hơi nát: Thủ Thái Dương Lạc hư. 
- Không thể uống Chi Tử Xị thang: nói phải nên trị chứng hư. 
 

CHƯƠNG 11
TÚC THÁI DƯƠNG KINH
(8 Tiết, từ 83 đến 90) 
Túc Thái Dương Kinh tức Bàng Quang Kinh, tức Bản Dương Hàn Kinh đối giao Bản Âm Nhiệt Kinh tức Tâm Kinh, tức Thủ Thiếu Âm Kinh. 

Tiết 83: Túc Thái Dương Kinh thọ Thái Dương Bản Hàn. 
- Phát Hãn mồ hôi ra không giải: Bản Hàn nhập Kinh. 
- Vẫn phát sốt: Hàn tại Biểu Kinh. 
- Dưới Tâm hồi hộp: Hàn tại Lý Kinh. 
- Đầu váng: Dương Hàn ở trên, Âm Nhiệt theo cùng ở trên. 
- Mình máy giật: Dương Hàn ở ngoài, Âm Nhiệt theo cùng ở ngoài. 
- Rung động muốn ngã xuống đất: Dương Hàn thực mà Âm Nhiệt không còn đất dung thân. 
- Chân Võ thang làm chủ. 

Tiết 84: Túc Thái Dương Kinh thọ Thái Dương Tiêu Dương. 
- Hàn thực ở Kinh mồ hôi ra không giải. 
- Dương thực ở Kinh Yết hầu khô ráo, không thể Phát Hãn. 
Tiết 85: Túc Tam Dương Kinh hư không thể Phát Thái Dương Hãn. 
- Lâm gia: Túc Dương Kinh thủy hư. 
- Phát Thái Dương Hãn thì Kinh thủy kiệt mà Kinh Huyết kế tiếp (tất tiểu tiện ra máu). 

Tiết 86: Túc Tam Âm Kinh hư không thể Phát Thái Dương Hãn. 
- Sang gia tuy mình đau nhức: Túc Âm Kinh Huyết kiệt. 
- Phát Hãn thì Dương thủy kiệt mà Âm Huyết táo, làm bệnh Kỉnh. 

Tiết 87: Thủ Tam Dương Kinh hư không thể Phát Thái Dương Hãn. 
- Nục gia: Thủ Tam Dương Kinh hư. 
- Phát Hãn thì Dương thủy kiệt. 
. Không hành ở Thủ Thiếu Âm Tâm Kinh thì trên trán lõm xuống. 
. Không hành ở Thủ Thái Âm Phế Kinh thì mạch Khẩn cấp. 
. Không hành ở Thủ Khuyết Âm Tâm Bào Lạc thì mắt trực thị không đảo được tròng, không ngủ được. 

Tiết 88: Thủ Tam Âm Kinh hư không thể Phát Thái Dương Hãn. 
- Vong Huyết gia: Thủ Tam Âm Kinh Huyết vong. 
- Phát Hãn thì Dương Khí hư mà Âm Huyết Hàn cho nên rét run lẩy bẩy. 

Tiết 89: Túc Thái Dương Kinh thọ Thiếu Âm Bản Nhiệt. 
- Dương Hàn thủy được Âm Nhiệt Khí làm thành Hãn, gọi là Hãn gia. 
- Người vốn hay đổ mồ hôi, lại Phát Hãn nữa thì Thái Dương ‘Hãn’, Thiếu Âm cũng ‘Hãn’. 
- Hoảng hốt Tâm loạn: Thiếu Âm tại Hạ mà lên Thượng. 
- Tiểu tiện rồi âm vật đau buốt: Thái Dương tại Ngoại mà vào Nội. Đều do Phát Hãn quá nhiều mà ra. 
- Dùng Võ Dư Lương Hoàn là để chỉ Hãn vậy. 

Tiết 90: Túc Thái Dương thọ Thiếu Âm Tiêu Âm. 
- Người bệnh có Hàn: Hàn Kinh thọ Hàn Khí. 
- Lại Phát Hãn, trong Vị lạnh tất thổ Vưu trùng: Hãn thì Dương càng hư thì Hàn thậm, tất vị lạnh thổ Vưu trùng. 


CHƯƠNG 12
THƯƠNG HÀN TRỊ PHÁP
(6 Tiết, từ 91 đến 96) 
Mỗi Kinh có 3 thành phần là Khí – Kinh – Lạc, Bộ Vị tại Biểu cũng có 3 là Bì phần – Tấu phần – Nhục phần; Điều này cho thấy Đức Trọng Cảnh luận bệnh rất chu đáo và Cụ Lưu Thủy tâm đắc được cũng tuyệt vời không thể nghĩ bàn. 

Tiết 91: Khí phần Trị pháp. 
- Bản Hàn Khí tại Ngoại, nên trước Hãn mà trái lại Hạ, đấy là nghịch: Hàn Khí tại Ngoại (Biểu) mà trái lại trị Nội (Lý) cho nên vậy. 
- Nếu Phát Hãn trước là trị không nghịch: Hàn Khí tại Ngoại phải nên trị Ngoại trước. Có thể thấy Hàn Khí tại Nội phải nên trị Nội trước. 
- Bản Nhiệt Khí chủ Nội, nên trước Hạ mà trái lại Hãn là nghịch; nếu Hạ trước là không nghịch: Nhiệt Khí tại Nội, nên trước Hạ. Có thể thấy Nhiệt Khí tại Ngoại phải nên trước Phát Hãn. 


Tiết 92: Kinh phần Trị pháp. 
- Thương Hàn thầy thuốc cho Hạ rồi tiếp tục hạ lợi phân sống không dứt: Dương Kinh 
vào Lý chuyển sang Âm Kinh. 
- Mình đau nhức: Âm Kinh ra Biểu chuyển sang Dương Kinh. 
- Gấp nên cứu Lý: Lý Kinh tức là chỗ nhập (vào) của Biểu Kinh. 
- Sau, mình còn đau nhức, đại tiểu tiện tự điều hoà, gấp nên cứu Biểu: Biểu Kinh tức là chỗ xuất (ra) của Lý Kinh. 
- Nói Biểu Lý chỉ Nhất Kinh, riêng là Âm là Dương thì có phân biệt vậy. 
- Cứu Lý nên dùng Tứ Nghịch thang: Trị tại Lý Thiếu Âm tức trị chỗ nhập của Thái Dương. 
- Cứu Biểu nên dùng Quế Chi thang: Trị tại Biểu Thái Dương tức trị chỗ xuất của Thiếu Âm. 

Tiết 93: Lạc phần Trị pháp. 
- Bệnh phát sốt đầu đau: Dương Kinh bệnh tại Biểu, cũng là Dương Lạc bệnh tại Biểu. 
- Mạch trái lại Trầm: Âm Kinh mạch tại Lý, cũng là Âm Lạc mạch tại Lý; nói trị Lạc phải nên tùy theo Kinh. 
- Nếu không bớt: không biết phép trị Lạc. 
- Mình mẩy đau nhức: tại Biểu Âm Dương Lạc bệnh. 
- Cần phải cứu Lý, nên dùng Tứ Nghịch thang: trị tại Lý Âm Dương Kinh. Sở dĩ như thế, vì Hàn Kinh từ Biểu vào Lý, Nhiệt Kinh từ Lý ra Biểu. Chia nhánh đi ngang nối liền Âm Dương Biểu Lý là Lạc. Biệt của Lạc là Tôn Lạc đều thấy ở ngoài. Đây, trị ‘Ngoại Lạc’ tất do ‘ Nội Kinh’, trị Lạc tất do Hàn khí, Thương Hàn Trị Pháp vậy. 

Tiết 94: Bì phần Trị pháp. 
- Thái Dương Bệnh trước cho Hạ mà không khỏi: bởi vì Thái Dương tại Biểu nên Hãn trước, không nên Hạ trước. 
- Nhân lại Phát Hãn: Thái Dương nên ‘Hãn trước’, không nên Hạ trước rồi lại Hãn. 
- Thất trị ở Hãn, lại thất trị ở Hạ vì thế Biểu Lý đều hư. 
- Người bệnh do đó sinh chứng Mạo: Thiếu Âm tại Biểu ‘Mạo’ làm Thái Dương gọi là ‘Mạo gia’. 
- Ra mồ hôi tự khỏi: hoà Thái Dương Thiếu Âm tại Biểu. 
- Nếu Lý chưa hoà thì sau lại cho Hạ: hoà Thái Dương Thiếu Âm tại Lý. 

Tiết 95: Tấu phần Trị pháp. 
- Thái Dương Bệnh chưa giải: tại Tấu chưa giải. 
- Mạch Âm Dương ‘Câu đình’: nhất thiết mạch ‘Câu đình’ tại Tấu – Định lệ vậy! 
- Tất trước run cầm cập Kinh Lạc của nó rồi sau đổ mồ hôi mà giải; nhất thiết Kinh Lạc đều tập trung tại Tấu – Định lệ vậy! 
- Chỉ Dương Mạch Vi là Dương Nhiệt Mạch Vi thì Dương Hàn thực. 
- Trước cho ra mồ hôi mà giải: Dương Hàn nên Hãn trước. 
- Chỉ Âm Mạch Vi: là Âm Hàn Mạch Vi thì Âm Nhiệt thực. 
- Cho Hạ mà giải: không nói ‘trước’ là vì Âm Nhiệt tại Biểu có ‘Hãn trước’; nhất thiết Âm Dương đều hội ở Tấu – Định lệ vậy! 
- Nếu muốn Hạ, nên dùng Điều Vị Thừa Khí thang cho Hạ: nhất thiết trị Tấu phần Nhiệt Khí nên dùng Bản phương – Định lệ vậy! 

Tiết 96: Nhục phần Trị pháp. 
- Thái Dương Bệnh phát sốt: đấy là Vệ cường. 
- Đổ mồ hôi: đấy là Vinh nhược. 
- Chỉ vì Vệ cường phát sốt, cho nên Vinh nhược mồ hôi ra. Âm Dương tương ứng làm nên vậy. 
- Muốn cứu Tà Phong: tại Nhục phần Phong bị Hàn truyền cho nên gọi Tà. 
- Nên dùng Quế Chi thang. 



CHƯƠNG 13
THÁI DƯƠNG PHONG HÀN TRUYỀN TẤU PHẦN
(15 Tiết, từ 97 đến 111) 
Tấu Phần là màn lưới Kinh Lạc trải suốt Biểu Lý gồm có 2 phần Tấu Bán Biểu do Thái Dương làm chủ và Tấu Bán Lý do Thiếu Âm làm chủ. Cần lưu ý tuy theo tương đối nói Tấu là Nhiệt đối lập với Bì là Hàn nhưng theo tuyệt đối thì Âm Dương Hàn Nhiệt ra vào đều tập trung tại Tấu. Xét bệnh tại Lý cần nhận định rõ các mặt Âm Dương - Hàn Nhiệt - Biểu Lý; Người học xin phép được thay chữ truyền tại Bán Lý bằng chữ chuyển để dễ nhận định. 

Tiết 97: Thái Dương Phong Hàn tại Tấu Bán Biểu truyền các Kinh Dương. 
- Thương Hàn 5 – 6 ngày Trúng Phong: Nói trước bị Thương Hàn rồi sau mới Trúng Phong tại Tấu các Dương Kinh. Có Trúng Phong trước, có Thương Hàn trước, có Phong Hàn đồng thời, có thể thấy Thái Dương Kinh Khí làm bệnh đâu có nhất định!
- Nóng lạnh qua lại: Dương Hàn Dương Nhiệt qua lại tại Tấu. 
- Ngực sườn đầy tức: Dương Hàn Dương Nhiệt hiệp bệnh tại Tấu. 
- Lìm lịm không muốn ăn uống: Tà bế tại Tấu là nơi Vị Khí làm chủ. 
- Tâm phiền hay nôn: Đồng thời thọ Phong Hàn. 
- Hoặc trong ngực phiền mà không nôn: Hoặc Trúng Phong mà không Thương Hàn. 
- Hoặc khát: thọ Bản Nhiệt. 
- Hoặc trong bụng đau: thọ Bản Hàn. 
- Dưới sườn đầy cứng: Hàn Nhiệt kết tại Tấu. 
- Hoặc dưới Tim hồi hộp, tiểu tiện không lợi: Hàn Nhiệt kết tại Lý. 
- Hoặc không khát, mình có hơi nóng: tại Tấu Bán Biểu. 
- Hoặc ho: Hàn Nhiệt cùng thọ. 
- Tiểu Sài Hồ thang làm chủ: Chuyên trị Dương Kinh tại Bán Biểu nên nói ‘Tiểu’. 


Tiết 98: Phong Hàn tại Tấu Bán Lý chuyển các Dương Kinh. 
- Tấu Bán Biểu do Thiếu Dương Hoả Khí làm chủ. Tấu Bán Lý do Thiếu Âm Nhiệt Khí làm chủ. Bản Hàn vào Bán Biểu tranh với Dương Nhiệt, vào Bán Lý tranh với Âm Nhiệt. 
- Huyết nhược Khí tận, Tấu Lý khai: Tại Tấu Khí Huyết suy. 
- Thái Dương Tà nhập cùng với Chính Khí Thiếu Âm chọi nhau, Kết ở dưới hiếp, tức Tấu Bán Lý phần. 
- Chính Tà phân tranh, nóng lạnh qua lại, nghỉ phát có lúc: Đó là Thái Dương Thiếu Âm ’tương bác’ (chọi nhau). 
- Lừ đừ không muốn ăn uống: Đó là Thái Dương Thiếu Âm ‘tương kết’ (kết nhau). 
- Tạng Phủ liền nhau, chỗ đau tất ở thấp: Tấu Bán Lý trong liền Phủ Tạng, Kinh của nó đi Tung, ngoài liền Bán Biểu, Kinh của nó đi Hoành – Từ Tung ra Hoành tất đau, từ Tung vào Lý tất xuống thấp. 
- Thái Dương ở ngoài là Tà cao, cùng với tại Tấu Thiếu Âm thọ (Hàn) làm đau ở thấp, từ dưới mà lên nên khiến sinh nôn. 
- Tiểu Sài Hồ thang làm chủ. 
- Uống thang rồi mà khát là thuộc Dương Minh: Ly khai (lìa bỏ) Dương Hàn, vãng tòng (đi theo) Dương Nhiệt. 
- Dùng ‘Pháp’ để trị: ‘Pháp’ là Nhiệt của Dương Minh gốc ở Thiếu Âm Nhiệt Khí. 

Tiết 99: Phong Hàn tại Tấu Bán Lý chuyển các Âm Kinh. 
- Mắc bệnh 6 - 7 ngày: ngày của Thái Dương tại Tấu nhập Lý. 
- Mạch Trì Phù Nhược: 
. Trì là Âm Nhiệt bị Dương Hàn cản trở. 
. Phù là tại Tấu. 
. Nhược là Dương Hàn thọ (chịu) Âm Nhiệt hoá. 
- Sợ gió lạnh: Thái Dương nhập Nội. 
- Tay chân ấm: Thiếu Âm xuất Ngoại. 
- Thầy thuốc 2 - 3 lần Hạ, không ăn được: Hạ thì Âm Nhiệt hư mà Dương Hàn thực. 
- Dưới hiếp đầy đau: Phong Hàn súc tích ở Nội. 
- Mặt mắt và mình đều vàng: Phong Hàn biểu hiện ở Ngoại. 
- Cổ gáy cứng: Bản Hàn truyền Kinh. 
- Tiểu tiện khó: Bản Nhiệt chuyển Hệ. 
- Dùng Sài Hồ thang sau tất hạ trọng: Bệnh đã lìa bỏ Dương Kinh nhập Âm Kinh. 
- Vốn khát: nhập Âm Nhiệt Kinh. 
- Uống nước vào thì nôn: nhập Âm Hàn Kinh. 
- Dùng Sài Hồ thang là không đúng: bởi đã lìa bỏ Dương Kinh. 
- Ăn cơm vào thì nôn ọe: Bởi đã nhập Âm Kinh. 

Tiết 100: Phong Hàn tại Tấu Bán Biểu truyền các Âm Kinh 
- Thương Hàn 4 - 5 ngày: ngày các Âm hành Kinh. 
- Mình nóng: Âm Nhiệt. 
- Sợ gió: Âm Hàn. 
- Cổ gáy cứng: Phong Hàn truyền Kinh. 
- Dưới hiếp đầy: Từ Bán Lý ra Bán Biểu. 
- Tay chân ấm mà khát: Từ Âm Nhiệt chuyển sang Dương Nhiệt. 
- Tiểu Sài Hồ thang làm chủ. 

Tiết 101: Tấu Lý có 2 phần. 
- Dương mạch Sáp: Dương Nhiệt tại Bán Biểu hư. 
- Âm mạch Huyền: Âm Hàn tại Bán Lý thực. 
- ‘Pháp đương’ trong bụng đau gấp: Dương Sáp Âm Huyền ‘ Pháp đương’ theo Thái Dương Thiếu Âm. 
- Cấp thống (đau gấp) là tại Kinh Lạc ‘do’ Hoành ‘nhi’ Tung. 
- Dùng Tiểu Kiến Trung thang: khiến cho Dương Hàn không nhập Lý. 
- Không bớt thì dùng Tiểu Sài Hồ thang: khiến cho Âm Nhiệt ra ngoài. 

Tiết 102: Tấu Bán Biểu Ngoại liên Bì Nhục. 
- Thương Hàn: tại Bì phần. 
- Trúng Phong: tại Nhục phần. 
- Có chứng Sài Hồ: tại Tấu phần. 
- Trong 3 phần có 1 chứng Sài Hồ liền trị đi, không cần phải đủ cả, sợ tại Tấu dễ nhập Lý vậy. 

Tiết 103: Tấu Bán Lý Nội Liên Phủ Tạng. 
- Phàm bệnh chứng thuộc Sài Hồ thang: Nói chứng trị thang Sài Hồ rất rộng. 
- Cho Hạ: thì nhập vào Phủ Tạng. 
- Nếu tại Tấu chứng Sài Hồ không dứt, lại dùng Sài Hồ thang, tất rung động Kinh Lạc tại Tấu, rồi sau ra mồ hôi mà giải. 

Tiết 104: Bản Hàn truyền Kinh tại Tấu làm Thương Hàn. 
- Thương Hàn 2 – 3 ngày: ngày Tam Dương hành Kinh. 
- Trong Tâm Quí mà phiền: chứng không truyền Dương Kinh mà truyền Âm Kinh. 
- Tiểu Kiến Trung thang làm chủ. 
- Thái Dương Bệnh liền truyền Tam Âm, không tuần tự nhật số vậy. 

Tiết 105: Tiêu Dương thọ Bản Hàn truyền Dương Nhiệt 
làm Ôn Bệnh truyền Âm Nhiệt làm Phong Ôn. 
- Thái Dương tức Tiêu Dương; Bệnh: thọ Hàn truyền Kinh. 
- Quá Kinh hơn 10 ngày: Dương Kinh hành Biểu 7 ngày thì nay hơn 10 ngày vẫn tại Dương Kinh, gọi là ‘quá Kinh’. 
- Trái lại cho Hạ 2 – 3 lần, sau 4 – 5 ngày: là ngày Âm hành Kinh. 
- Chứng Sài Hồ vẫn còn: nói thủy chung bệnh tại Dương Kinh, không tuần tự theo nhật số. 
- Trước dùng Tiểu Sài Hồ thang: Ôn Bệnh tại Dương Nhiệt Kinh. 
- Nôn không dứt: Bản Hàn vẫn còn. 
- Dưới Tâm cấp, uất uất hơi phiền: Bản Hàn tiếp tục truyền hiệp Bản Nhiệt chuyển làm Phong Ôn tại Dương Nhiệt Kinh. 
- Dùng Đại Sài Hồ thang cho Hạ. 

Tiết 106: Thương Hàn tại Bán Lý làm Phong Ôn, 
ra Bán Biểu làm Ôn Bệnh. 
- Thương Hàn 13 ngày không giải: tại Bán Lý làm Phong Ôn. 
- Ngực Hông đầy mà nôn: Thái Dương Tiêu Bản cùng bệnh. 
- Xế chiều phát Triều Nhiệt: Thiếu Âm Tiêu Bản cùng bệnh. 
- Rồi đi ngoài hơi lỏng, đấy vốn là chứng Sài Hồ cho Hạ mà không được lợi, nay lại lợi thì biết thầy thuốc đã dùng thuốc hoàn để Hạ chứng tại Tấu, trị không đúng vậy. 
- Triều Nhiệt là chứng thực: Phong Ôn tại Tấu Bán Lý. 
- Trước nên dùng Tiểu Sài Hồ thang giải Bán Biểu Ôn Bệnh. 
- Sau dùng Sài Hồ gia Mang Tiêu thang giải Bán Lý Phong Ôn. 

Tiết 107: Thương Hàn nhập Tấu chuyển làm Nhiệt Bệnh. 
- 13 ngày không giải, quá Kinh nói xàm: đây, Bản Hàn nhập Tấu chuyển sang Bản Nhiệt, có thể dùng thang cho Hạ. 
- Nếu tiểu tiện lợi thì đại tiện phải rắn: Bản Hàn hạ mà Bản Nhiệt không hạ. 
- Nay trái lại hạ lợi, mạch điều hoà thì biết thầy thuốc dùng thuốc hoàn để hạ nhưng Bản Hàn hạ mà Bản Nhiệt vẫn không hạ, trị không đúng vậy. 
- Nếu tự Hạ lợi thì Mạch phải nên Vi: Bản Hàn Bản Nhiệt đều Hạ. 
- Nay trái lại hoà, đấy là Nội thực: Bản Hàn Bản Nhiệt đều chưa hạ, đấy là Thương Hàn chuyển làm Nhiệt bệnh, Điều Vị Thừa Khí thang làm chủ. 

Tiết 108: Tiêu Dương tại Tấu hoặc chuyển làm Tiêu Âm Hàn Thấp, 
hoặc chuyển làm Bản Nhiệt Phong Thấp. 
- Thái Dương Tiêu Dương tại Tấu không giải, Nhiệt kết Bàng Quang, người bệnh như cuồng: truyền nhập Thiếu Âm Kinh Huyết. 
- Huyết tự hạ, hạ thì khỏi: truyền ở Thái Âm Tiêu Âm làm Hàn Thấp. 
- Nếu tại Ngoại Dương Hàn chưa giải, nên trước cho giải để cho Dương Hàn không nhập Nội hiệp Âm Hàn. 
- Chỉ còn chứng bụng dưới kết cấp: truyền ở Thiếu Âm Tiêu Âm làm Phong Thấp, thì mới có thể công, nên dùng Đào Hạch Thừa Khí thang. 

Tiết 109: Thương Hàn vào Tấu làm Hàn Thấp, hoặc chuyển làm 
Thái Dương Phong Thấp, hoặc Thiếu Âm Phong Thấp. 
- Thương Hàn 8 – 9 ngày: Bản Hàn nhập Tấu làm Hàn Thấp. 
- Cho Hạ ngực đầy phiền Kinh: Hiệp Thái Dương Tiêu Bản làm Phong Thấp. 
- Tiểu tiện không lợi, nói xàm: Hiệp Thiếu Âm Tiêu Bản làm Phong Thấp. 
- Cả mình nặng nề không thể xoay trở: Thái Dương Thiếu Âm cùng bệnh. 
- Sài Hồ gia Long Cốt Mẫu Lệ thang làm chủ. 

Tiết 110: Tại Bán Biểu, Thương Hàn Hoành Kinh chuyển sang Tung Kinh. 
- Bụng đầy: Túc Âm Kinh Lạc. 
- Thiềm ngữ (nói xàm): Thủ Âm Kinh Lạc. 
- Mạch Phù mà Khẩn: các Dương Kinh Lạc. 
- Đấy là ‘Can thừa Tỳ’: Các Kinh truyền đến chỗ thắng. 
- Tại Bán Biểu Kinh đi Hoành như loại Tả Can, Hữu Tỳ. Vào Bán Lý Kinh nó đi Tung, ‘do Hoành Nhi Tung’ cho nên gọi là Tung. 
- Châm Kỳ Môn: hội Huyệt các Kinh. 

Tiết 111: Tại Bán Lý, Thương Hàn Tung Kinh chuyển sang Hoành Kinh. 
- Phát sốt, sợ lạnh: Thủ Túc Dương Kinh. 
- Đại khát muốn uống nước bụng đầy: Thủ Túc Âm Kinh. 
- Tự đổ mồ hôi: do Dương Kinh giải. 
- Tiểu tiện lợi: do Âm Kinh giải. 
- Đấy là ‘Can thừa Phế’: Các Kinh truyền đến chỗ không thắng. 
- Tại Bán Lý Kinh đi Tung, như Phế Can đi Tung lên xuống, ra Bán Biểu Kinh đi Hoành. ‘Do Tung nhi Hoành’ cho nên gọi là Hoành. 
- Châm Kỳ Môn: (xem ở trên). 
(Đây là chỗ Trọng Sư giảng Kinh Lạc cực phân minh). 



CHƯƠNG 14
THỦ THÁI DƯƠNG KINH KHÍ
(11 Tiết, từ 112 đến 122) 
1 Kinh Thái Dương chia Thủ Túc thành 2 Kinh, Túc Thái Dương Bản Hàn là Kinh Dương Hàn Khí Âm Hàn, Thủ Thái Dương là Kinh Dương Hàn Khí Dương Nhiệt. Bản là gốc, Tiêu là ngọn; Bản Khí là Âm Hàn thì Tiêu Khí đối lập là Dương Nhiệt; Như vậy cùng là Kinh Thái Dương mà Bản là Âm Hàn đồng Khí với Tiêu Âm; Tiêu là Dương Nhiệt đồng Khí với Bản Nhiệt. 
Thủ Thái Dương Kinh tức Tiểu Trường Kinh, tức Tiêu Dương Hàn Kinh đối giao với Bản Âm Nhiệt Kinh tức Tâm Kinh, Thủ Thiếu Âm Kinh. 
Thủ Thái Dương Khí tức Tiểu Trường Khí, Tiêu Dương Hàn Khí đồng là Dương Nhiệt với Bản Âm Nhiệt Khí tức Tâm Khí, Thủ Thiếu Âm Khí. 

Tiết 112: Thủ Thái Dương thọ Thái Dương Tiêu Bản truyền 4 Kỳ Kinh
- Thủ Thái Dương thọ Bản Hàn truyền Tiêu Dương 2 ngày, trái lại vật vã. 
- Thầy thuốc không biết chứng Hàn truyền Tiêu Dương, lại dùng lửa chườm lưng làm mồ hôi ra nhiều: Bản Hàn thọ khốn. 
- Hoả Nhiệt nhập Vị, trong Vị thủy kiệt, phiền táo nói xàm: đó là Thủ Thái Dương thọ Tiêu Dương chuyển đến Bản Nhiệt. 
- Hơn 10 ngày, run rẩy, tự hạ lợi, đấy là muốn giải: Bản Hàn truyền Kinh, Tiêu Dương giải, Bản Nhiệt cũng giải. 
- Từ thắt lưng trở xuống không ra mồ hôi, muốn tiểu tiện không đi được: thọ Tiêu Dương truyền Đốc Kinh. 
- Trái lại khi nôn muốn són đái, phần dưới chân sợ gió: thọ Bản Hàn truyền Đốc Kinh. 
- Đại tiện rắn, tiểu tiện đáng lẽ sác: thọ Tiêu Dương truyền Nhâm Kinh. 
- Trái lại không sác mà nhiều: thọ Bản Hàn truyền Nhâm Kinh. 
- Đại tiện rồi, đầu đột nhiên đau: thọ Tiêu Dương truyền Xung Kinh. 
- Lòng bàn chân tất nóng là vì Cốc Khí chuyển xuống dưới vậy: thọ Bản Hàn truyền Đái Kinh. 

Tiết 113: Thủ Thái Dương thọ Thiếu Âm Tiêu Bản truyền 4 Kỳ Kinh. 
- Thái Dương Bệnh Trúng Phong: Thủ Thái Dương Trúng Thiếu Âm Phong. 
- Dùng Hoả cưỡng ép Phát hãn: Không biết Phát hãn của Thiếu Âm. 
- Tà Phong bị Hoả Nhiệt: Phong thọ Hàn tại Cơ là Tà, từ Cơ vào Tấu là bị Hoả Nhiệt. 
- Thái Dương Kinh hành Khí, Thiếu Âm Kinh hành Huyết, mất đi độ thường. 
- Thái Dương là Dương, Thiếu Âm Nhiệt Khí cũng là Dương, hai Dương xông đốt nhau, thân mình phát vàng. 
- Dương Nhiệt thạnh thì muốn nục, Âm Hàn hư thì tiểu tiện khó. 
- Dương Tân Âm Dịch đều hư thì thân thể khô khao. 
- Chỉ đầu đổ mồ hôi, đến cổ thì hết: Thái Dương ở trên ra mồ hôi, Thiếu Âm ở dưới không có mồ hôi. 
- Bụng đầy hơi Suyễn: thọ Tiêu Âm. 
- Miệng khô họng lở: thọ Bản Nhiệt. 
- Hoặc không đại tiện, lâu ngày thì nói xàm: truyền Đốc Đái Kinh. 
- Nặng thì ọe, chân tay vật vã không yên, lần áo men giường: truyền Xung Nhâm Kinh. 
- Tiểu tiện lợi thì người bệnh có thể trị: thọ Bản Nhiệt, được Bản Hàn truyền Kinh vậy. 

Tiết 114: Thủ Thái Dương thọ Bản Hàn tại Biểu vào Lý
- Mạch Phù: tại Biểu. 
- Dùng Hoả bức ép: Bản Hàn nhập Lý. 
- Vong Dương là Dương Hàn Vong ở Biểu mà nhập vào Lý. 
- Kinh cuồng nằm dậy không yên: Bản Hàn nhập Lý nhiểu loạn Bản Nhiệt. 
- Quế Chi Cứu Nghịch thang làm chủ: trị Hàn tại Ngoại mà nhập Nội làm nghịch. 

Tiết 115: Thủ Thái Dương thọ Bản Nhiệt tại Lý ra Biểu. 
- Thiếu Âm Bản Nhiệt Khí xuất Ngoại làm Thương Hàn gọi là Hình Tác. 
- Thọ Thái Dương Bản Hàn thì mạch Huyền Khẩn, nay không Huyền khẩn mà lại Nhược là riêng chỉ Bản Nhiệt làm bệnh. 
- Bản Nhiệt tại Cách tất khát, tại Tấu tất nói Xàm, tại Cơ tất phát sốt, tại Bì tất mạch Phù, giải đi mồ hôi ra thì khỏi. 
Tiết 116: Thủ Thái Dương thọ Bản Hàn tại Tấu. 
- Bản Hàn tại Tấu dùng lửa xông đi, không ra được mồ hôi tất vật vã: Hàn nhập Nhiệt phần. 
- ‘Đáo Kinh’ không giải tất tiện huyết: đại tiểu tiện hiệp Tấu Nhiệt hạ Huyết vậy. 
- Gọi là Hoả Tà: Tấu Hoả thọ Hàn là Hoả Tà, lại có tên Hoả nghịch cũng là ý này. 

Tiết 117: Thủ Thái Dương thọ Bản Nhiệt tại Tấu 
- Mạch Phù Nhiệt thậm: Thực Nhiệt. 
- Trái lại dùng phép cứu: Chứng Thực Nhiệt mà dùng phép trị Hư Nhiệt. 
- Tất yết táo thoá Huyết: Hàn vào Dương Nhiệt Kinh tất nục huyết (chảy máu mũi), Nhiệt vào Dương Hàn Kinh tất thoá Huyết (nhổ ra máu). 

Tiết 118: Thủ Thái Dương thọ Bản Nhiệt tại Biểu vào Lý
- Mạch Vi Sác cẩn thận không thể cứu: Phàm Thủ Kinh tại Biểu mạch đều Vi Sác, thọ Thực Nhiệt không thể cứu vậy. 
- Cứu thì nhân Hoả thành Tà: tại Biểu Hàn phần thọ Hoả là Tà, dùng Hoả trị Nhiệt thì phiền nghịch. 
- Cứu là Hư Hoả, Bản Nhiệt là Thực Nhiệt, dùng cái Hư của Hoả cứu truy trục cái Thực của Bản Nhiệt tất Huyết tán trong mạch. 
- Hoả Khí tuy nhỏ, sức Nội công lớn, xém xương hại gân, Huyết khó hồi phục. 

Tiết 119: Thủ Thái Dương thọ Bản Hàn tại Lý ra Biểu
- Mạch Phù: Bản Hàn tại Biểu. 
- Dùng Hoả cứu đi thì Hàn nhập Lý. 
- Nhân đó Hoả thịnh, từ thắt lưng trở xuống tất nặng mà tê, tên là ‘ Hàn tại Nội cùng với Hoả làm nghịch’. 
- Muốn cho Nội Hàn xuất Ngoại tất phải nên trước giải Hoả tại Nội làm phiền, rồi có mồ hôi mà giải. 
- Nhưng, Mạch tất phải Phù, Tà muốn hướng ra ngoài, mới có thể giải vậy. 

Tiết 120: Thủ Thái Dương thọ Bản Hàn truyền các Túc Kinh
- Thiêu Châm cho ra mồ hôi: Nhiệt Kinh có thể làm cho ra mồ hôi, Hàn Kinh không thể làm cho ra mồ hôi. 
- Chỗ châm bị Hàn: Túc Thái Dương Kinh Bản Hàn. 
- Nổi hạch đỏ: Phản ứng của Thủ Thái Dương Kinh Tiêu Dương. 
- Bôn đồn, Khí từ bụng dưới xung lên Tâm: các Túc Kinh thọ Hàn truyền, từ dưới mà đi lên. 
- Cứu trên hạch đó mỗi hạch 1 tráng: cứu chữa sai thất của Thiêu Châm. 
- Quế Chi gia Quế thang trị các Túc Kinh thọ Hàn. 

Tiết 121: Thủ Thái Dương thọ Bản Hàn truyền các Thủ Kinh
- Hoả nghịch: dùng Hoả trị Bản Hàn nhập Tấu là nghịch. 
- Cho Hạ: dùng Hàn trị Bản Hàn tại Tấu là nghịch. 
- Phiền Táo: nghịch trị xoay chuyển truyền các Thủ Kinh. 
- Quế Chi Cam Thảo Long Cốt Mẫu Lệ thang làm chủ. 

Tiết 122: Thủ Thái Dương Thương Hàn chuyển làm Nhiệt Bệnh
truyền các Thủ Túc Kinh 
- Thái Dương không nói bệnh: Thương Hàn đã truyền làm Nhiệt bệnh. 
- Gia Thiêu Châm tất Kinh: Thủ Thái Dương Hàn Kinh dùng Hàn trị nó tất truyền các Thủ Túc Kinh mà thành chứng Kinh (sợ). 

THIÊN 3: 
THÁI DƯƠNG HẠ
(7 CHƯƠNG, 58 TIẾT) 


CHƯƠNG 15
TÚC THÁI DƯƠNG LẠC
(8 Tiết, từ 123 đến 130) 
Túc Thái Dương Lạc tức Bàng Quang Lạc có 2 chức năng: 
Lạc thống nhất tùy theo Kinh là đường liên kết giữa 2 Kinh Thái Dương (Dương Hàn) và Thiếu Âm (Âm Nhiệt). 
Lạc đối lập tùy theo Khí, do Bàng Quang Khí là Âm Hàn nên đối lập tùy theo Khí là Dương Nhiệt Lạc. 

Tiết 123: Túc Thái Dương Lạc tại Tấu thọ chư Âm Dương
- Đáng lý sợ lạnh phát sốt: Kinh Khí bệnh. 
- Nay tự đổ mồ hôi không sợ lạnh phát sốt: Lạc bệnh. 
- Bộ Quan mạch Tế Sác: Âm Nhiệt hư, lại là Dương Nhiệt hư, mạch của Túc Thái Dương Lạc hư, là bởi thầy thuốc dùng phép Thổ sai lầm mà Lạc hư vậy. 
- Bệnh 1 - 2 ngày dùng phép Thổ là Thổ tại Dương Kinh. 
- Trong bụng đói miệng không ăn được: thọ Dương Nhiệt lại thọ Dương Hàn. 
- Bệnh 3 - 4 ngày dùng phép Thổ là Thổ tại Âm Kinh. 
- Không ưa cháo lại muốn ăn thức lạnh: thọ Âm Nhiệt. 
- Sớm ăn tối mửa: lại thọ Âm Hàn. 
- Đấy bởi không biết Túc Thái Dương Lạc thọ Hàn là Tiểu nghịch vậy. 

Tiết 124: Túc Thái Dương Lạc tại Cách thọ Âm Hàn chuyển Dương Nhiệt. 
- Túc Thái Dương Lạc thọ Âm Hàn đáng lý sợ lạnh, trái lại không sợ lạnh, không muốn mặc áo, như thế là chuyển Dương Nhiệt. 
- Đấy là vì cho Thổ sinh Nội phiền: nói Dương Nhiệt động đến Âm Nhiệt vậy. 

Tiết 125: Túc Thái Dương Lạc tại Cách thọ Dương Nhiệt chuyển Âm Hàn. 
- Sác là mạch của Dương Nhiệt. 
- Đáng lẽ tiêu cốc mà lại mửa là cớ gì? Đây là Thái Dương chủ Khí tại Cách do bởi Hãn mà hư, cho nên Cách Khí hư, mạch bèn Sác. 
- Sác là Khách Khí của Dương Nhiệt, không tiêu cốc được. 
- Dương Nhiệt chuyển Âm Hàn là thọ Bản Hàn truyền Kinh, cho nên trong Vị lạnh mà mửa. 
(Dương Nhiệt đối với Dương Hàn thì ‘Tỳ’, đối với Âm Nhiệt thì là ‘Khách’. Toàn sách lấy Bản Hàn Bản Nhiệt làm chủ). 

Tiết 126: Túc Thái Dương Lạc tại Đái thọ Âm Nhiệt chuyển Dương Hàn 
- Thái Dương Bệnh quá Kinh hơn 10 ngày: Túc Thái Dương Lạc tại Cách đến Đái. 
- Nôn nao muốn mửa, trong ngực đau, đại tiện nát, bụng hơi đầy, uất uất hơi phiền: Đái phần Lạc thọ Âm Nhiệt chuyển Dương Hàn. 
- Trước khi tự ‘cực thổ Hạ’: là chứng Âm Hàn chuyển Dương Hàn. 
- Trước lúc đó là Âm Nhiệt chuyển Dương Nhiệt có thể dùng Điều Vị Thừa Khí thang. 
- Nếu không như thế không thể dùng: vì là Âm Nhiệt chuyển Dương Hàn; chỉ muốn nôn, trong bụng đau, phân hơi nát ấy là chứng của nó, chẳng phải là chứng Sài Hồ của Dương phần Hàn Nhiệt. 
- Vì Âm Nhiệt chuyển Dương Hàn có chứng nôn, cho nên biết Âm Hàn chuyển Dương Hàn tất có chứng cực thổ hạ. 
Tiết 127: Túc Thái Dương Lạc tại Đái thọ Dương Hàn chuyển Âm Nhiệt. 
- 6 - 7 ngày Biểu chứng vẫn còn: Dương Hàn vẫn tại Tấu. 
- Tại Tấu Thiếu Âm thọ Hàn cho nên mạch Vi, Thái Dương tại Tấu cho nên Trầm. 
- Thái Dương Thiếu Âm đồng tại Tấu nên Kết Hung, trái lại không Kết, người bệnh phát cuồng vì Nhiệt tại Hạ tiêu. 
- Bụng dưới nên rắn đầy: do Tấu vào Đái, Thái Dương chuyển Thiếu Âm. 
- Tiểu tiện tự lợi, hạ Huyết thì khỏi: tại Đái Thiếu Âm chuyển Thái Dương. 
- Sở dĩ như thế, (Bàng Quang vì sao Súc Huyết) là vì Túc Thái Dương Lạc tùy Bản Kinh, nhập Lý ứ Nhiệt, Để Đáng thang làm chủ. 

Tiết 128: Túc Thái Dương Lạc thọ Âm Nhiệt truyền Xung Nhâm Kinh
- Mình vàng: Lạc thọ Thiếu Âm Huyết hành ở Ngoại. 
- Mạch Trầm Kết: Lạc thọ Thiếu Âm Huyết Súc ở Nội. 
- Bụng dưới rắn: truyền Xung Nhâm Kinh. 
- Tiểu tiện không lợi: Thủy Kết mà Huyết không Kết. 
- Tiểu tiện tự lợi, người bệnh như cuồng: Thủy không kết mà Huyết Kết. 
- Để Đáng thang làm chủ: Thủy làm cho Huyết Kết nên dùng Bản phương, Huyết làm cho Thủy Kết nên dùng Đào Nhân Thừa Khí thang. 
(Thọ Bản Hàn, tiểu tiện không lợi là Huyết không Kết. Thọ Bản Nhiệt, tiểu tiện tự lợi là Huyết Kết). 

Tiết 129: Túc Thái Dương Lạc thọ Âm Nhiệt truyền Đốc Đái Kinh
- Có Nhiệt bụng dưới đầy: Túc Lạc thọ Bản Nhiệt. 
- Ưng tiểu tiện không lợi, giờ trái lại lợi là có Huyết: Nhiệt Huyết Kết Lạc rồi truyền Đốc Kinh. 
- Cho Hạ không thể ‘dư dược’: không thể quá nhiều, không thể quá ít. 
- Để Đáng Hoàn dùng vừa đủ cho bệnh mà thôi. 
(Huyết Kết Xung Nhâm nên dùng thang, Huyết Kết Đốc Đái nên dùng hoàn. Đấy là pháp vậy). 

Tiết 130: Túc Thái Dương Lạc thọ Dương Hàn truyền các Kỳ Kinh
- Tiểu tiện lợi là thọ Bản Hàn truyền Kinh. 
- Uống nước nhiều tất dưới Tâm Quí: Túc Lạc truyền các Kỳ Kinh. 
- Tiểu tiện ít tất khổ Lý cấp: thọ Hàn truyền tất có Nhiệt chuyển. 




CHƯƠNG 16
PHONG HÀN TRUYỀN TẤU BÁN LÝ
(14 Tiết, từ 131 đến 144) 
Sinh Lý là Âm Dương Hàn Nhiệt tương giao - điều hoà, Bệnh Lý là Âm Dương Hàn Nhiệt tranh kết - bất hoà. Cần lưu ý duy một dữ kiện Âm Dương Hàn Nhiệt mà có 2 tình trạng Sinh Lý - Bệnh Lý. 

Tiết 131: Phong Hàn nhập Tấu Bán Lý thượng phần Kết Hung. 
- Thái Dương Bản Hàn truyền Kinh nhập Tấu Bán Lý cùng với Thiếu Âm Bản Nhiệt ‘tương kết’ cho nên ấn vào đau. 
- Thiếu Âm Bản Nhiệt mạch thấy Phù ở Thốn khẩu; Thái Dương Bản Hàn mạch thấy Trầm ở Quan là Hàn với Nhiệt kết tại Tấu Bán Lý thượng phần. 
- Gọi là Kết Hung: tại Cách thượng vậy. 

Tiết 132: Phong Hàn nhập Tấu Bán Lý trung phần Tạng Kết
- Kết Hung: tại Cách. 
- Tạng Kết: Dưới Cách trên Đái (Trung phần). 
- Ăn uống như thường: không tại Cách. 
- Thỉnh thoảng hạ lợi: tại Đái. 
- Mạch Thốn Phù: Bản Nhiệt. 
- Mạch Quan Tiểu Trầm Khẩn: Bản Hàn. 
- Trên lưỡi trắng: Bản Hàn. 
- Rêu trơn: Bản Nhiệt. 
- Khó trị: Trung phần là ngôi của Vị Khí, công Tà thì hại Vị Khí. 

Tiết 133: Phong Hàn nhập Tấu Bán Lý hạ phần Tạng Kết 
- Tạng Kết không có Dương chứng: không có chứng Dương Hàn Dương Nhiệt tại Đái hạ. 
- Không nóng lạnh qua lại: không bệnh tại Tấu. 
- Người bệnh trái lại yên tĩnh: không bệnh tại Cách. 
- Trên lưỡi rêu trơn: Âm Hàn Âm Nhiệt Kết tại Đái mà bệnh hiện ra ở trên. 
- Không thể công: Bởi chỉ Âm Kết. 

Tiết 134: Nguyên do Thái Dương Thiếu Âm tại Tấu Bán Lý
làm Kết Hung làm Bĩ. 
- Dương là Thái Dương tại Ngoại, trái lại cho Hạ quá sớm, nhập Tấu cùng với Thiếu Âm làm Kết Hung. 
- Âm là Thiếu Âm tại Tấu, trái lại cho Hạ nhân đó làm Bĩ. 
- Kết Hung là Dương chứng gáy cứng; Bĩ là Âm chứng gáy cũng cứng như trạng Nhu Kỉnh. 
- Cho Hạ thì Hoà: khiến cho Thái Dương Thiếu Âm hoà vậy. 
- Nên dùng Đại Hãm Hung Hoàn phương. 

Tiết 135: Chứng Kết Hung tại Tấu Bán Lý cùng với chứng tại Cách, tại Đái. 
- Chứng Kết Hung mạch Phù Đại: từ Đái đến Cách, dùng phương Hãm Hung cho Hạ thì chết. 
- Chứng Kết Hung đầy đủ là do Tấu đến Cách phiền táo cũng chết. 
(Nói Bán Lý cùng với Cách Đái bức cận nhau, đều là chứng chết vậy). 

Tiết 136: Thái Dương nhập Tấu Bán Lý với Thiếu Âm Kết 
- Mạch Phù mà động Sác: mạch tại Tấu. 
- Phù là Phong: Thái Dương bị Phong, Thiếu Âm cũng bị Phong. 
- Sác là Nhiệt: Thiếu Âm Nhiệt Khí chủ Tấu. 
- Động là đau: Thái Dương Hàn Khí vào đánh nhau. 
- Sác là hư: Thiếu Âm Nhiệt Khí hư. 
- Đầu đau phát sốt: Phong Hàn. 
- Hơi đổ mồ hôi trộm: Thiếu Âm Nhiệt hư, Thái Dương ‘đạo chi’ (trộm nó) mà ra. 
- Trái lại sợ lạnh: Dương Hàn thực tại Tấu. 
- Thầy thuốc trái lại cho Hạ: thất trị vậy. 
- Động Sác biến ra Trì: Âm Nhiệt hư bị Dương Hàn biến thành ra Trì. 
- Trong Cách cự thống: Tà tại Bán Lý nhập Cách. 
- Trong Vị hư trống, khách Khí động Cách: Vị Khí (chủ Cách) hư. 
- Đoản Khí phiền táo: Dương nhập Âm. 
- Trong Tim áo nùng: Hàn nhập Nhiệt. 
- Từ Tấu vào Cách, từ Cách vào Vị, không thể ngăn chặn, Dương Hàn Hãm vào trong, kết rắn, đấy là Kết Hung, Đại Hãm Hung thang làm chủ. 
- Nếu không Kết Hung tại Tấu phần giữa: 
. Chỉ đổ mồ hôi đầu: Kết tại Tấu phần trên. 
. Tiểu tiện không lợi mình tất phát vàng: Kết tại Tấu phần dưới. 
. Nói không Kết tại Hung mà tan ở trên dưới, bốn bên vậy. 

Tiết 137: Thiếu Âm tại Tấu Bán Lý cùng với Thái Dương Kết. 
- 6 - 7 ngày: ngày Biểu Lý giao giới. 
- Kết Hung Nhiệt thực: Thái Dương thực, Thiếu Âm cũng thực. 
- Mạch Trầm Khẩn: nói Hàn Nhiệt thực. 
- Trầm mà Khẩn: nói Hàn Nhiệt của cả hai Thái Dương Thiếu Âm đều thực. 
- Dưới Tâm đau, án tay vào rắn như đá: mạch thực chứng cũng thực. 
- Đại Hãm Hung thang làm chủ. 

Tiết 138: Tại Tấu Bán Lý Thái Dương Thiếu Âm mỗi mỗi tự Kết. 
- Nhiệt Kết tại Lý: tại Lý Thiếu Âm Tiêu Bản tự Kết. 
- Lại Hàn Nhiệt vãng lai: Thái Dương Tiêu Bản tự Kết. 
- Dùng Đại Sài Hồ thang: Nội Ngoại tự làm Kết bất đồng, nhưng đồng phép trị. 
- Chỉ Kết Hung, không nóng lắm, đây là Thái Dương Hàn Thủy tự Kết tại Hung Hiếp. 
- ‘Câu vô’ (đều không) là: tại Tấu không ‘ Bản Hàn truyền Kinh’, đều không ‘ Bản Nhiệt chuyển hệ’. 
- Chỉ đầu đổ mồ hôi: đó là Thiếu Âm Nhiệt Khí tự Kết tại đầu. 
- Đại Hãm Hung thang làm chủ: Thượng Hạ tự làm Kết bất đồng, nhưng đồng phép trị. 

Tiết 139: Thái Dương Thiếu Âm tương hiệp làm Kết Hung. 
- Thái Dương Bệnh trùng phát Hãn: Thái Dương Thiếu Âm hiệp tại Biểu. 
- Mà lại cho Hạ: Thái Dương Thiếu Âm hiệp tại Lý. 
- Không đại tiện 5 - 6 ngày: Thái Dương Thiếu Âm hiệp tại Đái. 
- Trên lưỡi ráo mà khát: Thái Dương Thiếu Âm hiệp tại Cách. 
- Xế qua có chút Triều Nhiệt: Thái Dương Thiếu Âm hiệp tại Bán Biểu. 
- Từ dưới Tâm đến bụng dưới rắn đầy, đau không thể sờ được: Thái Dương Thiếu Âm hiệp tại Bán Lý. 
- Đại Hãm Hung thang làm chủ. 

Tiết 140: Tiêu Dương Bản Nhiệt làm Tiểu Kết Hung. 
- Tiểu Kết Hung: là chỉ Nhiệt Khí Kết. 
- Chính tại dưới Tâm: Nhiệt Khí không truyền Kinh. 
- Đè vào thì đau: Dương Nhiệt Âm Nhiệt tương kết nhau. 
- Mạch Phù Hoạt: chỉ Nhiệt Khí. 
- Tiểu Hãm Hung thang làm chủ. 

Tiết 141: Bản Hàn Tiêu Âm hoặc Kết hoặc không Kết
- Thái Dương Bệnh: Bản Hàn. 
- 2 - 3 ngày không nằm được, chỉ muốn dậy: Bản Hàn truyền Dương Nhiệt mà Âm Nhiệt ứng theo. 
- Dưới Tâm tất Kết: Thái Dương Thiếu Âm Kết Hung. 
- Mạch Vi Nhược: Bản Hàn ly khai Âm Nhiệt. 
- Đấy là vốn có Hàn phần: Bản Hàn vãng tòng (đi theo) Âm Hàn. 
- Trái lại cho Hạ, nếu lợi dứt tất làm Kết Hung: Bản Hàn hiệp Âm Nhiệt thì lợi dứt mà Kết Hung. 
- Lợi chưa dứt qua 4 ngày lại cho Hạ, đấy là làm ‘hiệp Nhiệt lợi’: Bản Hàn hiệp Âm Hàn. 
(Rời đó thì hiệp đây, rời đây thì hiệp đó, biết được như thế thì hiệp tình trạng của Âm Dương vậy). 


Tiết 142: Chư Lạc Kết tại Tấu Bán Lý
- Thái Dương Bệnh cho Hạ, mạch Xúc: Thái Dương hướng Ngoại không vào Nội hiệp với Thiếu Âm. Cho nên không Kết Hung muốn giải. 
- Mạch Phù: Khí Thiếu Âm hướng Ngoại hiệp với Thái Dương tất làm Kết Hung. 
- Mạch Khẩn tất Yết đau: Âm Nhiệt Lạc thọ Hàn. 
- Mạch Huyền tất 2 bên sườn câu cấp: Âm Hàn Lạc thọ Nhiệt. 
- Mạch Tế Sác là đầu đau chưa dứt: Dương Nhiệt Lạc thọ Hàn. 
- Mạch Trầm Khẩn tất muốn nôn: Dương Hàn Lạc thọ Nhiệt. 
- Mạch Trầm Hoạt là ‘hiệp Nhiệt lợi’: chư Hàn Lạc thọ Nhiệt. 
- Mạch Phù Hoạt tất Hạ Huyết: chư Nhiệt Lạc thọ Hàn. 
(Tỉ mỉ tìm tòi, xem xét mạch pháp Bản luận, tất nắm được vậy) 

Tiết 143: Chư Khí Kết tại Tấu Bán Lý
- Bệnh tại Dương: tại Thái Dương Hàn Khí. 
- Nên dùng phép Hãn cho giải: nên vậy. 
- Trái lại dùng nước lạnh để phun và xối: trị không đúng, Âm Nhiệt bị Dương Hàn át không ra được, như thế lại càng thêm phiền. 
- Trên da nổi mụn: gọi là Ban chẩn (sởi). 
- Ý muốn uống nước: Âm Nhiệt; trái lại không khát: bị bế bởi Dương Hàn. 
- Văn Cáp Tán: chỉ trị Dương Nhiệt. 
- Ngũ Linh Tán: kiêm trị Dương Nhiệt Dương Hàn Kết tại Đái. 
- Hàn thực kết Hung: Âm Phần Hàn Nhiệt Kết. 
- Không Nhiệt chứng: không chứng Kết của Dương phần Hàn Nhiệt. 
- Tam Vật Tiểu Hãm Hung thang: chỉ trị Âm Nhiệt Kết. 
- Bạch Tán cũng uống được: kiêm trị Âm phần Hàn Nhiệt Kết tại Cách. 

Tiết 144: Chư Kinh Kết tại Tấu Bán Lý. 
- ‘Tinh’ là 3 Dương ‘tinh nhập’ 3 Âm. 
- Đầu gáy cứng đau: chư Dương Kinh Kết tại đầu gáy. 
- Huyễn mạo: chư Âm Kinh Kết tại đầu gáy. 
- Có lúc như Kết Hung: chư Dương Kinh Kết tại Hung (ngực). 
- Dưới Tâm Bĩ rắn: chư Âm Kinh Kết tại dưới Tâm. 
- Châm Đại Chùy (đốt thứ nhất): trị Dương Kinh. 
- Châm Phế Du, Can Du: trị Âm Kinh. 
- Cẩn thận không thể Phát Hãn: bệnh nhập Kinh. 
- Phát Hãn thì nói xàm, mạch Huyền: chư Âm Dương Kinh Kết tại Hung Thượng (trên Hung). 
- 5 - 6 ngày nói xàm không dứt: chư Âm Dương Kinh Kết tại Hung Hạ (dưới Hung ). 
- Châm Kỳ Môn: Huyệt hội của chư Âm Dương Kinh. 


CHƯƠNG 17
THỦ THIẾU DƯƠNG KINH LẠC
(6 Tiết, từ 145 đến 150) 
Nội Kinh nói Thiếu Dương Hoả Khí, Bản Nghĩa nói Thiếu Dương là Dương Nhiệt; hai cách nói này giúp cho người đời sau dễ dàng suy luận Kinh Thiếu Dương gồm có Túc Thiếu Dương Đởm là Kinh Dương Nhiệt – Khí Âm Hàn đối giao với Kinh Túc Khuyết Âm Can là Kinh Âm Hàn - Khí Dương Nhiệt; và Kinh Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu là Kinh Dương Hàn – Khí Âm Nhiệt đối giao với Kinh Thủ Khuyết Âm Tâm Bào Lạc là Kinh Âm Nhiệt - Khí Dương Hàn. Tóm lại, Thiếu Dương là Dương (Hàn + Nhiệt) Trung Hiện, Khuyết Âm là Âm (Hàn + Nhiệt) Trung Hiện; là hiện giữa 2 cặp Âm Dương Hàn Nhiệt để làm đạo lộ giao tế cho các Kinh này. Bản Nghĩa thấy rõ Nguyên Văn đã dùng liên tiếp 4 Chương 17 – 18 – 19 – 20 để nói đến Thiếu Dương không luận về Khí Hoá mà chỉ luận đến Bộ Vị chứng tỏ Thiếu Dương và Khuyết Âm là 1 cặp Kinh rường cột của Tấu Lý có nhiệm vụ làm đường xá và điều hoà các thể Khí Huyết – Thủy Hoả của toàn thân; không làm bệnh mà chỉ thọ bệnh. 
Tiết 145: Thủ Thiếu Dương thọ Thái Dương Thiếu Âm tại Biểu vào Lý
- Đàn bà: Kinh Huyết do Thủ Thiếu Dương Kinh thọ Tấu Huyết rồi nhập vào Huyết thất tùy theo tháng mà hạ, nói sở dĩ Đàn bà khác với Đàn ông là vậy. 
- Trúng Phong phát sốt sợ lạnh: mắc bệnh tại Cơ Nhục. 
- Vừa lúc Kinh Thủy đến: nhập Tấu Huyết phần. 
- Mắc phải 7 - 8 ngày: ngày Dương Kinh nhập Lý. 
- Nhiệt trừ, mạch Trì, mình mát: mạch chứng Thái Dương nhập Lý. 
- Ngực Hông đầy như trạng Kết Hung, nói xàm: Thái Dương chuyển sang Thiếu Âm. 
- Đấy là Thủ Thiếu Dương thọ Thái Dương Thiếu Âm nhập Huyết thất. 
- Châm Kỳ môn: Âm Dương hội Huyệt. 

Tiết 146: Thủ Thiếu Dương thọ Thái Dương tại Biểu vào Lý
- Trúng Phong 7 – 8 ngày: Thái Dương tái Kinh nhập Lý. 
- Tiếp đến bị nóng lạnh phát lên có lúc: hiệp Tấu chứng. 
- Kinh Thủy vừa dứt: không thọ tại Tấu Thiếu Âm Huyết. 
- Đấy là Nhiệt nhập Huyết thất, Huyết ở đó tất Kết: chỉ thọ Thái Dương Kết. 
- Khiến nên trạng như sốt rét phát lên có lúc: Dương phần Hàn Nhiệt muốn ra ngoài. 
- Tiểu Sài Hồ thang làm chủ. 

Tiết 147: Thủ Thiếu Dương thọ Thiếu Âm tại Biểu vào Lý
- Thương Hàn phát sốt: thọ Thiếu Âm Hàn Nhiệt tại Tấu. 
- Kinh Thủy vừa đến: lại thọ Tấu Huyết. 
- Ban ngày tỉnh táo: bệnh không tại Thái Dương. 
- Đêm thì nói xàm như trạng thấy quỉ: bệnh tại Thiếu Âm. 
- Đây là Thủ Thiếu Dương thọ Thiếu Âm nhập Huyết thất. 
- Đừng phạm Vị Khí, tức hạ tiêu Thận Khí, ý nói nên trị hạ tiêu Huyết phần. 
- Và 2 Tiêu trên tất tự khỏi: không cần trị trên vậy. 

Tiết 148: Thủ Thiếu Dương thọ Thái Dương tại Lý ra Biểu
- 6 – 7 ngày phát sốt hơi sợ lạnh: tại Âm Dương giao giới. 
- Tay chân khớp xương đau nhức: Thủ Thiếu Dương Kinh đi phía bên thân. 
- Hơi nôn ụa: Hàn từ Lý ra Ngoại. 
- Dưới Tâm chi Kết, Ngoại chứng chưa hết: Kết tại phía bên thân mà chưa lui đi, bản phương Sài Hồ Quế Chi thang làm chủ. 

Tiết 149: Thủ Thiếu Dương thọ Thiếu Âm tại Lý ra Biểu. 
- Đã phát Hãn mà lại còn cho Hạ: Biểu Lý bệnh đã giải. 
- Ngực Hông đầy hơi Kết: tại Tấu chưa giải. 
- Tiểu tiện không lợi: thọ Bản Nhiệt. 
- Khát mà không nôn: thọ Nhiệt hệ mà không thọ Hàn truyền. 
- Chỉ đầu ra mồ hôi: tại Tấu Bán Lý chưa giải. 
- Nóng lạnh qua lại: tại Tấu Bán Biểu chưa giải. 
- Sài Hồ Quế Chi Can Khương thang làm chủ. 

Tiết 150: Thủ Thiếu Dương thọ Thái Dương Thiếu Âm tại Lý ra Biểu
- 5 – 6 ngày: tại Âm Kinh. 
- Đầu đổ mồ hôi: Âm Nhiệt. 
- Hơi sợ lạnh, chân tay lạnh: thọ Âm Hàn. 
- Dưới Tâm đầy: cùng thọ. 
- Miệng không muốn ăn: thọ Dương Hàn. 
- Đại tiện rắn: thọ Dương Nhiệt. 
- Mạch Tế: cùng thọ. 
- Đấy là ‘ Thủ Thiếu Dương Kết Chi Vi’, có Biểu Dương lại có Lý Âm vậy. 
- Mạch Trầm là tại Lý: Dương Hàn nhập Tấu. 
- Đổ mồ hôi là Dương Vi: Âm Nhiệt ra Biểu. 
- Giả như thuần Thiếu Âm Kết, hẳn không có Thái Dương Ngoại chứng hiệp cùng. Đây thì nữa tại Biểu Thái Dương, nữa tại Lý Thiếu Âm. 
- Mạch tuy Trầm Khẩn là Thái Dương Thiếu Âm hiệp mạch, không được chỉ cho là Thiếu Âm mạch. 
- Thiếu Âm không được có mồ hôi, giờ đầu đổ mồ hôi: là Thái Dương Thiếu Âm cộng chứng, cho nên biết chẳng phải có một mình chứng Thiếu Âm. 
- Bệnh do Dương Kinh tại Tấu xuất có thể dùng Tiểu Sài Hồ thang. 
- Bệnh do Âm Kinh tại Tấu xuất đại tiện được sẽ giải. 


CHƯƠNG 18
TÚC THIẾU DƯƠNG KINH LẠC
(6 Tiết, từ 151 đến 156) 
Thiếu Dương là Kinh Trung Hiện nên Khí đồng với Lạc, nói Kinh Lạc cũng không khác nói Kinh Khí. 

Tiết 151: Túc Thiếu Dương thọ Thái Dương Thiếu Âm tại Tấu phân Kết. 
- Thương Hàn 5 - 6 ngày: thọ Thiếu Âm từ Lý ra Tấu. 
- Nôn mà phát sốt: thọ Thái Dương tại Biểu vào Tấu. 
- Chứng Sài Hồ đủ cả: Thái Dương tại Biểu vào Tấu dùng Sài Hồ thang giải. Thiếu Âm tại Lý ra Tấu cũng dùng Sài Hồ thang giải. 
- Chứng Sài Hồ vẫn còn, lại cứ dùng Sài Hồ thang, tất phát sốt đổ mồ hôi mà giải: đấy là phép trị Thái Dương Thiếu Âm tại Tấu Bán Biểu phân Kết. 
- Nếu dưới Tâm đầy mà rắn đau là Thái Dương tại Ngoại nhập Tấu cùng với Thiếu Âm Kết Hung. Đại Hãm Hung thang làm chủ. 
- Thiếu Âm tại Tấu tự làm Kết, đầy mà không đau là Bĩ, Bán Hạ Tả Tâm thang làm chủ, đấy là phép trị Thái Dương Thiếu Âm tại Tấu Bán Lý phân Kết. 

Tiết 152: Túc Thiếu Dương thọ Thái Dương Thiếu Âm tại Tấu hợp Kết. 
- ‘Tinh’ là nhị Dương ’Tinh’ nhập Thiếu Âm. 
- Trái lại cho Hạ thành Kết Hung, dưới Tâm rắn: bởi ‘Tinh’ bệnh mà cho Hạ. 
- Hạ lợi không dứt: Bản Hàn hiệp Tiêu Âm. 
- Nước cháo không xuống được: Bản Nhiệt hiệp Tiêu Dương. 
- Người bệnh Tâm phiền: hiệp tại Tấu vào Cách. 

Tiết 153: Túc Thiếu Dương thọ Thái Dương Bản Hàn làm Bĩ. 
- Phù là mạch Thiếu Âm tại Biểu, Khẩn là Thái Dương mạch tại Biểu. 
- Cho Hạ, mạch Khẩn nhập Lý làm Bĩ, án tay thấy mềm là chỉ Bản Hàn làm Bĩ thôi. 
(Riêng Hàn riêng Nhiệt thì Nhu Bĩ; Hàn Nhiệt hiệp thì Ngạnh Bĩ). 

Tiết 154: Túc Thiếu Dương thọ Thái Dương Thiếu Âm Kết tại Tấu, thực. 
- Thái Dương: Bản Hàn; Trúng Phong: Bản Nhiệt. 
- Hạ lợi: Thái Dương truyền vào Thiếu Âm. 
- Nôn ngược: Thiếu Âm chuyển ra Thái Dương. 
- Tại Bán Biểu giải rồi mới có thể công Bán Lý. 
- Nhâm nhấp đổ mồ hôi phát tác có lúc: Tiêu Dương hiệp Tiêu Âm. 
- Đầu đau dưới Tâm Bĩ, rắn đầy, dẫn đến dưới hiếp đau: Bản Hàn hiệp Bản Nhiệt. 
- Nôn khan, thở vắn: Bản Hàn hiệp Tiêu Âm. 
- Đổ mồ hôi không sợ lạnh: Bản Nhiệt hiệp Tiêu Dương. 
- Đấy là Bán Biểu giải, dồn vào Bán Lý chưa hoà, Thập Táo thang làm chủ. 

Tiết 155: Túc Thiếu Dương thọ Thái Dương Thiếu Âm Kết tại Tấu, hư. 
- Phát Hãn bèn phát sốt sợ lạnh: Biểu hư. 
- Lại cho Hạ, dưới Tâm Bĩ: Lý hư. 
- Hãn thì Biểu hư, Hạ thì Lý hư, tại Tấu Âm Dương nhân đó mà kiệt. 
- Tại Tấu không có Nhiệt của Dương Khí, Độc (một mình) thọ Hàn của Âm Khí. 
- Lại thêm Thiêu Châm nhân đó Hung phiền: tại Cách thất trị. 
- Sắc mặt xanh vàng, da thịt máy giật, khó trị: tại Cách không Âm Nhiệt. 
- Sắc hơi vàng, tay chân ấm, dể khỏi: tại Cách có Âm Nhiệt. 

Tiết 156: Túc Thiếu Dương thọ Thiếu Âm Bản Nhiệt làm Bĩ. 
- Dưới Tâm Bĩ, án vào thấy mềm: chỉ Nhiệt Khí làm Bĩ. 
- Mạch Túc Thiếu Dương Đởm, xem ở Bộ Quan, thọ Bản Nhiệt cho nên Phù Hoạt. 
- Đại Hoàng Hoàng Liên Tả Tâm thang làm chủ. 


CHƯƠNG 19

THỦ THIẾU DƯƠNG BỘ VỊ
(6 Tiết, từ 157 đến 162) 
Hai Kinh Âm Dương Trung Hiện là cốt lõi của Tấu Lý có chức năng điều hoà lưu thông các thể Khí - Huyết, Thủy - Hoả trao đổi sinh hoạt nơi thân người. Nguyên Văn liên tục dùng 4 Chương 17 – 18 – 19 – 20 để thuyết minh vấn đề này. Bản Nghĩa phân hiểu được rành mạch chẳng những chứng tỏ rất thông suốt Nguyên Văn mà còn nhắc nhở được người sau cần lưu tâm vai trò của Tấu gắn liền với các Kinh Âm Dương Trung Hiện. 

Tiết 157: Thủ Thiếu Dương Kết tại Tấu, 
chuyển Âm phần Hàn Nhiệt ra Ngoại. 
- Tâm hạ Bĩ: thọ Kết của Âm phần Hàn Nhiệt. 
- Lại sợ lạnh, đổ mồ hôi: chuyển Âm Tà ra Ngoại. 
- Phụ Tử Tả Tâm thang làm chủ. 

Tiết 158: Thủ Thiếu Dương Kết tại Tấu
chuyển Dương phần Hàn Nhiệt vào Nội. 
- Vốn là Bản Hàn, bởi cho Hạ nên hiệp Tiêu Dương mà dưới Tâm Bĩ. 
- Dùng Tả Tâm thang không giải: không phải để trị Bĩ của Dương Tà. 
- Khát mà miệng táo phiền: Tiêu Dương Kết ở Nội. 
- Tiểu tiện không lợi: Bản Hàn Kết ở Nội. 
- Ngũ Linh Tán làm chủ. 

Tiết 159: Thủ Thiếu Dương thọ Thái Dương Thiếu Âm tại Cách. 
- Thương Hàn đổ mồ hôi sau khi giải: Thái Dương tại Ngoại giải. 
- Trong Vị không hoà: Thái Dương nhập Nội hiệp Thiếu Âm chưa giải. 
- Dưới Tâm Bĩ rắn: thọ Thái Dương Thiếu Âm Kết. 
- Ợ khan mùi đồ ăn: Thiếu Âm tại Cách hạ đi lên. 
- Dưới Hiếp có Thủy Khí, trong bụng sôi lụp bụp, ỉa chảy: Thái Dương tại Cách thượng đi xuống. 
- Sinh Khương Tả Tâm thang làm chủ: Sinh Khương tán Kết tại Cách; Can Khương, Bán Hạ trị Dương Hàn; Hoàng Cầm, Hoàng Liên trị Âm Nhiệt; Nhân Sâm, Cam Thảo, Đại táo trợ Vị Khí là chủ tại Cách. 

Tiết 160: Thủ Thiếu Dương thọ Thái Dương Thiếu Âm Kết tại Cách thượng. 
- Thương Hàn Trúng Phong: đồng thời thọ Phong Hàn. 
- Thầy thuốc trái lại cho Hạ: Phong Hàn nhập Lý. 
- Người bệnh hạ lợi ngày vài mươi lượt, cơm nước không tiêu hoá, trong bụng sôi lụp bụp: Thái Dương hiệp Thiếu Âm hạ lợi. 
- Dưới Tâm Bĩ mà rắn đầy: Thái Dương Thiếu Âm hiệp làm rắn. 
- Nôn khan: Hàn truyền. 
- Tâm phiền, không yên được: Nhiệt hệ. 
- Thầy thuốc thấy dưới Tâm Bĩ, không biết Bĩ do bởi Hạ làm nên, lại cho Hạ nữa, chứng Bĩ càng thêm nặng. 
- Đấy không phải là thực Kết, mà là trong Vị hư trống; Chính hư, Khách Khí nghịch lên làm rắn. 
- Cam Thảo Tả Tâm thang làm chủ. 

Tiết 161: Thủ Thiếu Dương thọ Thái Dương Thiếu Âm Kết tại Đái. 
- Thương Hàn: thọ Biểu Hàn đồng thời thọ Hàn truyền Kinh. 
- Uống thuốc thang hạ lợi không dứt: Lưỡng Hàn hiệp bệnh. 
- Trong Tâm Bĩ rắn: đồng thời thọ Bản Nhiệt. 
- Uống Tả Tâm thang rồi lại dùng thuốc khác cho Hạ, lợi không dứt: trị Bản Nhiệt mà không trị Bản Hàn. 
- Dùng Lý Trung thang, lợi càng thêm nhiều: trị Trung tiêu mà không trị đến Hạ tiêu. 
- Đây là lợi tại Hạ tiêu, Xích Thạch Chỉ Võ Dư Lương thang làm chủ: phép ‘ tắc nhân tắc dụng’ vậy. 
- Lại còn lợi không dứt, nên cho lợi tiểu tiện: phép ‘ thông nhân thông dụng’ vậy. 
Tiết 162: Thủ Thiếu Dương thọ Thái Dương Thiếu Âm truyền chư Kỳ Kinh. 
- Thương Hàn: thọ Phong Hàn truyền chư Kỳ Kinh. 
- Thổ Hạ rồi: Lý hư - Phát Hãn: Biểu hư. 
- Hư phiền: Tấu hư - Mạch rất Vi: Cách hư. 
- 8 – 9 ngày: ngày Thái Dương nhập Lý. 
- Dưới Tâm Bĩ rắn: cùng với Thiếu Âm Kết. 
- Dưới Hiếp đau, Khí xung lên Yết hầu: truyền Xung Kinh. 
- Huyễn mạo, Kinh mạch rung động: truyền Đốc Kinh. 
- Lâu ngày thành chứng Nuy: truyền Nhâm Kinh. 


CHƯƠNG 20
TÚC THIẾU DƯƠNG BỘ VỊ
(7 Tiết, từ 163 đến 169) 
Thiếu Dương là Dương (Hàn + Nhiệt) Trung Hiện gồm có Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu và Túc Thiếu Dương Đởm là cốt lõi của Tấu Lý; tại Chương 19 đã luận Bộ Vị của Thủ Thiếu Dương, chương này tiếp luận Túc Thiếu Dương Bộ Vị cho thấy rõ vai trò của các cặp Âm Dương Trung hiện. 

Tiết 163: Túc Thiếu Dương Kết tại Tấu. 
- Phát Hãn, Thổ Hạ sau khi giải: các Bộ Vị đã giải, chỉ tại Tấu phần chưa giải. 
- Dưới Tâm Bĩ rắn: thọ Dương Hàn Âm Nhiệt Kết tại dưới Tâm. 
- Ợ hơi không khỏi: Kết ở dưới mà Khí thăng lên trên. 
- Toàn Phúc Hoa Đại Giả Thạch thang làm chủ. 

Tiết 164: Túc Thiếu Dương Kết tại Cơ. 
- Sau khi Hạ, không thể lại dùng Quế Chi thang: cùng với ‘sau khi Hãn, không thể lại dùng Quế Chi thang’ xem xét; Kia nói tại Biểu đến Cơ, đây nói tại Lý đến Cơ. 
- Hãn ra mà Suyễn: tại Cơ phần Dương Nhiệt. 
- Không nóng lắm: Âm Nhiệt chuyển sang Dương Nhiệt. 
- Ma Hoàng Thạch Cao Hạnh Nhân Cam Thảo thang làm chủ. 

Tiết 165: Túc Thiếu Dương Kết tại Biểu tại Lý. 
- Thái Dương Bệnh Ngoại chứng chưa trừ: Bản Hàn chưa giải, Tiêu Dương cũng chưa giải. 
- Mấy lần cho Hạ bèn hiệp Nhiệt mà lợi, lợi Hạ không dứt: Tiêu Dương hiệp Bản Hàn mà lợi, Bản Hàn cũng hiệp Tiêu Âm mà lợi không dứt. 
- Dưới Tâm Bĩ rắn: Kết tại Bán Lý. 
- Biểu Lý không giải: cớ bởi Kết tại Tấu không giải. 
- Quế Chi Nhân Sâm thang làm chủ. 

Tiết 166: Túc Thiếu Dương tại Bán Biểu Bán Lý phân trị. 
- Sau khi đại Hạ: Lý hư. 
- Lại Phát Hãn: Biểu hư. 
- Dưới Tâm Bĩ: Kết tại Tấu. 
- Sợ lạnh là Biểu chưa giải: 
. Trước giải Bản Hàn tại Biểu, dùng Quế Chi thang. 
. Sau giải Bản Nhiệt tại Tấu, dùng Đại Hoàng Hoàng Liên Tả Tâm thang. 
- Thái Dương Thiếu Âm nên phân trị vậy. 


Tiết 167: Túc Thiếu Dương tại Bán Biểu Bán Lý hiệp trị. 
- Phát sốt đổ mồ hôi không giải: tại Bán Biểu. 
- Dưới Tâm Bĩ rắn: tại Bán Lý. 
- Nôn mửa: Hàn Nhiệt hiệp ở trên. 
- Hạ lợi: Hàn Nhiệt hiệp ở dưới. 
- Đại Sài Hồ thang làm chủ. 

Tiết 168: Túc Thiếu Dương Kết tại Cách. 
- Quế Chi chứng: Dương Hàn. 
- Như chứng Quế Chi: Âm Hàn. 
- Đầu không đau, gáy không cứng: bệnh không do Dương Hàn. 
- Mạch Thốn hơi Phù: Bệnh tại Âm Hàn. 
- Trong Hung Bĩ rắn: Túc Thiếu Dương Kết. 
- Khí xung lên Yết hầu không thở được: Kết tại Cách. 
- Đấy là Âm phần Hàn Nhiệt lên ở Cách, nên cho Thổ, dùng Qua Đế Tán. 
- Các bệnh vong Huyết không thể uống: nói Thủ Tam Âm Kinh Huyết hư, không thể dùng. 

Tiết 169: Túc Thiếu Dương Kết tại Tấu truyền các Kỳ Kinh. 
- Dưới Hiếp vốn có Bĩ: bình thời vốn có chứng Kết tại Đởm Kinh. 
- Lan đến bên rốn: truyền Xung Kinh. 
- Đau dẫn xuống bụng dưới: truyền Đốc Kinh. 
- Vào Âm cân: truyền Nhâm Kinh. 
- Đây là Thận Tạng thọ Kết, chứng chết vậy. 

CHƯƠNG 21
PHONG HÀN TẠI CÁCH MÔ
(11 Tiết, từ 170 đến 180) 
Cách Mô không chỉ là vách ngăn chia Nội Tạng thành 3 vùng Thượng – Trung - Hạ mà còn là nơi hội tụ các Kinh Lạc toàn thân, thông lên Phế rồi có biểu hiện ra Thốn Khẩu là nơi Đông Y dùng để xem mạch, chẩn đoán; Nhất là nghiên cứu Bệnh Lý Tim Mạch không thể bỏ qua Bộ Vị này. 

Tiết 170: Tại Cách chư Lạc thọ Bản Nhiệt làm Thương Hàn. 
- Thương Hàn: chư Lạc thương bởi Hàn thì làm Nhiệt bệnh. 
- Sau khi Thổ Hạ: chư Âm Lạc tại Lý đến Cách. 
- 7- 8 ngày không giải: chư Dương Lạc tại Biểu đến Cách. 
- Nhiệt Kết tại Lý, Biểu Lý đều Nhiệt: chư Lạc Kết Nhiệt tại Cách Lý, sở dĩ Biểu Lý đều Nhiệt. 
- Thỉnh thoảng sợ gió: Lạc của chư Hàn Kinh thọ Nhiệt. 
- Khát lắm trên lưỡi khô ráo mà phiền, muốn uống nước vài thăng: chư Nhiệt Kinh Lạc thọ Nhiệt. 
- Bạch Hổ gia Nhân Sâm thang làm chủ. 

Tiết 171: Tại Cách chư Kinh thọ Bản Nhiệt làm Thương Hàn. 
- Thương Hàn: chư Kinh thương bởi Hàn thì làm Nhiệt. 
- Không đại Nhiệt: Nhiệt nhập Kinh. 
- Miệng ráo khát, Tâm phiền: chư Nhiệt Kinh thọ Bản Nhiệt. 
- Lưng hơi sợ lạnh: chư Hàn Kinh thọ Bản nhiệt. 
- Bạch Hổ gia Nhân Sâm thang làm chủ. 

Tiết 172: Tại Cách chư Khí thọ Bản Nhiệt làm Thương Hàn. 
- Thương Hàn: chư Khí thương bởi Hàn thì làm Nhiệt. 
- Mạch Phù, phát sốt, không mồ hôi: tại Cách chư Khí thọ Nhiệt. 
- Biểu không giải thì không thể dùng Bạch Hổ thang: tại Cách chư Hàn Khí vậy. 
- Khát muốn uống nước không Biểu chứng: tại Cách chư Nhiệt Khí vậy. 
- Bạch Hổ gia Nhân Sâm thang làm chủ. 
(3 Tiết 170 – 171 – 172 Bản Nghĩa đều nói làm Thương Hàn đây là từ quan niệm nhất quán, người quen suy luận tương đối không thể hiểu được, suy gẩm đến tuyệt đối thì mới hiểu được như vậy). 

Tiết 173: Chư Kỳ Kinh tại Cách, Phong Ôn chứng. 
- Thái Dương Thiếu Dương ‘tinh bệnh’: 2 Dương ‘tinh’ (dồn) vào Thiếu Âm, Phong Ôn chứng vậy. 
- Dưới Tâm rắn: chư Kỳ Kinh thọ Phong Ôn tại Hung (ngực) phần. 
- Cổ gáy cứng mà hoa mắt: chư Kỳ Kinh thọ Phong Ôn tại Bối (lưng) phần. 
- Châm Đại Chùy, Phế Du, Can Du: trị chư Kỳ Kinh tại Bối phần. 
- Cẩn thận không thể Hạ: chư Kỳ Kinh tại Hung phần không thể Hạ. Hoặc châm Kỳ Môn, hoặc dùng các thang Tả Tâm, có thể được. 

Tiết 174: Chư Kỳ Kinh tại Cách, Ôn bệnh. 
- Thái Dương với Thiếu Dương hiệp bệnh: Dương Hàn truyền Dương Nhiệt làm Ôn bệnh. 
- Tự Hạ lợi dùng Hoàng Cầm thang: Bản Hàn truyền Tiêu Dương làm Ôn bệnh. 
- Nếu nôn, Hoàng Cầm gia Bán Hạ Sinh Khương thang làm chủ: Ôn bệnh chuyển làm Thương Hàn. 


Tiết 175: Chư Khí Kinh Lạc tại Cách làm Thương Hàn. 
- Trong Hung có Nhiệt: Ôn bệnh thuộc Nhiệt loại. 
- Trong Vị có Tà khí: Vị Nhiệt thọ Hàn. 
- Trong bụng đau: Thấp thọ Hàn. 
- Muốn nôn: Hàn Thấp theo Nhiệt ra Biểu. 
- Hoàng Liên thang làm chủ. 
(Có thể thấy, Thương Hàn là 2 Khí Âm Dương, cùng nhau ly hợp, cùng nhau tuần hoàn. Từ đó phát sinh các tên bệnh vậy. Bản Nghĩa chú rất nhất quán để dẫn cũng như trị, từ Bệnh Lý trở lại Sinh Lý. Nhưng người học đã quen nhìn theo tương đối nên có đổi lại lời chú khác để tiện tham khảo). 

Tiết 176: Chư Kỳ Kinh tại Cách thọ Hàn Thấp. 
- Thương Hàn 8 – 9 ngày: do Thương Hàn chuyển làm Hàn Thấp. 
- Phong Thấp tương bác: Hàn Thấp chuyển sang Phong Thấp. 
- Thân thể đau nhức không thể tự xoay trở được: chư Kỳ Kinh thọ Hàn Thấp. 
- Không nôn không khát: Khí của chư Kỳ Kinh thọ Hàn Thấp. 
- Mạch Phù hư mà Sáp: Lạc của chư Kỳ Kinh thọ Hàn Thấp. 
- Quế Chi Phụ Tử thang làm chủ. 
- Nếu đại tiện rắn: Hàn Thấp chuyển sang Phong Ôn. 
- Tiểu tiện tự lợi: Hàn Thấp chuyển sang Phong Thấp. 
- Khứ Quế gia Bạch Truật thang làm chủ: Khứ Quế Chi vì cớ chuyển sang Phong Ôn, gia Bạch Truật vì cớ chuyển sang Phong Thấp. 

Tiết 177: Chư Kỳ Kinh tại Cách thọ Thái Dương Thiếu Âm làm Phong Thấp. 
- Phong Thấp xung tương bác: do Hàn Thấp chuyển làm Phong Thấp. 
- Xương khớp phiền nhức, đau xiết, sờ đến thì đau dữ dội: chư Kỳ Kinh tại Cách thọ Thái Dương Thiếu Âm làm Phong Thấp. 
- Đổ mồ hôi, hơi thở ngắn, tiểu tiện không lợi: chư Kỳ Kinh thọ Thiếu âm Phong Thấp. 
- Sợ gió, không muốn cởi áo, hoặc mình hơi sưng: chư Kỳ Kinh thọ Thái Dương Phong Thấp. 
- Cam Thảo Phụ Tử thang làm chủ. 
(Tiết trên Thái Dương chuyển sang Thiếu Âm cho nên khứ bỏ Quế Chi. Tiết này Thiếu Âm chuyển sang Thái Dương cho nên lại dùng Quế Chi). 

Tiết 178: Lạc mạch tại Cách làm Thương Hàn. 
- Thương Hàn: Lạc mạch thọ Hàn truyền Kinh. 
- Mạch Phù Hoạt: Lạc mạch thương bởi Hàn mà thành Nhiệt. 
- Đấy là Biểu ‘Lạc’ làm thành Nhiệt bệnh, do Lý ‘Kinh’ bị thương bởi Hàn. 
- Lạc mạch thọ Nhiệt, Bạch Hổ thang làm chủ. 
(Kinh là Lý, phàm thấy ở ngoài đều là Lạc mạch (xem Mạch độ luận). Luận điều này tìm trong sách Thương Hàn không chỉ thấy một lần, riêng chưa nói rõ như ở Tiết này, là chỗ Trọng Sư ‘phụng hát’ (như Thiền Sư ‘đánh hét’ Thiền sinh) khiến cho người học thức tỉnh mãnh liệt về Thương Hàn). 

Tiết 179: Kinh mạch tại Cách làm Thương Hàn. 
- Mạch do chư Khí tích Đản Trung, từ Cách đến Tấu rồi đến Cơ, Kinh mạch Lạc mạch đều như vậy. 
- Mạch Kết là chư Kinh ‘Kết’ tại Cách. 
- Mạch Đại là chư Kinh mạch ‘Đại’ tại Cách. 
- Tâm động quý: chư Âm Kinh hư thì Tâm động, chư Dương Kinh hư thì Tâm quý. 
- Chích Cam Thảo thang làm chủ: còn gọi là Phục Mạch thang, bổ ích Kinh mạch vậy. 

Tiết 180: Lạc mạch Kinh mạch đều thọ Cách Khí. 
- Mạch đến Hoãn có lúc ngừng một lần rồi lại đến: đấy là Âm Dương Khí tương Kết. 
- Mạch đến Động mà giữa chừng ngừng lại đến Tiểu Sác, giữa đó có quay lại Động: đấy là Âm Khí bị Dương Kết, không thể đạt ra Ngoại. 
- Mạch đến Động mà giữa chừng ngừng không thể tự quay về sau đó trở lại Động, lấy mạch khác để Đại (thay thế) nó: đấy là Dương Khí bị Âm Kết, không thể đạt vào Nội. 
- Phàm xem thấy mạch Kết Đại đều khó trị: tại Cách Vị Khí Kiệt vậy. 
(Trong Luận phàm 2 chữ ‘ danh viết’ (gọi tên là), là chỗ Trọng Sư kêu gọi Học giả thức tỉnh, thể nhận Âm Dương trải khắp thân người, mỗi mỗi đều có Bộ Vị rõ ràng. Ở đây, gọi là Kết, gọi là Đại là chỉ Âm Dương tại Cách Bộ). 

Thêm bình luận


Mã an ninh
Làm tươi

6571273
Hôm nay
Hôm qua
Tháng này
Tháng trước
Tổng số
444
4602
93174
97551
6571273