Học Tập Thuơng Hàn Luận Bản Nghĩa - Phần 1

TIẾP NỐI ĐỀ XƯỚNG CỦA CỤ LƯU THỦY LÀM TRONG SÁNG THÊM BẢN NGHĨA CÁC SÁCH THƯƠNG HÀN LUẬN VÀ TẠP BỆNH LUẬN

Việt Nhân Lưu Thủy (1887- 1964) sinh quán tại Quảng Nam đã để lại cho các thế hệ sau một di cảo vô cùng quý giá trong đó có 2 sách Thương Hàn Luận Bản Nghĩa và Tạp Bệnh Luận Bản Nghĩa với đề xướng chấn hưng Đông Y bằng cách học tập 2 sách Thương Hàn Luận và Tạp Bệnh Luận của Đức Trọng Cảnh. Tôi nhờ học tập Bản Nghĩa mà biết được Đông Y có truyền thống Đạo học Khí Hoá nhưng xét kỹ các Bản Nghĩa tuy có lợi ích to lớn vẫn còn chỗ khó hiểu đối với nhiều người không quen văn pháp cổ và nhất là các nhà khoa học. Vì vậy việc tiếp nối Cụ Lưu Thủy và làm trong sáng thêm các Bản Nghĩa này là nhiệm vụ thừa kế và phát huy của các thế hệ sau. Tôi gợi ý và đề nghị như vầy:


- Trước nội dung sách cần có bài ý nghĩa tên sách Thương Hàn Luận. Kế tiếp là bài ý nghĩa nội dung sách.
- Trước mỗi thiên luận có bài luận của mỗi Kinh.
- Trước mỗi Chương có luận lý do và nội dung Chương được phân.
- Trước mỗi Tiết có tóm lược thích nghi.
- Lời chú giải các phân đoạn nguyên văn sát thực tế và dễ hiểu (nếu cần thêm bớt hoặc bổ chính).

Công việc này tất nhiên lâu dài và cần góp sức của những người thông hiểu. Sau đây là một vài gợi ý của cá nhân:

Ý NGHĨA TÊN SÁCH THƯƠNG HÀN LUẬN

Tiếp nối Nội Kinh và Nạn Kinh Đức Trọng Cảnh làm một bộ bệnh lý học gồm 2 sách, chủ bệnh tại Biểu là Thương Hàn Luận, chủ bệnh tại Lý là Tạp Bệnh Luận. Người đời sau không hiểu đầy đủ ý nghĩa 2 tên sách này nên có hiện tượng tuy ngưỡng mộ Tạp Bệnh Luận và tôn Đức Trọng Cảnh làm Y Tổ cũng đổi tên Tạp Bệnh Luận thành Kim Quỹ Yếu Lược; còn đối với sách Thương Hàn Luận thì chú giải mơ hồ lại còn có ý kiến cho là Ngài chuyên chủ bệnh do lạnh trái với Nội Kinh.

* Nội Kinh nói Nhiệt Bệnh Luận là chủ trương luận bệnh của Kinh Thiếu Âm, chủ bệnh tại Lý, chủ về Huyết và Hoả để dinh dưỡng thân người. Khí Thiếu Âm (Nhiệt) làm bệnh do Nhiệt khí của Kinh này thái quá (Thực) hoặc bất cập (Hư). Kinh Thiếu Âm thống lãnh các Kinh Âm chủ bệnh tại Lý do Nhiệt khí, đó là Nội Kinh mới nói một nữa, còn Dương Kinh thống lãnh và chủ bệnh tại Biểu do Hàn khí thì thế nào? Thương Hàn Luận mở đầu bằng luận bệnh của KinhThái Dương, chủ bệnh tại Biểu do Hàn khí là bổ khuyết cho đầy đủ một cặp Âm Dương tương đối, nào có luận gì trái ngược với Nội Kinh.

* Một danh Y nói câu “Lĩnh Nam không có Thương Hàn” khiến cho người sau ông lầm chấp Thương Hàn là do khí lạnh từ ngoài, trái với thực tế Thương Hàn là 1 trong 2 bệnh của Kinh Thái Dương nơi thân người.

* Tên sách Thương Hàn là một luận chủ đề, mọi bệnh phát khởi tại Biểu đều do Kinh Thái Dương Hàn khí làm ra, cho nên luận Kinh này trước hết. Kinh Thái Dương đối lập với Kinh Thiếu Âm có đủ tính Âm Dương Hàn Nhiệt và có đủ 3 chức năng làm bệnh, thọ bệnh, truyền bệnh. Tất nhiên bệnh của Kinh Thái Dương gồm có: Lưỡng nghi bệnh là Thương Hàn (Dương Kinh Hàn khí) và Trúng Phong (Âm Kinh Nhiệt khí) và tứ tượng bệnh là Ôn bệnh, Phong Ôn (Nhiệt loại); Hàn Thấp, Phong Thấp (Hàn loại). Nào có thiên luận về Âm Dương Hàn Nhiệt như đã bị xuyên tạc.

* Tiếp sau luận bệnh Kinh Thái Dương là luận bệnh Kinh Dương Minh Táo khí, Kinh Thiếu Dương Hoả khí, Kinh Thái Âm Thấp khí, Kinh Thiếu Âm Nhiệt khí, Kinh Khuyết Âm Phong khí. Người cố chấp Thương Hàn Luận là luận bệnh cảm lạnh có lẽ chưa đọc kỹ sách này.

Ý NGHĨA NỘI DUNG SÁCH THƯƠNG HÀN LUẬN

Thương Hàn Luận gồm có 7 quyển, 8 thiên và 397 Tiết.

* Trình bày bệnh chứng của 6 Kinh theo thứ tự Thái Dương, Dương Minh, Thiếu Dương, Thái Âm, Thiếu Âm, Khuyết Âm là ngụ ý tuân thủ truyền thống của Nội Kinh và nhắc nhở người học đó là chu kỳ tuần hành theo ngày của 6 Kinh nơi thân người.

* Là sách chủ đề luận bệnh tại Kinh Thái Dương, có tên là Thương Hàn Luận nên Kinh Thái Dương mở đầu và có bệnh chứng 180 Tiết gần phân nữa luận, chia thành 3 thiên Thượng, Trung, Hạ giúp cho người đọc thấy biết một sự thật về Âm Dương đó là Đạo Tam cực gồm cả 2 quy luật Âm Dương thống nhất và Âm Dương đối lập. Nếu như Thái Dương Hàn khí chủ bệnh tại Biểu thì hẳn có Thiếu Âm Nhiệt khí chủ bệnh tại Lý và còn có 1 Bộ Vị là đường tương giao của 2 Kinh này đó là Tấu Lý. Thân người chia 2 phần Biểu và Lý theo hiện tượng của Âm Dương nhưng còn có Tấu lý (mạng lưới tương giao tuần hoàn) là bản chất của Âm Dương. Việc phân chia này làm cho thấy rõ thân người có 3 Bộ Vị, tại Lý có Thượng Trung Hạ theo chiều dọc (Tung) thì tại Biểu cũng có 3 Bộ Vị là Bì phu, Cơ nhục, Tấu Biểu theo chiều ngang (Hoành).

* Kinh Thái Dương Hàn khí làm bệnh và thọ bệnh đầu tiên thì tại Biểu Bộ Vị, Cơ nhục nơi phát xuất bệnh chứng Trúng Phong cũng được luận trước hết (Tiết 12).

* Tiếp nối 2 Yếu chỉ của Nội Kinh là Kinh Lạc và Tạng Phủ, người làm sách Thương Hàn không thể thiếu xót. Mỗi Kinh có 3 phần Khí (Trời), Kinh (Người), Lạc (Đất); Điều này giúp chúng ta thấu hiểu thuật ngữ Kinh Khí là để nói chức năng hoạt động (Dương) của Kinh và Kinh Lạc là để nói hình chất dinh dưỡng (Âm) của Kinh.

* Tấu Lý là mạng lưới Kinh Lạc, con đường truyền chuyển của Âm Dương Hàn Nhiệt; 6 Kinh đều nằm trên Tấu Lý nên đều có chức năng thọ bệnh. 6 Kinh chia thành 3 cặp:

- Thái Dương (Dương Hàn) đối giao với Thiếu Âm (Âm Nhiệt) là cặp Âm Dương Hàn Nhiệt, có đủ 3 chức năng làm bệnh, truyền chuyển bệnh, thọ bệnh.

- Cặp Dương Minh (Dương Nhiệt, thuần Dương) đối giao với Thái Âm (Âm Hàn, thuần Âm) là cặp Âm Dương Táo Thấp, không tự có 2 chức năng làm bệnh và truyền chuyển bệnh, thừa nhận 2 Kinh Khí Dương Hàn và Âm Nhiệt để có 2 chức năng trên.

- Cặp Thiếu Dương (Dương Trung hiện) đối giao với Khuyết Âm (Âm Trung hiện) là cặp Âm Dương Trung hiện, nền tảng của Tấu Lý không có 2 chức năng làm bệnh và truyền chuyển bệnh, chỉ thọ 2 Kinh Khí Dương Hàn và Âm Nhiệt để tự bệnh mà thôi.

* Người đời sau không hiểu Đạo Tam cực, không biết đến Bộ Vị Tấu Lý nên không thể cảm nhận được Đạo lý truyền chuyển bệnh, lại do Bản Nghĩa tuân thủ truyền thống ngàn xưa chỉ nhấn mạnh Hàn truyền (Dương), không chịu đọc đến Nhiệt chuyển (Âm) đã vội bài bác Nội dung Truyền Kinh của sách Thương Hàn.

* Y gia cần phải nắm vững Kinh Lạc và Khí chủ trì của nó vì Kinh Lạc là đường truyền chuyển Sinh lý và Bệnh tật. Hiểu biết Kinh Lạc tức là nắm vững cơ chế Sinh Bệnh Lý nơi thân người. Thương Hàn Luận từ đầu đến cuối thuyết minh Truyền Kinh bệnh và Đạo lý của nó là Tấu Lý, Kinh Lạc nên cuối sách dùng 2 chương Hoắc loạn nói về Kinh, Âm Dương dịch nói về Lạc để kết thúc thâm ý này. Lẽ ra 2 chương Hoắc loạn và Âm Dương dịch hiệp thành 1 thiên riêng không để chung nơi thiên luận Kinh Khuyết Âm.

Nguyên văn chỉ có 8 thiên luận bệnh chứng của 6 Kinh với 397 Tiết không có đại ý; Cụ Việt Nhân Lưu Thủy làm Bản Nghĩa chia thành 47 Chương, mỗi Chương đều có chủ đề và mỗi Tiết đều có đại ý là 1 tâm đắc vô cùng quý giá giúp cho người sau hiểu rõ Nội dung của sách Thương Hàn Luận.

LUẬN KINH THÁI DƯƠNG

Thái Dương là tên gọi Kinh, gọi đủ Kinh Khí là Thái Dương Hàn Khí, gọi theo Tượng là Kinh Dương Hàn (tóm lược mà đầy đủ ý nghĩa). Chỉ 3 Kinh Dương mà có 6 Phủ nên mỗi Kinh chia thành Thủ Túc:

- Túc Thái Dương Bàng Quang là Kinh Dương Hàn, Khí Âm Hàn gọi là Thái Dương Bản Hàn (Bản Dương Hàn).

- Thủ Thái Dương Tiểu Trường là Kinh Dương Hàn, Khí Dương Nhiệt gọi là Thái Dương Tiêu Dương (Tiêu Dương Hàn).

Bàng Quang và Tiểu Trường đồng Kinh Thái Dương (Dương Hàn) mà khác Khí:

* Túc Thái Dương Bàng Quang (Bản Hàn) lại đồng Khí Âm Hàn với Túc Thiếu Âm Thận (Tiêu Âm), đồng hành Thủy, đồng Hệ bài tiết cặn bả, đồng chủ trì Vệ Khí bảo vệ toàn thân.

* Thủ Thái Dương Tiểu Trường (Tiêu Dương) lại đồng khí Dương Nhiệt với Thủ Thiếu Âm Tâm (Bản Nhiệt), đồng hành Hoả, đồng Hệ hấp thu dưỡng chất, đồng chủ trì Vinh Huyết nuôi dưỡng toàn thân.

Một Kinh Thái Dương chia 2 Phủ đủ tính Hàn Nhiệt Thủy Hoả:

Bản Hàn (Túc Thái Dương Bàng Quang) làm bệnh Thương Hàn (Hàn);

Tiêu Dương (Thủ Thái Dương Tiểu Trường) làm bệnh Trúng Phong (Nhiệt) rất phù hợp với Bản Nghĩa Âm Dương Hàn Nhiệt của sách Thương Hàn.

Kinh Thái Dương là Dương Hàn, Dương là Vệ, Hàn là Khí. Kinh Thái Dương bệnh chỉ 1 nguyên nhân duy nhất là Âm Dương, Hàn Nhiệt bất hoà mà thôi. Có người chỉ dựa theo Thái Dương, cố chấp chỉ có Hàn Khí là thủ phạm làm bệnh, không chịu biết đối lập với Thái Dương Hàn Khí là Thiếu Âm Nhiệt Khí.

Nơi thân người Thái Dương là Kinh dài nhất, nhiều Huyệt nhất, bao bọc khắp phần Dương từ đầu đến chân, có nhánh thông với Đốc Mạch và mọi cơ năng Tạng Phủ. Cho nên, Kinh này chủ bệnh tại Biểu còn là truyền bệnh đến các Kinh. Sách Thương Hàn Luận Bản Nghĩa nói về Truyền Kinh và Hàn Khí là đại thủ phạm, là do thực tế này; không nên hiểu lầm chỉ có Hàn làm bệnh, còn Nhiệt thì không làm bệnh.

Kinh Thái Dương chủ Hàn Khí truyền đến Kinh Dương Minh Táo Khí (Dương Nhiệt), Táo Khí hiệp với Hàn Khí làm bệnh Ôn (Ôn bệnh là Dương Nhiệt thọ Dương Hàn, Phong Ôn là Dương Nhiệt thọ Âm Nhiệt); Truyền đến Kinh Thái Âm Thấp Khí (Âm Hàn), Thấp Khí hiệp với Hàn Khí làm bệnh Thấp (Hàn Thấp là Âm Hàn thọ Dương Hàn, Phong Thấp là Âm Hàn thọ Âm Nhiệt); Truyền đến Kinh Thiếu Âm Nhiệt Khí (Âm Nhiệt), Nhiệt Khí hiệp với Hàn Khí làm bệnh Phong (Phong Ôn là Dương Nhiệt thọ Âm Nhiệt, Phong Thấp là Âm Hàn thọ Âm Nhiệt). Hai Kinh Thiếu Dương và Khuyết Âm là cặp Âm Dương Trung hiện không có khả năng tự làm bệnh cũng không hiệp với Kinh khác để làm bệnh, chỉ có chức năng Trung chuyển và thọ bệnh từ 4 Kinh Âm Dương Hàn Nhiệt. (Kinh Thiếu Dương Hoả Khí là chuyển các Khí từ Dương sang Âm, Kinh Khuyết Âm Phong Khí là chuyển các Khí từ Âm sang Dương).

Kinh Thái Dương Hàn Khí đối giao Kinh Thiếu Âm Nhiệt Khí. Mỗi Kinh đều có 2 Hành Thủy Hoả, đồng thống lãnh các Kinh, đồng Hệ trao đổi quân bình Âm Dương Hàn Nhiệt Khí Huyết Thủy Hoả nắm giữ Sinh Bệnh Lý nơi thân người.

Hai Kinh Dương Hàn và Âm Nhiệt là cặp Âm Dương Hàn Nhiệt có đủ 3 chức năng làm bệnh, truyền chuyển bệnh, thọ bệnh. (thọ bệnh là chức năng chung của cả 6 Kinh, sau này không bàn riêng).

Hai Kinh Dương Hàn và Âm Nhiệt đồng làm bệnh gọi là Lưỡng cảm, ở Túc Kinh Khí thì là Hàn chứng, ở Thủ Kinh Khí thì là Nhiệt chứng đều nguy đến tính mạng.

LUẬN KINH DƯƠNG MINH

Dương Minh là tên gọi Kinh, gọi đủ Kinh Khí là Dương Minh Táo Khí, gọi theo Tượng là Kinh Dương Nhiệt (tóm lược mà đầy đủ ý nghĩa). Chí 3 Kinh Dương mà có 6 Phủ nên mỗi Kinh chia thành Thủ Túc:

- Thủ Dương Minh Đại Trường là Kinh Dương Nhiệt, Khí Dương Hàn gọi là Dương Minh Tiêu Dương (Tiêu Dương Nhiệt).

- Túc Dương Minh Vỵ là Kinh Dương Nhiệt, Khí Âm Nhiệt gọi là Dương Minh Bản Nhiệt (Bản Dương Nhiệt).

Đại Trường và Vỵ đồng Kinh Dương Minh (Dương Nhiệt) mà khác Khí.

* Thủ Dương Minh Đại Trường (Tiêu Dương) lại đồng Khí Dương Hàn với Thủ Thái Âm Phế (Bản Hàn) đồng Hành Táo Kim (TáoThổ sinh Kim), đồng hệ quân bình Táo Thấp.

* Túc Dương Minh Vỵ (Bản Nhiệt) lại đồng Khí Âm Nhiệt với Túc Thái Âm Tỳ (Tiêu Âm) đồng Hành Thấp Thổ (Thấp Hoả sinh Thổ) đồng hệ quân bình ThấpTáo.

Dương Minh (Dương Nhiệt, thuần Dương) không tự làm bệnh, chỉ làm bệnh khi thọ Dương Hàn hoặc Âm Nhiệt, thọ bệnh, truyền bệnh.

Tiêu Dương (Thủ Dương Minh Đại Trường) thọ Dương Hàn làm Ôn Bệnh.

Bản Nhiệt (Túc Dương Minh Vỵ) thọ Âm Nhiệt làm bệnh Phong Ôn.

Hai Khí Táo Thấp đều thọ 2 Khí Hàn Nhiệt để điều hoà là Chân Lý muôn đời của sự vật, nhưng Thủ Thiếu Âm Tâm tuy là Kinh Âm Nhiệt, Khí lại là Dương Nhiệt nên nói Dương Nhiệt là Bản Khí của Thiếu Âm.

Nguyên văn nói Dương Minh cư Trung Thổ là ngụ ý nói Vỵ, bệnh Ôn không truyền mà chuyển (Nhiệt chuyển), xem kỹ nơi thiên Dương Minh các thuật ngữ chuyển thuộc, chuyển hệ thì rõ.

Kinh Dương Minh đối giao với Kinh Thái Âm thành cặp Âm Dương Táo Thấp. Dương Minh là Dương Nhiệt chủ Táo Khí, muốn có được chức năng quân bình Táo Thấp phải thừa nhận cả 2 Kinh Khí Dương Hàn và Âm Nhiệt. Cặp Âm Dương Táo Thấp này không tự có 2 chức năng làm bệnh và truyền chuyển bệnh phải thừa nhận 2 Kinh Khí Dương Hàn và Âm Nhiệt để có 2 chức năng trên.

LUẬN KINH THIẾU DƯƠNG

Thiếu Dương là tên gọi Kinh, gọi đủ Kinh Khí là Thiếu Dương Hoả Khí, gọi theo Tượng là Kinh Dương (Dương Nhiệt + Dương Hàn) Trung hiện. Chỉ 3 Kinh Dương mà có 6 Phủ nên mỗi Kinh chia thành Thủ Túc:

- Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu là Dương Hàn Trung Hiện chủ Dương Thủy, là Kinh Dương Hàn Khí Âm Nhiệt (Trung hiện dẫn Dương Hàn giao Âm Nhiệt).

- Túc Thiếu Dương Đởm là Dương Nhiệt Trung Hiện chủ Hoả Khí, là Kinh Dương Nhiệt, Khí Âm Hàn (Trung hiện dẫn Dương Nhiệt giao Âm Hàn).

Thiếu Dương Hoả Khí có thâm ý mô tả Dương Trung hiện là đường giao lưu dẫn Dương Hoả đến Âm Thủy để điều hoà. Thiếu Dương Khí là khí xung hoà hiện giữa Dương Hàn và Dương Nhiệt chứ không thuần là Dương Nhiệt; Cho nên phải hiểu thêm cho đủ với Sinh Lý Thiếu Dương là Dương (Dương Nhiệt + Dương Hàn) Trung hiện; Chỉ trong trường hợp bệnh lý do giao thông bế tắc mới có bệnh chứng thiên về Dương Nhiệt nơi Kinh Túc Thiếu Dương Đởm; và có bệnh lý thiên về Dương Hàn nơi Kinh Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu.

Kinh Thiếu Dương đối giao với Kinh Khuyết Âm là 1 cặp Âm Dương Trung hiện điều hoà 4 Kinh Khí Âm Dương Hàn Nhiệt, đồng Hành Mộc, đồng Hệ điều hoà chế hoá. (Túc Thiếu Dương là Dương Mộc, Đởm thông với Vỵ để chế Toan điều Thấp Khí). Cặp Âm Dương Trung hiện này không tự có 2 chức năng làm bệnh và truyền chuyển bệnh và cũng không thừa nhận Kinh Khí khác để có; chỉ thọ 2 Kinh Khí Dương Hàn, Âm Nhiệt để tự bệnh mà thôi.

Kinh Thiếu Dương là Trung Chuyển của 3 Dương sang 3 Âm (Thiếu Dương vào Thái Âm).

LUẬN KINH THÁI ÂM

Thái Âm là tên gọi Kinh, gọi đủ Kinh Khí là Thái Âm Thấp Khí, gọi theo Tượng là Kinh Âm Hàn (tóm lược mà đầy đủ ý nghĩa). Chỉ 3 Kinh Âm mà có 6 Tạng nên mỗi Kinh chia thành Thủ Túc:

- Thủ Thái Âm Phế là Kinh Âm Hàn, Khí Dương Hàn gọi là Thái Âm Bản Hàn (Bản Âm Hàn).

- Túc Thái Âm Tỳ là Kinh Âm Hàn, Khí Âm Nhiệt là Thái Âm Tiêu Âm (Tiêu Âm Hàn).

Phế và Tỳ đồng Kinh Thái Âm (Âm Hàn) mà khác Khí.

* Thủ Thái Phế (Bản Hàn) lại đồng Khí Dương Hàn với Thủ Dương Minh Đại Trường (Tiêu Dương) đồng Hành Táo Kim (Táo Thổ sinh Kim), đồng hệ quân bình Táo Thấp.

* Túc Thái Âm Tỳ (Tiêu Âm) lại đồng Khí Âm Nhiệt với Túc Dương Minh Vỵ (Bản Nhiệt) đồng Hành Thấp Thổ (Thấp Hoả sinh Thổ) đồng hệ quân bình Thấp Táo.

Thái Âm (Âm Hàn, Thuần Âm) không tự làm bệnh chỉ làm bệnh khi thọ Âm Nhiệt hoặc Dương Hàn, thọ bệnh, truyền bệnh.

Bản Hàn (Thủ Thái Âm Phế) thọ Dương Hàn làm Hàn Thấp.

Tiêu Âm (Túc Thái Âm Tỳ) thọ Âm Nhiệt làm bệnh Phong Thấp.

Hai Khí Táo Thấp đều thọ 2 Khí Hàn Nhiệt để điều hoà là Chân Lý muôn đời của sự vật; nhưng Túc Thái Dương Bàng Quang tuy là Kinh Dương Hàn, Khí lại là Âm Hàn nên nói Âm Hàn là Bản Khí của Thái Dương.

Kinh Thái Âm đối giao với Kinh Dương Minh thành cặp Âm Dương Táo Thấp. Thái Âm là Âm Hàn chủ Thấp Khí muốn có được chức năng quân bình Thấp Táo phải thừa nhận cả 2 Kinh Khí Âm Nhiệt và Dương Hàn. Cặp Âm Dương Táo Thấp này không tự có 2 chức năng làm bệnh và truyền chuyển bệnh phải thừa nhận 2 Kinh Khí Dương Hàn, Âm Nhiệt để có 2 chức năng trên.

LUẬN KINH THIẾU ÂM

Thiếu Âm là tên gọi Kinh, gọi đủ Kinh Khí là Thiếu Âm Nhiệt Khí, gọi theo Tượng là Kinh Âm Nhiệt (tóm lược mà đầy đủ ý nghĩa). Chỉ 3 Kinh Âm mà có 6 Tạng nên mỗi Kinh chia thành Thủ Túc:

- Thủ Thiếu Âm Tâm là Kinh Âm Nhiệt, Khí Âm Nhiệt gọi là Thiếu Âm Bản Nhiệt (Bản Âm Nhiệt).

- Túc Thiếu Âm Thận là Kinh Âm Nhiệt, Khí Âm Hàn gọi là Thiếu Âm Tiêu Âm (Tiêu Âm Nhiệt).

Tâm và Thận đồng Kinh Thiếu Âm (Âm Nhiệt) mà khác Khí.

* Thủ Thiếu Âm Tâm (Bản Nhiệt) lại đồng Khí Dương Nhiệt với Thủ Thái Dương Tiểu Trường (Tiêu Dương) đồng Hành Hoả, đồng Hệ hấp thu dưỡng chất, đồng chủ trì Vinh Huyết nuôi dưỡng toàn thân.

* Túc Thiếu Âm Thận (Tiêu Âm) lại đồng Khí Âm Hàn với Túc Thái Dương Bàng Quang (Bản Hàn), đồng Hành Thủy, đồng Hệ bài tiết cặn bả, đồng chủ trì Vệ Khí bảo vệ toàn thân.

Một Kinh Thiếu Âm chia 2 Tạng đủ tính Hàn Nhiệt Thủy Hoả:

Bản Nhiệt (Thủ Thiếu Âm Tâm) hiệp Dương Nhiệt làm bệnh Phong Ôn.

Tiêu Âm (Túc Thiếu Âm Thận) hiệp Âm Hàn làm bệnh Phong Thấp. Rất phù hợp với Bản Nghĩa Âm Dương Hàn Nhiệt của sách Thương Hàn.

Kinh Thiếu Âm là Âm Nhiệt, Âm là Chất, Nhiệt là Vinh. Kinh Thiếu Âm bệnh chỉ 1 nguyên nhân duy nhất là Âm Dương, Hàn Nhiệt bất hoà mà thôi. Có người chỉ dựa theo Thái Dương, cố chấp chỉ có Hàn Khí là thủ phạm làm bệnh, không chịu biết đối lập với Thái Dương Hàn Khí là Thiếu Âm Nhiệt Khí.

Âm Nhiệt bất cập thái quá thì cũng làm bệnh như Dương Hàn; Nếu Hàn truyền từ Biểu thì Nhiệt lại chuyển từ Lý, người học thuốc không thể thiên lệch đối với cặp Âm Dương Hàn Nhiệt tương đối này. Nếu thấy nhấn mạnh về Hàn truyền thì chẳng qua Thương Hàn Luận là chủ đề luận Kinh Thái Dương làm bệnh và truyền bệnh từ Biểu. Đừng quên đối lập với Hàn truyền là Nhiệt chuyển do Kinh Thiếu Âm làm bệnh và chuyển bệnh từ Lý.

Kinh Thiếu Âm Nhiệt Khí đối giao Thái Dương Hàn Khí. Mỗi Kinh đều có 2 Hành Thủy Hoả, đồng thống lãnh các Kinh, đồng Hệ trao đổi quân bình Âm Dương Hàn Nhiệt Khí Huyết Thủy Hoả nắm giữ Sinh Bệnh Lý nơi thân người.

Hai Kinh Âm Nhiệt và Dương Hàn là cặp Âm Dương Hàn Nhiệt có đủ 3 chức năng làm bệnh, truyền chuyển bệnh, thọ bệnh.

Hai Kinh Âm Nhiệt và Dương Hàn đồng làm bệnh gọi là Lưỡng cảm, ở Thủ Kinh Khí là Nhiệt chứng, ở Túc Kinh Khí là Hàn chứng đều nguy đến tính mạng.

LUẬN KINH KHUYẾT ÂM

Khuyết Âm là tên gọi Kinh, gọi đủ Kinh Khí là Khuyết Âm Phong Khí, gọi theo Tượng là Kinh Âm (Âm Hàn+Âm Nhiệt) Trung hiện. Chỉ 3 Kinh Âm mà có 6 Tạng nên mỗi Kinh chia thành Thủ Túc:

- Thủ Khuyết Âm Tâm Bào Lạc là Kinh Âm Nhiệt, Khí Dương Hàn gọi là Âm (Nhiệt) Trung hiện chủ Âm Hoả (Trung hiện dẫn Âm Nhiệt giao Dương Hàn).

- Túc Khuyết Âm Can là Kinh Âm Hàn, Khí Dương Nhiệt gọi là Âm (Hàn) Trung hiện chủ Phong Huyết (Trung hiện dẫn Âm Hàn giao Dương Nhiệt).

Khuyết Âm Phong Khí có thâm ý mô tả Âm Trung hiện là đường giao lưu dẫn Âm Thủy đến Dương Hoả để điều hoà. Khuyết Âm Khí là Phong Khí điều hoà hiện giữa Âm Hàn và Âm Nhiệt chớ không thuần là Âm Hàn; Cho nên phải hiểu thêm cho đủ với Sinh lý Khuyết Âm là Âm (Âm Hàn + Âm Nhiệt) Trung hiện; Chỉ trong trường hợp Bệnh lý do giao thông bế tắc mới có bệnh chứng thiên về Âm Hàn.

Kinh Khuyết Âm đối giao với Kinh Thiếu Dương là 1 cặp Âm Dương Trung hiện điều hoà 4 Kinh Khí Âm Dương Hàn Nhiệt, đồng Hành Mộc, đồng Hệ điều hoà chế hoá, (Túc Khuyết Âm là Âm Mộc, Can thông với Đại Trường để hoá Thủy hoà Táo Huyết). Cặp Âm Dương Trung hiện này không tự có 2 chức năng làm bệnh và truyền chuyển bệnh, cũng không thừa nhận các Kinh Khí khác để có; chỉ thọ 2 Kinh Khí Dương Hàn, Âm Nhiệt để tự bệnh mà thôi.

Kinh Khuyết Âm là Trung chuyển của 3 Âm sang 3 Dương (Khuyết Âm ra Thái Dương).

LUẬN HOẮC LOẠN, ÂM DƯƠNG DỊCH

Có người không chịu hiểu, cho rằng người sau thêm 2 Chương này là không thích hợp với sách Thương Hàn Luận; không biết đó là thâm ý của tác giả dùng nó để kết luận; mọi việc làm bệnh, thọ bệnh, truyền bệnh đều do Kinh Lạc và màn lưới của chúng gọi là Tấu lý.

* Chứng Hoắc loạn có đặc tính lúc ở Biểu, lúc ở Lý khó lường nhưng dùng Kinh để biết nó thì cũng không khó vì khi ở Biểu thì nó hiện chứng phát sốt, mình đau nhức (tại Biểu Kinh đi ngang gọi là Hoành); Khi ở Lý thì ói mữa, đi tả (tại Lý Kinh đi dọc gọi là Tung).

* Chứng Âm Dương dịch là nói về Lạc. Dùng 1 bệnh do Nam Nữ giao hợp sanh ra và cách chữa nó để nói rằng mọi vấn đề đều do Âm Dương trao đổi tuần hoàn mà ra.

Cần lưu ý 1 cố chấp sai lầm xưa nay đã ngàn năm là nhận thức Kinh đi dọc, còn Lạc đi ngang. Sự thật thì Kinh biểu hiện cả 2 mặt tại Biểu thì đi ngang, tại Lý thì đi dọc. Còn Lạc thì có 2 loại:

- Lạc là con đường nối 2 thể Âm Dương như đường nối giữa Tạng Phủ, Nam Nữ thì thấy nó đi ngang cũng có phần đúng.

- Lạc là mạch máu khắp châu thân thì không thể cố chấp việc ngang dọc mà phải thấy rõ thực tế của hệ tuần hoàn.

LUẬN KHÍ – KINH - LẠC

Thân người có Lục Kinh điều hành Sinh lý nhưng giản lược trình bày bệnh lý có Tứ Bộ Kinh Khí Âm - Dương – Hàn - Nhiệt. Mỗi Kinh Khí có 3 thành tố thể hiện Đạo Tam Cực rất phù hợp với Lý Tam Tài: Khí thuộc Trời, Kinh thuộc Người, Lạc thuộc Đất. Đông Y xưa nay dùng chữ Kinh Khí để luận chức năng, dùng từ Kinh Lạc để luận hình chất của Kinh. Nơi luận 6 Kinh đã nêu rõ chức năng của Kinh Khí, còn về Lạc thì xưa nay ít thấy người bàn đến nên ngàn năm nay có nhiều cố chấp nhầm lẫn làm cho Đông Y bỏ quên truyền thống và lu mờ. Việc phân loại và thấu hiểu chức năng của Lạc cần được cụ thể hơn:

1- LẠC TÙY THEO KHÍ:

Tùy theo Khí là Lạc có chức năng thực hiện Nghĩa Âm Dương đối lập. Trong Tam Cực, Kinh là cực Trung Hoà, là Đạo Âm Dương thống nhất tại Tâm còn Khí và Lạc là 2 cực Âm Dương đối lập qua Tâm; Khí đối lập với Huyết cho nên Khí đi ngoài Mạch từ Biểu vào Lý thì Huyết đi trong Mạch từ Lý ra Biểu, rõ ràng là Khí thuộc hệ Tam Tiêu còn Huyết thuộc hệ Tâm Bào Lạc. Cụ thể hơn, có Khí và Lạc (Lạc có nghĩa là mạch máu) đối lập tại Tứ Bộ Kinh Khí (Âm Dương - Hàn Nhiệt):

a- Kinh Thái Dương:

Bản Hàn Khí tức Túc Thái Dương Bàng Quang Khí là Âm Hàn Khí đối lập với Dương Nhiệt Lạc.

Tiêu Dương Khí tức Thủ Thái Dương Tiểu Trường Khí là Dương Nhiệt Khí đối lập với Âm Hàn Lạc.

b- Kinh Dương Minh:

Bản Nhiệt Khí tức Túc Dương Minh Vỵ là Âm Nhiệt Khí đối lập với Dương Hàn Lạc.

Tiêu Dương Khí tức Thủ Dương Minh Đại Trường Khí là Dương Hàn Khí đối lập với Âm Nhiệt Lạc.

c- Kinh Thái Âm:

- Bản Hàn Khí tức Thủ Thái Âm Phế Khí là Dương Hàn Khí đối lập với Âm Nhiệt Lạc.

- Tiêu Âm Khí tức Túc Thái Âm Tỳ Khí là Âm Nhiệt Khí đối lập với Dương Hàn Lạc.

d- Kinh Thiếu Âm:

- Bản Nhiệt Khí tức Thủ Thiếu Âm Tâm Khí là Dương Nhiệt Khí đối lập với Âm Hàn Lạc.

- Tiêu Âm Khí tức Túc Thiếu Âm Thận Khí là Âm Hàn Khí đối lập với Dương Nhiệt Lạc.

Lạc đối lập Khí tức là với chức năng phân nhị có 2 Khí Âm Dương (Hàn Nhiệt) đối lập.

2- LẠC TÙY THEO KINH:

Tùy theo Kinh là Lạc có chức năng thực hiện Đạo Âm Dương thống nhất. Trong thân người có 6 Kinh chia thành 3 cặp Âm Dương đối giao (Hàn Nhiệt – Thấp Táo – Phong Hoả).

Tứ Kinh Khí Âm Dương Hàn Nhiệt gồm có 2 cặp Âm Dương đối lập, nhưng do luận cả Kinh Khí (mỗi Kinh có 2 Khí) nên 1 Kinh có tên 2 chữ (Dương Hàn Âm Nhiệt, Dương Nhiệt Âm Hàn); Lạc tùy theo Kinh có nghĩa cụ thể Lạc là đường liên kết giữa các cặp Kinh Âm Dương Hàn Nhiệt và Âm Dương Táo Thấp:

- Thái Dương là Kinh Dương Hàn có Lạc là đường liên kết giữa Dương Hàn - Âm Nhiệt.

- Dương Minh là Kinh Dương Nhiệt có Lạc là đường liên kết giữa Dương Nhiệt - Âm Hàn.

- Thái Âm là Kinh Âm Hàn có Lạc là đường liên kết giữa Âm Hàn - Dương Nhiệt.

- Thiếu Âm là Kinh Âm Nhiệt có Lạc là đường liên kết giữa Âm Nhiệt - Dương Hàn.

Lạc tùy theo Kinh tức Lạc là đường liên kết 2 Kinh đối giao.

Như vậy, Lạc chẳng những chứng tỏ Tứ Bộ Kinh Khí (Âm Dương Hàn Nhiệt) liên kết không rời mà còn biểu hiện rõ rệt 2 quy luật Âm Dương thống nhất (tùy theo Kinh) và Âm Dương đối lập (tùy theo Khí).

3- CHỨC NĂNG CỦA LẠC:

Từ ngàn năm nay do không hiểu rõ ràng phân loại và chức năng của Lạc nên Đông Y phải mai một. Vấn đề này cần phải xác định khoa học đúng với Đạo Tam Cực là Lạc có 2 loại và 2 chức năng. Để thực hiện 2 chức năng này nơi thân người vốn có 2 loại Lạc tùy theo Khí (mạch máu) - tùy theo Kinh (Trung Đạo):

Lạc có nghĩa là mạch máu thuộc hệ Tâm Bào Lạc (hành Huyết, Hoả) tương giao với hệ

Tam Tiêu (hành Khí, Thủy).

Lạc là đường liên kết giữa các cặp Kinh Khí Âm Dương Hàn Nhiệt.

Tiếp sau là bổ chú các Chương Tiết, công việc này cần lâu dài và thận trọng, cần góp sức của các trí thức trẻ trung………

Thêm bình luận


Mã an ninh
Làm tươi

6575848
Hôm nay
Hôm qua
Tháng này
Tháng trước
Tổng số
1281
3738
97749
97551
6575848