Học Tập Thương Hàn Luận Bản Nghĩa - Phần 2



CHƯƠNG 2: 
THÁI DƯƠNG TRÚNG PHONG TẠI NHỤC PHẦN
(6 Tiết, từ 12 đến 17) 
Trúng Phong là bệnh của Thái Dương Tiêu Dương, Kinh Thái Dương có Bản là Hàn, có Tiêu là Nhiệt, Hàn làm bệnh tại Tiêu là Phong (Hàn + Nhiệt); Khí Hoá làm bệnh tại 1 Kinh nơi Trung Khí của Tiêu Bản là vậy. Cơ Nhục cũng là Bộ Vị ở giữa Bì Phu và Tấu cho nên bệnh Thái Dương Trúng Phong tại Cơ Nhục là tương hợp giữa Khí Hoá và Bộ Vị nơi thân người. 

Tiết 12: Thái Dương Trúng Phong tại Nhục phần. 
- Thái Dương Trúng Phong: Trúng Phong Thương Hàn đều là Thái Dương Bệnh. Đây không nói “bệnh”, cho đến các Kinh Trúng Phong đều không nói bệnh để ưu tiên chỉ nói bệnh do Hàn truyền. 
- Dương Phù mà Âm Nhược: đây là Mạch của Thái Dương Trúng Phong Hàn loại khác với Mạch Phù Khẩn của Trúng Phong Nhiệt loại. 
- Dương Phù thì Nhiệt tự phát, Âm Nhược thì Hạn tự ra: Trúng Phong tại Nhục phần. 
- Gây gây ghét lạnh: chứng thuộc Thái Dương, Thái Âm. 
- Rờn rợn ghét gió: chứng thuộc Dương Minh, Khuyết Âm. 
- Hâm hấp phát Nhiệt: chứng thuộc Thiếu Dương, Thiếu Âm. 
- Mũi kêu: chứng thuộc các Kinh Dương. 
- Nôn khan: chứng thuộc các Kinh Âm. 
- Quế Chi thang làm chủ: trị nhất thiết các Kinh Trúng Phong thuộc Hàn loại tại Nhục phần. 

Tiết 13: Tại Nhục phần Thái Dương Kinh Khí Trúng Phong. 
- Đầu đau: Thái Dương Kinh. 
- Phát nóng đổ mồ hôi: Thái Dương Khí. 
- Ghét gió: tại Nhục phần. 
- Quế Chi thang làm chủ: trị Thái Dương Kinh Khí Trúng Phong. 

Tiết 14: Tại Nhục phần Thái Dương Kinh Lạc Trúng Phong. 
- Gáy, Lưng cứng đơ: Gáy Lưng đều là Kinh, chỗ liền nhau là Lạc; cứng đơ ở chỗ Kinh Lạc giao liên. 
- Trái lại đổ mồ hôi ghét gió: bệnh tại Kinh Lạc trái lại mồ hôi do Khí phần mà xuất ra. 
- Quế Chi gia Cát Căn thang làm chủ: trị Thái Dương Kinh Lạc Trúng Phong. 

Tiết 15: Tại Nhục phần Âm Hàn Khí Trúng Phong. 
- Thái Dương bệnh sau khi Hạ mà Khí xung lên: Hàn Khí vẫn tại Ngoại. 
- Nên cho uống Quế Chi thang, phép dùng uống như trước: thuộc Thái Dương. 
- Nếu không xung lên không thể dùng: Hàn Khí tại Nội, thuộc Thái Âm Khuyết Âm. 

Tiết 16: Dương Hàn Trúng Phong khác với Dương Nhiệt Trúng Phong. 
- Thái Dương bệnh: Thái Dương Tiêu Khí thọ bệnh. 
- 3 ngày: ngày 3 Dương hành Kinh. 
- Đã Phát hãn, nếu Thổ, nếu Hạ, nếu Ôn châm: phàm thuộc Dương Hàn Kinh Khí đã trị. 
- Vẫn không giải, đấy là hoại bệnh: chẳng phải Bản Dương Hàn bệnh mà là Tiêu Dương Nhiệt bệnh, Bản Dương Hàn bị Tiêu Dương Nhiệt làm Hoại, gọi là Hoại bệnh. 
- Dùng Quế Chi thang không trúng: bệnh tại Tiêu Khí tức Dương Nhiệt Khí cho nên vậy. 
- Xem mạch chứng, biết phạm vào nghịch nào, hoặc nghịch do Bản Hàn truyền, hoặc nghịch do Tiêu Nhiệt tự bệnh, hoặc nghịch do Bản Nhiệt chuyển, tùy chứng mà chữa. 

Tiết 17: Thái Dương Trúng Phong khác với Thiếu Âm Trúng Phong. 
- Quế chi (thang) vốn là giải chứng Thái Dương tại Nhục phần. 
- Nếu người bệnh mạch Phù Khẩn là mạch Thái Dương chuyển Thiếu Âm. 
- Phát nóng mồ hôi không ra: chứng Thái Dương chuyển Thiếu Âm. 
- Không thể cho uống: vì đã chuyển Thiếu Âm (làm Thiếu Âm Trúng Phong tại Bì phần). 
- Phải nên biết như thế, chớ để lầm: Cần phân biệt Hàn Nhiệt. Thái Dương Bản Hàn với Thiếu Âm Tiêu Âm đồng Khí Âm Hàn. Thái Dương Tiêu Dương với Thiếu Âm Bản Nhiệt đồng Khí Dương Nhiệt. 


CHƯƠNG 3: 
TRÚNG PHONG THƯƠNG HÀN TRUYỀN KINH
(6 Tiết, từ 18 đến 23) 
Trúng Phong Thương Hàn là bệnh tại Kinh Thái Dương được Kinh này Truyền và các Kinh còn lại đều Thọ chịu. Tấu là đường Truyền Chuyển Sinh Bệnh lý nơi thân người, luận bệnh Truyền Chuyển tại Biểu không thể bỏ qua Nhục phần là Bộ Vị giữa Bì Tấu, luận bệnh Truyền Chuyển tại Lý cũng không thể bỏ xót Trung phần giữa 2 Bộ Vị Thượng Hạ. Nơi các Chương 3 - 4 – 5 Bản Nghĩa đều có nói tại Nhục phần là đều không thể phủ nhận nhưng lại khó hiểu đối với người cố chấp và mới học, nên xin phép được Tùy Duyên lược giản. Các Chương này chứng tỏ Thái Dương Bệnh là Truyền Kinh Bệnh. 

Tiết 18: Dương Nhiệt Kinh Trúng Phong. 
- Tửu khách bệnh không thể dùng Quế Chi thang: Dương Minh Nhiệt Kinh hành Nhiệt Khí, nên lấy làm tỉ dụ. 
- Uống thang vào thì nôn ói: Thiếu Dương Kinh cũng hành Nhiệt Thủy. 
- Bởi vì người nghiện rượu không ưa của ngọt: Đồng là Dương Nhiệt Thủy Kinh cho nên đồng không ưa Quế Chi thang cam ôn. 

Tiết 19: Âm Hàn Kinh Trúng Phong. 
- Suyễn: Dương Hàn. 
- Suyễn gia: Âm Hàn là Bản Khí của Dương Hàn nên được gọi là ‘gia’. 
- Dùng thang Quế Chi gia Hậu Phát Hạnh Nhân: Trị Âm Hàn Khí Suyễn. 

Tiết 20: Âm Nhiệt Kinh Trúng Phong. 
- Phàm uống thang Quế Chi mà mửa: vì dùng Quế Chi thang ngộ trị Âm Nhiệt. 
- Kỳ hậu (về sau) tất mửa ra mủ máu: vì dùng Quế Chi thang ngộ trị Âm Nhiệt Kinh (Kinh tại Khí chi hậu cho nên nói Kỳ hậu). 

Tiết 21: Thương Hàn truyền Tam Âm Kinh. 
- Thái Dương bệnh, Phát hãn rồi mồ hôi ra không ngừng: Thái Dương Hàn Khí truyền Tam Âm. 
- Sợ gió: tại Nhục phần. 
- Đi đái khó: truyền Âm Nhiệt Kinh. 
- Tay chân hơi căng cứng, khó co duỗi: truyền Âm Hàn Kinh. 
- Quế Chi gia Phụ Tử thang làm chủ. 

Tiết 22: Thái Dương Thương Hàn truyền Thủ Túc Tam Âm. 
- Mạch Xúc hung đầy: Truyền Thủ Tam Âm. 
. Quế Chi khứ Bạch Thược thang làm chủ. 
- Hơi sợ lạnh: Truyền Túc Tam Âm. 
. Quế Chi khứ Bạch Thược gia Phụ Tử thang làm chủ. 

Tiết 23: Thái Dương Thương Hàn truyền Thủ Túc Tam Dương. 
- Mắc phải 8 – 9 ngày: bệnh Tái Kinh. 
- Như trạng sốt rét: tại Biểu muốn nhập Tấu phần. 
- Phát sốt sợ lạnh: chứng Thái Dương. 
- Nóng nhiều lạnh ít: chứng Dương Minh Thiếu Dương. 
- Người bệnh không nôn: Thiếu Dương không nhập Lý. 
- Đại tiện như thường: Dương MInh không nhập Lý. 
- Một ngày phát 2 - 3 lần, mạch Vi Hoãn: các Dương Kinh vẫn tại Dương phần muốn tùy theo giờ Vượng ra ngoài rồi giải. 
- Mạch Vi mà sợ lạnh: đó là tại Nhục phần Âm Dương đều hư không thể lại Hạn, Thổ, Hạ nữa. 
- Sắc mặt trái lại có sắc Nhiệt: Bản Hàn truyền Thủ Dương Kinh muốn giải mà chưa giải. 
- Không ra được chút ít mồ hôi cho nên mình tất ngứa: Bản Hàn truyền Túc Dương Kinh không ra được chút ít mồ hôi để giải. 
- Nên dùng Quế Chi Ma Hoàng Các Bán thang: chỉ phát hạn của Dương Kinh nên nói tiểu (chút ít), có Dương Nhiệt tại Nội nên nói nghi (nên dùng). Bệnh muốn giải từ Nhục ra Bì nên dùng cả 2 phương Quế Chi, Ma Hoàng mỗi thứ một nữa. 

CHƯƠNG 4: 
THƯƠNG HÀN LOẠI VÀ TRÚNG PHONG LOẠI
(7 Tiết, từ 24 đến 30 ) 
Bản Nghĩa chỉ nói Thương Hàn Loại là Đạo thống nhất, lý này người học khó theo kịp; Xin nói thêm Trúng Phong Loại (Nhiệt loại) theo Nghĩa đối lập với Thương Hàn Loại (Hàn loại). 
Tiết 24: Thái Dương Bản Khí, Tiêu Khí cùng bệnh. 
- Thái Dương bệnh: Thái Dương Tiêu Bản làm bệnh. 
- Mới đầu uống Quế Chi thang: Trị Bản Khí. 
- Trái lại phiền không giải: có Tiêu Khí tại Nội. 
- Trước Châm Phong Trì, Phong Phủ: trước trị Tiêu Khí. 
- Rồi lại dùng thang Quế Chi thì khỏi: rồi sau trị Bản Hàn. 

Tiết 25: Bản Hàn truyền làm Hàn Thấp, Phong Thấp. 
- Uống Quế Chi thang: trị Bản Hàn. 
- Ra nhiều mồ hôi: Hàn truyền Âm Kinh. 
- Mạch Hồng Đại: Tiêu Dương đi theo Bản Hàn. 
- Dùng thang Quế Chi như phép trước: trị Bản Hàn truyền làm Hàn Thấp. 
- Hình như sốt rét, ngày phát 2 lần: Hàn Thấp chuyển làm Phong Thấp. 
- Ra mồ hôi tất giải: bởi tại Nhục phần. 
- Nên dùng Quế Chi Nhị Ma Hoàng Nhất thang: giải từ Nhục ra Bì. 

Tiết 26: Tiêu Dương lìa Bản Hàn làm Nhiệt bệnh. 
- Uống Quế Chi thang: trị Bản Hàn. 
- Sau khi ra nhiều mồ hôi: Bản Hàn đi. 
- Bứt rứt khát nước lắm, không giải, mạch Hồng Đại: Tiêu Dương theo Bản Nhiệt. 
- Bạch Hổ gia Nhân Sâm thang làm chủ. 

Tiết 27: Dương Nhiệt thọ Dương Hàn làm Ôn bệnh. 
- Phát nóng sợ lạnh: Thái Dương bệnh. 
- Nóng nhiều lạnh ít: Chứng Tiêu Dương lìa bỏ Bản Hàn. 
- Mạch Vi Nhược, đấy là ‘không có Dương’: Dương Hàn truyền Dương Nhiệt làm Ôn bệnh. Không còn bệnh tại Dương Hàn nên gọi là Vô Dương. 
- Không thể Phát hãn: bởi không có Dương Hàn. 
- Nên dùng Quế Chi Nhị Việt Tỳ Nhất thang: Phải Việt (vượt) hạn của Dương Nhiệt. Dương Hàn là chủ, Dương Nhiệt là Tỳ. Giải Dương Nhiệt từ Tấu đến Nhục. 

Tiết 28: Dương Nhiệt thọ Dương Hàn - Âm Nhiệt làm Phong Ôn. 
- Uống Quế Chi thang: trị Bản Dương Hàn. 
- Hoặc dùng phép Hạ: trị Tiêu Dương Nhiệt. 
- Nhưng đầu gáy vẫn cứng đau: thọ Dương Hàn truyền Kinh. 
- Hâm hấp phát sốt, không mồ hôi: thọ Âm Nhiệt. 
- Dưới Tâm đầy hơi đau, tiểu tiện không lợi: thọ Phong Ôn tại Lý. 
- Quế Chi khứ Quế gia Phục Linh Bạch Truật thang làm chủ: Quế Chi đứng đầu tên thang là vì Tiêu Dương bệnh do Bản Hàn đưa tới. Khứ Quế Chi vì đã chuyển Bản Nhiệt. Gia Phục Linh Bạch Truật trị nhập Lý làm Phong Ôn. 

Tiết 29: Cứu ngộ Trúng Phong Loại Ôn bệnh. 
- Thương Hàn Loại: gọi bệnh nhập từ ngoài. 
- Mạch Phù: mạch tại Nhục phần. 
- Tự đổ mồ hôi: chứng tại Nhục phần. 
- Tiểu tiện nhiều lần (Sác): Tiêu Dương. 
- Tâm phiền: Thọ Bản Nhiệt. 
- Hơi sợ lạnh: Bản Hàn truyền Kinh. 
- Chân co quắp: Bản Hàn truyền Kinh tất Bản Nhiệt chuyển hệ. 
- Trái lại dùng Quế Chi thang công Biểu, thế là lầm: Lầm bởi không biết Ôn bệnh thuộc Thương Hàn Loại nên dùng Quế Chi Nhị Việt Tỳ Nhất thang, trái lại còn dùng Quế Chi thang. 
- Uống vào bèn phát quyết: Vì dùng Quế Chi trị Tiêu Dương Nhiệt, Nhiệt cực phản Quyết. 
- Trong họng khô: Tiêu Dương thọ Bản Nhiệt. 
- Phiền táo thổ nghịch: Tiêu Dương thọ Bản Hàn. 
- Làm thang Cam Thảo Can Khương cho dùng để phục hồi Dương: Trước trị Bản Hàn. 
- Quyết khỏi, chân ấm, lại làm thang Thược Dược Cam Thảo cho uống chân liền duỗi được: Sau trị Bản Nhiệt. 
- Nếu nói xàm dùng Điều Vị Thừa Khí thang: Điều hoà Bản Hàn Bản Nhiệt tại Nhục phần. 
- Nếu phát hãn đôi lần, lại gia thiêu châm, Tứ Nghịch thang làm chủ: Trị Bản Hàn Bản Nhiệt hư tại Nhục phần. 

Tiết 30: Cứu ngộ Trúng Phong Loại Phong Ôn. 
- Chứng giống Dương Đán: Gọi Phong do Nội xuất. Chứng Dương Đán do Thiếu Âm chuyển sang Thái Dương. Đây là chứng Phong Ôn do Thiếu Âm chưa chuyển Thái Dương, đều tại Nhục phần, ngộ trị nên thêm nặng. 
- Quyết Nghịch: thọ Bản Hàn truyền. 
- Trong họng khô: thọ Bản Nhiệt chuyển. 
- Bứt rứt vật vã, mửa ngược: Cùng thọ. 
- 2 ống chân co quắp mà nói xàm: Bản Hàn Bản Nhiệt xâm lấn nhau ở dưới, quấy nhiểu nhau ở trên. 
- Nữa đêm 2 chân ấm, 2 ống chân duỗi: Nữa đêm Dương Khí lại, Âm Huyết hoà. 
- Mạch Phù thì là Phong: Bản Hàn Bản Nhiệt hiệp. 
- Đại thì là hư: Bản Hàn Bản Nhiệt cùng hư. 
- Phong thì sinh sốt nhẹ: hiệp Tiêu Dương. 
- Hư thì 2 ống chân co rút: thọ Bản Hàn. 
- Chứng giống Quế Chi; nhân bởi gia thêm Phụ Tử vào, tăng Quế khiến cho đổ mồ hôi: Trị lầm bệnh Phong Ôn. 
- Phụ Tử làm ấm Kinh cho nên vong Dương: Vong Thiếu Âm Nhiệt Khí, bởi vì dùng Nhiệt trị Nhiệt. 
- Quyết nghịch: thọ Hàn truyền. 
- Trong Yết khô, Dương Minh Nội Kết, nói xàm, bứt rứt rối loạn: Dương Nhiệt thọ Bản Nhiệt. 
- Làm thang Cam Thảo Can Khương cho uống, Nữa đêm Dương Khí trở lại, 2 chân ấm: Trước trị Bản Hàn. 
- 2 ống chân còn hơi co quắp, dùng thang Thược Dược Cam Thảo, thế là chân duỗi được: Sau trị Bản Nhiệt. 
- Dùng Điều Vị Thừa Khí thang, phân hơi nát, dứt chứng nói xàm thì bệnh có thể khỏi: Điều hoà Bản Hàn Bản Nhiệt để ổn định bệnh Phong Ôn do Nội xuất. 
 

Thêm bình luận


Mã an ninh
Làm tươi

6348971
Hôm nay
Hôm qua
Tháng này
Tháng trước
Tổng số
4497
4355
116873
138003
6348971