Học Tập Thương Hàn Luận Bản Nghĩa - Phần 2

HỌC TẬP THƯƠNG HÀN LUẬN BẢN NGHĨA

TẬP 1

Từ lúc tiếp nhận được các di cảo của Cụ Lưu Thủy đến khi đúc kết được cuốn Đông Y với truyền thống Đạo Học Khí Hoá, tư tưởng của tôi đã trải qua 3 giai đoạn: 

- Hớn hở: Tôi mừng rở như vừa gặp một Kỳ nhân và được trao một bí kiếp về Đông Y, tôi chan chứa hy vọng trên bước đường học tập.

- Chán nản: Sau một thời gian dài đọc các di cảo, tôi vẫn thấy chưa hiểu nỗi, tôi gần như mất dần lòng tin đối với các tác phẩm này. 

- Kiên trì: Tôi chợt tỉnh thức, không thể nóng vội, không thể dùng trí thức và lòng dạ hẹp hòi của mình để tiếp thu một tác phẩm giá trị to lớn như vậy; Tôi phải kiên trì học hỏi nâng cao trình độ của mình.


Tôi đã dốc sức học tập Kinh Dịch để rồi kiên trì hơn trong học tập Thương Hàn Luận Bản Nghĩa và đã thu hoạch được một vài nét nhìn như tôi đã trình bày. Tôi ghi lại đôi nét học tập của mình để chia sẻ với những thế hệ sau tôi, không nên xem là chú giải vì nó chưa được chọn lọc, cũng đừng xem nó như một giáo trình vì nó chưa đủ tính sư phạm. Nó chỉ là việc làm cố sức của một người đang mong đợi các thế hệ tương lai.

Nếu thấy vài điều học tập được ghi lại có khác với Bản Nghĩa xin đừng vội cố chấp. Tôi, lúc nào tôi cũng nhớ đến ân ích khai thị của Cụ, vâng lời, tiếp nối và làm cho trong sáng hơn các di cảo của Cụ mà thôi. 

Trong học tập Bản Nghĩa đối chiếu với Nguyên Văn, Kinh Dịch, Phật Pháp, tôi thấy được một lý do làm cho các thế hệ sau đến nay chưa hiểu được nội dung của Thương Hàn Luận là tính cố chấp. Ai cũng biết Âm Dương, Hàn Nhiệt là tương đối nhưng cũng đều không chịu biết Sinh Lý cũng như Bệnh Lý là tình trạng chuyển hoá, đắp đổi giữa hai cực này; Và Đạo Tam Cực gọi sự chuyển hoá đắp đổi này là Trung Đạo; Cũng như Phật Pháp chú trọng Trung Đạo giữa hai cực Nhân Quả là Duyên (Nhân – Duyên – Quả). Bệnh Lý cũng Tùy Duyên mà có, do thọ Hàn truyền hoặc thọ Nhiệt chuyển hoặc cùng thọ. 

Khi làm sách Thương Hàn, Đức Trọng Cảnh cũng rất chính danh. Ví dụ: 

- Thái Dương Bệnh: Gọi chung các bệnh tại Thái Dương. 

- Thương Hàn: Dùng một tên bệnh của Thái Dương Bản Hàn để gọi mọi bệnh do Hàn truyền. 

- Trúng Phong: Dùng một tên bệnh của Thái Dương Tiêu Dương để gọi mọi bệnh do Nhiệt chuyển. 


THIÊN 1: 
THÁI DƯƠNG THƯỢNG
(6 Chương, 41 Tiết) 
Trường hợp làm sách chú giải đầy đủ thì mỗi Tiết đều được trình bày 3 phần: 
- Nguyên Văn: Ghi chữ Hán, dưới mỗi chữ có Âm tiếng Hán Việt. 
- Dịch Nghĩa: dịch gọn nghĩa tiếng Việt đúng theo Nguyên Văn Hán Việt kể trên. 
- Chú Giải: Xác thực, thích hợp với từng phân đoạn tại Nguyên Văn. 
Nhằm giản lược, tôi không ghi lại Nguyên Văn và Dịch nghĩa vì các sách đã có. Chỉ ghi lại các Chương Tiết và các phân đoạn của Tiết đã được Bản Nghĩa Chú Giải mà thôi. 

CHƯƠNG 1: 
THÁI DƯƠNG THỂ LỆ
(11 Tiết, từ 1 đến 11) 
Lý do Luận Kinh trước hết đã nói nơi ý nghĩa tên sách, đây chỉ bàn đến Thể Lệ. Người xưa làm sách thường trước hết trình bày Thể Lệ vì Thể Lệ cũng chính là nguyên tắc không thể tách rời Nội dung của sách. Bản Nghĩa nói Thể Lệ của Thái Dương cũng là Thể Lệ của toàn sách, một sách Bệnh Lý học được kế thừa từ Kinh Dịch có Nội dung không ra ngoài cơ cấu mà Kinh Dịch đã dùng với những quan điểm:
- Toàn thể sự vật là một Thái cực, Thái cực thị sinh Lưỡng Nghi là sự vật đã chia ra Âm Dương, rồi Lưỡng Nghi sinh Tứ Tượng ….. v.. v…… . 
- Sự vật biến dịch trong môi trường không rời 2 dữ kiện Thời và Vị. 
- Sự vật biến dịch theo Đạo Tam Cực gồm cả 2 quy luật Âm Dương thống nhất và Âm Dương đối lập. 

Tiết 1- Thái Dương Bệnh mạch chứng tổng quát. 
- Thái Dương Chi Vi Bệnh: Thái Dương không nói Khí- Kinh- Lạc tức là chỉ nói tổng quát bệnh của Kinh này. Chi Vi Bản Nghĩa chú là Thái Dương Chi Kinh Khí Vi Bệnh nghĩa là Kinh Khí của Thái Dương làm bệnh. Kinh- Khí-Lạc là 3 thành phần cốt lõi của Kinh, Khí lưu động Làm bệnh, Kinh cố định chỉ Thọ bệnh, Lạc quan hệ Âm Dương Hàn Nhiệt là đầu mối Truyền - Chuyển bệnh. Nên hiểu Chi Vi với nghĩa rộng hơn là hai mặt Âm Dương của một sự vật, cụ thể ở đây là Hàn Nhiệt, Tiêu Bản. 
- Mạch Phù: Chứng của Lạc, mạch máu từ Lý ra Biểu. Thái Dương chủ Biểu cho nên mạch bệnh của Thái Dương tại Biểu là Phù. 
- Đầu gáy cứng đau: Chứng của Kinh, Kinh Thái Dương đi qua đầu gáy, Kinh bệnh nên đầu gáy cứng đau. 
- Mà sợ lạnh: Chứng của Khí, Kinh Thái Dương hành Hàn Khí nên người bệnh sợ lạnh. 
(Thấy những lời kể trên khác với Bản Nghĩa vì người học có trình độ không thể hiểu đến chỗ thấy của tác giả nên tạm thời hiểu trước như vậy rồi từ từ vươn lên). 

Tiết 2- Thái Dương Tiêu Dương làm Trúng Phong. 
- Thái Dương bệnh: Gọi là Thái Dương bệnh vì có đủ mạch chứng tổng quát như đã nêu ở Tiết 1. 
- Phát nóng: Thái Dương Tiêu Khí. 
- Đổ mồ hôi: Thái Dương Bản Khí. 
- Sợ gió: Tiêu Bản cùng bệnh. 
- Mạch Hoãn: Vệ Khí tại Nhục phần bị Phong cản trở. 
- Gọi là Trúng Phong: Chỉ bệnh Thái Dương Trúng Phong tại Nhục phần. Tiêu Khí là Dương Nhiệt, Bản Khí là Âm Hàn. Trung cũng như Kinh là Bộ Vị giữa Âm Dương, Phong là Hoà Khí giữa Hàn Nhiệt. Khi Sinh Lý thì nói Trung Phong, khi Bệnh Lý thì nói Trúng Phong, chỉ thêm một dấu sắc mà Sinh Lý được đổi thành Bệnh Lý thật giản dị mà có ý nghĩa vô cùng. 

Tiết 3: Thái Dương Bản Hàn làm Thương Hàn. 
- Thái Dương bệnh: như tiết trên. 
- Hoặc đã phát nóng: bệnh tại Kinh. 
- Hoặc chưa phát nóng: bệnh tại Bản Hàn. 
- Tất sợ lạnh: Hàn Khí chủ Bì phần. 
- Mình đau: Khí bệnh, Kinh cũng bệnh. 
- Ói ngược: Phong trước Hàn sau là nghịch (trái với Hàn trước Phong sau là thuận, bệnh tại Bì Phu do Hàn mà ói nên gọi là ói ngược). 
- Mạch Âm Dương đều Khẩn: trước bộ Quan là Dương, sau bộ Quan là Âm, gọi Dương Hàn che lấp Âm Nhiệt, ba bộ mạch đều Khẩn. 
- Gọi là Thương Hàn: chỉ bệnh Thái Dương Thương Hàn tại Bì phần. 
(Thương Hàn là tên bệnh chủ đề của sách. Thái Dương là Kinh Dương Hàn, Thái Dương chủ Vệ Khí, Dương Vệ bị Hàn Khí làm bị thương nên giản dị gọi là Thương Hàn). 

Tiết 4: Thương Hàn truyền các Âm Kinh làm Hàn Thấp, Phong Thấp. 
- Thương Hàn một ngày Thái Dương mắc phải: ngày mắc bệnh đầu tiên là ngày Thái Dương thọ chịu. 
- Mạch như yên tĩnh là không truyền: không truyền là chỉ bệnh tại Thái Dương Kinh. Biết truyền hay không truyền bằng cách xem xét mạch. 
- Hơi muốn mửa: Thương Hàn truyền Âm Hàn Kinh làm Hàn Thấp. 
- Nếu như Táo phiền: Thương Hàn truyền Tiêu Âm Nhiệt Kinh làm Phong Thấp. 
- Mạch Sác cấp: chứng của Lạc, chỉ bệnh truyền đến Tiêu Âm Nhiệt Kinh. 

Tiết 5: Thương Hàn không truyền các Dương Kinh. 
- Thương Hàn hai ba ngày, chứng Dương Minh Thiếu Dương không thấy là không truyền: Nói Thái Dương thọ Thương Hàn, không truyền các Dương Kinh. Biết truyền hoặc không truyền bằng cách xem xét chứng. 
Tiết 6: Thái Dương Tiêu Dương truyền Kinh làm Ôn bệnh, Phong Ôn. 
- Thái Dương bệnh: Thái Dương Tiêu Dương bệnh. 
- Phát nóng mà khát: Thái Dương Tiêu Khí bệnh tại Tấu phần. 
- Không sợ lạnh: tại Tấu phần Nhiệt Khí làm chủ. 
- Gọi là Ôn bệnh: tại Tấu Bán Biểu phần, Dương Nhiệt Kinh thọ Dương Hàn truyền. 
- Phát Hãn rồi mình nóng như đốt: Dương Hàn lui, Dương Nhiệt thọ Âm Nhiệt. 
- Gọi là Phong Ôn: tại Tấu Bán Lý phần, Dương Nhiệt thọ Dương Hàn truyền, đồng thọ Âm Nhiệt chuyển. 
- Phong Ôn làm nên bệnh: nói chứng Phong Ôn tại Biểu. 
- Mạch Âm Dương đều Phù: Thái Dương Bản Hàn, Thiếu Âm Bản Nhiệt đều bệnh tại Biểu. 
- Tự đổ mồ hôi: Bản Hàn hiệp với Thiếu Âm Tiêu Khí. 
- Mình nặng nề: Tiêu Dương hiệp với Thiếu Âm Bản Khí. 
- Ngủ nhiều: cớ bởi Bản Hàn truyền nhập Bản Nhiệt. 
- Thở khò khè như ngáy, nói năng khó ra lời: cớ bởi Bản Nhiệt chuyển nhập Bản Hàn. 
- Nếu bị (lầm) cho Hạ: nói Phong Ôn tại Lý. 
- Tiểu tiện không lợi: Bản Hàn Bản Nhiệt cùng nhập Lý. 
- Mắt trực thị: Bản Nhiệt bệnh. 
- Đái són (tiểu tiện không tự chủ): Bản Hàn bệnh. 
- Nếu bị (lầm) dùng lửa: nói Phong Ôn tại Tấu. 
- Nhẹ thì mình phát sắc vàng: từ Bán Biểu đi ra Bì Nhục. 
- Nặng thì như Kinh Giản, có lúc co giật: từ Bán Lý nhập vào gân cốt. 
- Nếu dùng lửa để xông: nói tại Tấu Bản Hàn bị Bản Nhiệt Hoá. 
- Nghịch lần đầu còn có thể kéo dài ngày: thọ hoá tại Tấu. 
- Nghịch lần nữa thì nguy đến tính mạng: thọ hoá tại Cách tại Đái. 

Tiết 7: Số ngày truyền Kinh. 
- Phát nóng sợ lạnh: Tam Dương bệnh. 
- Không nóng sợ lạnh: Tam Âm bệnh. 
- Phát ở Dương 7 ngày khỏi: 6 Kinh hành tại Biểu là 6 ngày. Phát ở Dương thì giải ở Biểu. Giải tại Biểu thì phải mất thêm 1 ngày trở lại Thái Dương (6+1= 7) cho nên phát ở Dương 7 ngày khỏi. 
- Phát ở Âm 6 ngày khỏi: 6 Kinh hành tại Lý là 6 ngày. Phát ở Âm thì giải ở Lý. Giải ở Lý không cần trở lại Thái Dương nên chỉ 6 ngày là khỏi. 

Tiết 8: Dương Kinh bệnh từ Tấu đến Biểu. 
- Thái Dương bệnh đầu đau đến 7 ngày trở lên tự khỏi: vì 7 ngày là số ngày của Dương Kinh giải tại Biểu. 
- Nếu muốn làm ‘Tái Kinh’: nói Thái Dương bệnh Tái Kinh là muốn nhập Lý. 
- Châm Túc Dương Minh Kinh (Túc Tam Lý huyệt) khiến cho không truyền nhập Lý thì khỏi. 

Tiết 9: Thái Dương hành Kinh Vượng thời. 
- Thái Dương bệnh lúc muốn giải, theo từ giờ Tỵ đến giờ Mùi: Bệnh ở Thái Dương giải theo giờ Vượng hành Kinh của nó từ giờ Tỵ đến giờ Mùi, tức là giờ Ngọ. 

Tiết 10: Âm Kinh bệnh từ Tấu đến Lý. 
- Phong gia: nói Âm Kinh bệnh tại Lý. 
- Biểu giải rồi nhưng chưa được khoan khoái: Biểu giải mà Lý chưa giải. 
- 12 ngày khỏi: chỉ nói số ngày Âm Kinh giải tại Lý. 

Tiết 11: Âm Dương Hàn Nhiệt Kinh tập trung tại Tấu. 
- Mình nóng dữ: Nhiệt tại Bì Phu (thuộc Tấu Biểu). 
- Lại muốn được mặc áo: Hàn tại Tấu. 
- Nhiệt tại Bì phu: Dương Nhiệt hiệp Âm Nhiệt từ Tấu đến Biểu. 
- Hàn tại Cốt Tủy: Dương Hàn, Âm Hàn vẫn tập trung tại Tấu. 
- Mình lạnh dữ: Hàn tại Bì Phu (thuộc Tấu Biểu). 
- Lại không muốn mặc áo: Nhiệt tại Tấu. 
- Hàn tại Bì Phu: Dương Hàn hiệp Âm Hàn tại Tấu đến Biểu. 
- Nhiệt tại Cốt Tủy: Dương Nhiệt, Âm Nhiệt vẫn tập trung tại Tấu. 
(Bản Nghĩa giải Hàn Nhiệt tại Cốt Tủy là từ Tấu đến Lý; điều này không thấy Nguyên Văn nói đến các triệu chứng của Lý như ói ỉa. Đành rằng Tấu là Bộ Vị màn lưới Kinh Lạc trải suốt Biểu Lý nhưng trong phạm vi của Chương Tiết, Nguyên Văn chỉ đề cập đến Cốt Tủy là Tấu nơi tập trung của Kinh Lạc nên đổi lại là tại Tấu cho dễ tiếp thu). 

Thêm bình luận


Mã an ninh
Làm tươi

6577412
Hôm nay
Hôm qua
Tháng này
Tháng trước
Tổng số
11
2834
99313
97551
6577412