Bệnh sinh học


I. ĐẠI CƯƠNG
Bệnh sinh học là môn học nghiên cứu cơ chế phát sinh, phát triển và kết thúc của bệnh.
Bệnh nguyên học và bệnh sinh học có liên quan chặt chẽ với nhau : bệnh nguyên học tìm hiểu bệnh do đau mà có, còn bệnh sinh học nghiên cứu bệnh tật xảy ra như thế nào, tìm hiểu xem nhân tố gây bệnh tác động lên cơ thể như thế nào, quá trình bệnh lý diễn biện ra sao, tuân theo quy luật gì ?
Trong công tác điều trị nếu ta biết được cơ chế bệnh sinh thì có thể ngăn chặn sớm những phát triển xấu của bệnh , hạn chế được tác hại.
* Vai trò của yếu tố bệnh nguyên trong quá trình bệnh sinh :
yếu tố bệnh nguyên có vai trò khác nhau trong các bệnh :
a) Yếu tố bệnh nguyên chỉ tác dụng trong thời gian ngắn, có tác dụng khởi động, sau đó quá trình bệnh sinh tự nó phát triển. thí dụ trong bỏng do lửa yếu tố nhiệt độ chỉ tác động trong một thời gian ngắnvà gây ra tổn thương tổ chức nghiêm trọng, những tổn thương này lại gây ra cả một chuỗi phản ứng phức tạp (sốc bỏng, nhiễm độc, nhiễm trùng, suy mòn,vv...) tạo điều kiện cho bệnh phát triển, mặc dù nguyên nhân ban đầu đã hết tác dụng.


b) Yếu tố bệnh nguyên có thể tồn tại trong suốt quá trình bệnh sinh với các tính chất không thay đổi và đóng vai trò quyết định trong quá trình này, làm cho người bệnh chết nhanh chóng như khi bị điện giật, nhiễm độc nặng, vv...
c) Ngoài ra nguyên nhân gây bệnh có thể tồn tại trong cơ thể trong suốt quá trình bệnh lý, song tác động của nó tháy đổi tuỳ theo trạng thái của cơ thể. Thí dụ trong bệnh thương hàn, vi khuẩn Samonella là yếu tố gây bệnh, phát sinh nhiễm khuẩn huyết lúc ban đầu, sau đó hình thành miễn dịch, gây hiện tượng dị ứng ở tuần thứ 3, cuối cùng vi khuẩn khu trú ở túi mật và không còn khả năng gây bệnh cho chính người dó nữa nhưng vẫn có thể reo rắc bệnh cho người khác.
Vai trò của yếu tố bệnh nguyên còn phụ thuộc vào đường vào cơ thể của yếu tố gây bệnh : đối với một số bệnh mầm bệnh có thể vào cơ thể theo nhiều đường khác nhau, gây ra những bệnh khác nhau. Thí dụ bệnh thương hàn có thể mắt, thể mũi, thể da, thể hầu với những đặc điểm bệnh lý khác nhau.
Kinh nghiệm thường ngàycho biết : ngoài yếu tố bệnh nguyên, bệnh phát sinh hay không, diễn biến thế nào, kết thúc ra sao, vv... chủ yếu phụ thuộc vào sức chống đỡ, tính phản ứng của cơ thể.
Nội dung của bệnh sinh học bao gồm nhiều vấn đề quan trọng :
- Bệnh phát sinh và phát triển chủ yếu thông qua cơ chế phản xạ
- Vấn đề toàn thân và tại chỗ trong bệnh sinh
- Quan hệ nhân quả và khâu chính trong bệnh sinh
- Cơ chế phục hồi sức khoẻ
- Những nguyên tắc chung về điều trị, điều trị bệnh sinh
II. VAI TRÒ CỦA TÍNH PHẢN ỨNG TRONG BỆNH SINH
Tính phản ứng là khả năng đáp ứng của cơ thể đối với mọi kích thích bình thường hoặc bệnh lý. Ngoài những đặc tính do đời trước truyền lại, tính phản ứng còn bao gồm các đặc tính cá thể hình thành trong cuộc sống. Do đó ở những cơ thể khác nhau, tính phản ứng thường khác nhau. Bệnh phát sinh hay không , diễn biến ra sao, kết quả như thế nào chủ yếu phụ thuộc vào tính phản ứng của cơ thể. Cần phải thấy rõ : đối tượng của thầy thuốc không phải là bệnh tật mà là bệnh nhân cụ thể. Có nghiên cứu kĩ tính phản ứng của cơ thể mới hiểu được cơ chế bệnh sinh và khả năng hồi phục của cơ thể khi bị bệnh, tạo điều kiện tốt cho công tác phòng và chữa bệnh.
Rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tính phản ứng của cơ thể :
- yếu tố thần kinh
- yếu tố nội tiết
- yếu tố giới tính
- yếu tố môi trường
A - ẢNH HƯỞNG CỦA THẦN KINH
1. ảnh hưởng của thần kinh cao cấp : thần kinh cao cấp có ảnh hưởng rõ rệt tới tính phản ứng của cơ thể.
a) tuỳ theo trạng thái của vỏ não (hưng phấn hoặc ức chế) quá trình bệnh lý có thể có nhiều sự thay đổi. Thí dụ trong số do truyền nhầm nhóm máu có thể xảy ra một cách im lặng ở bệnh nhân gây mê sâu (vỏ não bị ức chế), trái hẳn với các yếu tố ầm ĩ xảy ra ở bệnh nhân tỉnh.
b) lọai thần kinh cũng ảnh hưởng sâu sắc tới tính phản ứng. Những người thuộc loại thần kinh yếu thìbất cứ một cảm giác đau nhẹ, khác thường nào trên mọi bộ phận của cơ thể (những cái mọi người thường xuyên gặp nhưng không để ý) thông qua tự ám thị và tâm lý lo lắng, tưởng là mình mắc bệnh nghiêm trọng. Vì thế những cảm giác nhỏ ấy không những không mất đi lại được duy trì, cộng hưởng mạnh thêm lên, gây ra những triệu chứng bệnh lý. triệu chứng đã được hình thành này lại thông qua tâm lý bệnh hoạn của tự ám thị thành một vòng luẩn quẩn, dẫn tới những rối loạn sinh lý thực sự, đấy là cơ chế phát sinh của loạnn thần kinh chức năng. Cao hơn, các rối loạn này được nhân lên bởi tưởng tượng hoang đường về bản thể và gây ra vô số những triệu chứng bệnh tật độc đáo, kỳ dị như : bỗng nhiên câm, mù, điếc, liệt 2 chân, lăn lộn vật vã, co uốn kích động, vv...
Một số người thuộc loại thần kinh mạnh nhưng không thăng bằng cũng dễ có hành vi bất thường trong cuộc sống cũng như khi có bệnh. Thực tế đã chứng minh : đôi khi do những xúc cảm bột phát mà người ta có thể nói hoặc làm những việc mà không bao giờ họ tự cho phép mình làm khi bình tĩnh, để rồi lại hối hận khi cơn cảm xúc đã qua.
Với những người thuộc loại thần kinh mạnh khi bị bệnh, ốm đau lâu, vỏ não bị suy yếu do lo lắng, những lo lắng suy tưởng này cộng thêm bệnh có sẵn làm cho bệnh càng năng thêm.
c) Lời nói và tư tưởng cũng ảnh hưởng rõ tới tính phản ứng của cơ thể. Một lời nói vô ý thức cũng có thể gây rab hoặc làm bệnh nặng thêm. Pap-lôp đã nói : “Lời nói đối với con người là một kích thích thật sự, có điều kiện như tất cả các kichs thích khác ...” Đặc biệt những câu nói không cân nhắc của nhân viên y tế về bệnh nhân đều có thể ảnh hưởng đến tâm thần của họ. Nó tác động trực tiếp đến tâm thần bệnh nhân , Thí dụ trước mặt một bệnh nhân nói về một bệnh nhân khác cùng bệnh nhưng chữa không khỏi. Cho nên để tránh gây thêm bệnh, các nhân viên y tế cần phải thận trong khi trao đổi về chuyên môn với nhau và phải tuân thủ các “quy định tâm lý” đối với từng bệnh nhân.
Để tránh gây cho bệnh nhân những chấn thương tâm thần , nhân viên y tế phải biết tiến hành kịp thời tâm lý liệu pháp với bệnh nhân. bằng những biện pháp đơn giản nhất như an ủi, thuyết phục, động viên, người thầy thuốc có thể làm cho bệnh nhân an tâm, tin tưởng sẽ khỏi bệnh, chịu đựng được các chấn thương tâm thần và tự mình đấu tranh cho bệnh chóng khỏi. Trong một số trường hợp, tâm lý liệu pháp lại có tác dụng hơn cả thuốc men kỹ thuật. Theo Pơlatônôp, tâm lý liệu pháp rất có hiệu quả đối với một số bệnh rối loạn chức năng do nguyên nhân tâm thần. Trong điều trị, kết hợp những chất không liên quan (thường gọi là thuốc giả) với lời nói thuyết phục thấy có ảnh hưởng tốt tới diễn biến của nhiều bệnh : hết đau đầu ở 59% bệnh nhân, hết say sóng ở 58% bm, hết loạn thần kinh chức năng ở 34% bệnh nhân, vv...
Tâm lý liệu pháp cần thiết đối với tất cả các chuyên khoa. Người thầy thuốc dù rất giỏi chuyên môn song không hiểu tâm lý bệnh nhân và không biết cách tác động đến nó thì kết quả điều trị nhất định bị hạn chế. Người thầy thuốc luôn nên nhớ rằng trước mặt họ là một bệnh nhân mà tâm thàn ở mức độ ít những đang bị tổn thương và vì vậy những lời nói thiếu thận trọng của người thầy thuốc và ngay cả sự đổi giọng và những cử chỉ thiếu suy nghĩ có thể để lại một dấu vết không phai mờ. Do đó một sự trầm ngâm chăm chú và một cái lắc đầu đăm chiêu chẳng hạn khi đọc các phim X-quang , đọc các phiếu xét nghiệm, những từ nói ra bệnh nhân không hiểu (nói thầm) ... đều có thể làm cho bệnh nhân lo ngại.
Xúc cảm tâm lý là một nguyên nhân gây bệnh. Cách đây hơn 4000 năm, các sách y học cổ của phương Đông đã viết “ thất tình” là nguồn gốc của bệnh tật (thất tình là 7 loại tình cảm : vui, giận, yêu, ghét, ham muốn, ưu tư, khiếp sợ) và đã giải thích : tình cảm mất thăng bằng làm rối loạn khí chất, từ đó gây rối loạn sinh lý cơ thể. Danh y Tuệ Tĩnh đã từng chữa nhiều bệnh không cần thuốc mà chỉ cần “chữa mẹo” bằng lời nói cũng khỏi, điều đó chứng minh y học đã dùng ám thị để chữa bệnh ngay từ rất xa xưa. ngày nay ở nhiều nước tiên tiến đã áp dụng phương pháp ám thị thôi miên vào nhiều lĩnh vực y học.
d) khi mắc một bệnh cấp tính (nhiễm trùng, nhiễm độc cấp) thoạt tiên phát sinh ức chế toàn bộ vỏ não : bệnh nhân ít phản ứng đối với kích thích bên ngoài, phản xạ có điều kiện giảm sút. Quá trình ức chế có tính chất tự vệ của vỏ não đã giải phóng các trung khu thực vật dưới vỏ và tăng cường hệ thống dưới thị – tiền yên – vỏ thượng thận, dẫn tới : một mặt quá trình hưng phấn ở những trung khu thực vật được dẫn truyền theo đường giao cảm và phó giao cảm tới các nội tạng để điều hoà chức năng ; mặt khác hệ tiền yên – vỏ thượng thận tiết ra những hormon (ACTH, cocticoit đường và khoáng) để tác động tới phản ứng viêm, vv... Trong trường hợp bệnh quá nặng, quá trình ức chế lan tới các trung khu dưới vỏ làm suy yếu mọi chức năng đề kháng của cơ thể (ức chế bệnh lý).
2. ảnh hưởng của thần kinh thực vật
Khi thần kinh giao cảm hưng phấn, chuyển hoá cơ bản tăng, thực bào tăng, sản xuất kháng thể đặc hiệu bị ức chế song sản xuất kháng thể không đặc hiệu tăng.
Khi thần kinh phó giao cảm hưng phấn, sản xuất kháng thể đặc hiệu tăng, trái lại sản xuất kháng thể không đặc hiệu bị ức chế, thực bào giảm, các hàng rào bảo vệ (như hạch bạch huyết ) tăng cường hoạt động.
B - ẢNH HƯỞNG CỦA NỘI TIẾT
Tính phản ứng của cơ thể chịu ảnh hưởng sâu sắc của hệ thống nội tiết, chủ yếu là tiền yên và vỏ thượng thận. Theo Xi-lai bất cứ một kích thính mạnh nào của ngoại môi tác động lên cơ thể đều có thể gây ra một chuỗi phản ứng không đặc hiệu kết hợp với nhau thành “hội chứng thích ứng chung” mà cơ sở hoạt động là nọi tiết, cụ thể là hormon của tiền yên và vỏ thượng thận (xem bài khái niệm về bệnh)
Khi bị kích thích mạnh, trung tâm dưới thị tiết ra một số hormon thần kinh (còn gọi là yếu tố giải phóng) những hormon này được dẫn tới tiền yên bằng đường máu, thuỳ trước tiền yên bắt đầu tăng tiết ACTH, hormon này kích thích vỏ thượng thận gây tăng tiết coctisol. Sau đó tiền yên tăng tiết STH, dẫn tới tăng tiết aldosterol.
1. Vai trò của ACTH và coctisol
Coctisol có vai trò chống viêm và chống dị ứng.
a) chống viêm :
- coctisol ức chế mọi nhân tố của quá trình viêm dù là viêm do vi khuẩn, dị ứng hay một nguyên nhân hoá học khác.
- coctisol hạn chế phản ứng đại thực bào, ức chế sự phát triển của tổ chức liên kết, tổ chức hạt, giảm tính thấm thành mạch, giảm phù nề và tiết dịch, hạn chế sự hình thành của mao mạch tân tạo.
- tuy chống được viêm nhưng coctisol không ngăn ngừa được những tổn thương hoại tử do mần bệnh gây ra.
b) chống dị ứng :
- coctisol không phá huỷ những kháng thể được tiêm vào cơ thể, và chỉ trực tiếp ức chế quá trình miễn dịch chủ động.
- Coctisol gây thoái biến các tổ chức bạch huyết , gây tan vỡ các tế bào lympho và tương bào, ức chế phản ứng tương bào và ức chế hoạt động thực bào. vì thế số lượng tương bào và gamma globulin giảm trong các tổ chức bạch huyết và tổ chức viêm, dẫn tới hạn chế tổng hợp kháng thể.
Qua sự phân tích trên, thấy rõ coctisol một mặt hạn chế các phản ứng dị ứng toàn thân và tại chỗ (chống dị ứng), mặt khác làm suy yếu sức chống đỡ của cơ thể (chống viêm). Do những tác dụng trên, coctisol rất có hiệu quả với những bệnh viêm nhiễm dữ dội, những bệnh dị ứng, những thể tăng mẫn cảm của các bệnh nhiễm trùng. Trái lại coctisol chỉ địng hạn chế khi cơ thể suy kiệt, khi mần bệnh không có kháng sinh đặc hiệu, vv... Dùng liều cao đối với người và động vật có thể tăng khả năng mắc bệnh đối với nhiều loại vi khuẩn.
2. Vai trò của STH, DOC và aldosterol :
Tác dụng của STH đối lập với ACTH và coctisol.
- STH tăng cường quá trình viêm, kích thích tổ chức liên kết tăng sinh, qua đó có tác dụng chống nhiễm trùng. Khác với DOC (desoxycocticosteron), STH còn có tác dụng chống hoại tử.
- STH tăng cường sự phát triển của tương bào trong các tổ chức bạch huyết, tăng tổng hợp globulin và kháng thể.
DOC và aldosterol có tác dụng điều hoà chuyển hoá nước, điện giải (giữ NA, thải K). tác dụng của aldosterol mạnh hơn DOC. Trái với coctisol, hai hormon này đều tăng cường phản ứng viêm (tăng sinh tế bào xơ non của tổ chức hạt, phát triển mao mạch và tăng cường phản ứng tương bào).
C - ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH
Một số bệnh hay gặp ở nam giới (loét dạ dày, tá tràng, nhồi máu cơ tim, u độc phổi). Trái lại nữ giới hay gặp những bệnh như viêm tuid mật, u độc vú, Isteri, vv...
D - ẢNH HƯỞNG CỦA TUỔI
Mỗi tuổi lại có những đặc điểm phản ứng riêng đối với bệnh tật. tính phản ứng của cơ thể yếu khi còn nhỏ, tăng tới tuổi dậy thì và giảm lúc trở về già. Do đó bệnh thường chia làm bệnh của trẻ sơ sinh, bệnh của trẻ em, bệnh của tuổi dậy thì, bệnh của tuổi thanh niên và bệnh của người già.
1. Tính phản ứng của trẻ sơ sinh và đang bú.
- hệ thống thần kinh, đặc biệt là thần kinh cao cấp chưa phát triển đầy đủ, nên cơn sốt ở loại tuổi này rất mạnh (dễ gây co giật) song chóng lui.
- Các hệ thống hàng rào chống nhiễm trùng (da, niêm mạc, hạch bạch huyết) chưa kiện toàn.
- Trong máu không có hoặc có rất ít kháng thể tự nhiên. khi trẻ lớn lên, những kháng thể tự nhiên này xuất hiện dần trong máu và đứa trẻ cũng dần ra khỏi trạng thái “không phản ứng”. Tuổi sơ sinh không thể sản xuất kháng thể ngay cả khi gây miễn dịch chủ động (tiêm chủng) ; trẻ sơ sinh giống như tình trạng người không có gamma globulin trong máu. nguyên nhân chính là vì trẻ sơ sinh không có tương bào (trong tuỷ xương và hạch bạch huyết) là những tế bào sản xuất kháng thể. Tuy nhiên ở trẻ sơ sinh có thể thấy kháng thể từ máu mẹ truyền sang qua nhau thai trong thời kyd bào thai. Nhưmg số gamma globulin này giảm dần trong 3 tháng đầu. Từ tháng thứ tư trở đi, trong cơ thể bắt đầu có phản ứng tương bào, lúc đó kháng thể bắt đầu được sản xuất trong cơ thể trẻ em.
- Ngoài ra hoạt động thực bào ở trẻ sơ sinh nói chung còn yếu.
- Ngoài trạng thái “không phản ứng” của toàn thân, da của trẻ sơ sinh và trẻ đang bú cũng không có tính phản ứng. Vì thế ở tuổi này, những phản ứng dị ứng ngoài da thường không rõ rệt. Phản ứng viêm ngoài da ở tuổi này cũng yếu, nên thường có xu hướng bị nhiễm trùng mủ máu mỗi khi bị nhiễm tụ cầu khuẩn hoặc liên cầu khuẩn qua da, vì quá trình phản ứng viêm ngoài da ở các hạch bạch huyết hầu như không có do ở tuổi này không có phản ứng vận mạch và hệ thần kinh chưa phát triển.
Những đặc điểm của tính phản ứng của trẻ sơ sinh và đang bú có ảnh hưởng rõ rệt tới bệnh tật của lứa tuổi này:
- trẻ ít mắc sởi, rubeon, vv... vì có kháng thể của mẹ truyền sang. Từ tháng thứ 4-5-6 trở đi, các kháng thể từ mẹ mất dần, đồng thời trẻ chưa có miễn dịch tự nhiên chủ động nên bắt đầu có khả năng mác bệnh.
- Vì tính phản ứng yếu nên trên lâm sàng, một số bệnh lứa tuổi này khác với người lớn , thường không điển hình. Đặc biệt những bệnh như sởi, ho gà, bạch hầu, nhiễm trùng máu, vv... ở trẻ dưới 2 tuooỉ thường tiến triển rất nặng và tỉ lệ chết cao hơn so với trẻ lớn.
2. Tính phản ứng ở tuổi thanh niên
Khi lớn lên, tính phản ứng được tăng cường theo sự phát triển và kiện toàn của hệ thống thần kinh , của các hàng rào tự vệ (da, niêm mạc, hạch bạch huyết ) và của cả khả năng sản xuất kháng thể. triệu chứng lâm sàng ở tuổi thanh niên thường rõ rệt, điển hình , nhiều khi dữ dội nhưng lại có khả năng phục hồi mau chóng.
3. Tính phản ứng của người già
Khi về già, tính phản ứng lại giảm vì hệ thần kinh, hệ thống hàng rào phòng ngự , khả năng sản xuất kháng thể, hoạt động thực bào đều giảm. ở tuổi này bệnh thường tiến triển không rõ ràng, không điển hình, không dữ dội nhưng thường nặng, phục hồi chậm, tỉ lệ chết cao.
E - ẢNH HƯỞNG CỦA NGOẠI MÔI
Môi trường bên ngoài ảnh hưởng sâu sắc tới tính phản ứng của cơ thể như ánh sáng, tia xạ, nhiệt độ, thức ăn, chất độc, vv... và đặc biệt đối với con người là hoàn cảnh xã hội.
Ai cũng biết nhiễm lạnh làm giảm sức chống đỡ của cơ thể đối với nhiễm trùng ; sốc chấn thương thường dễ phát sinh và diễn biến nặng ở những thương binh bị nhiễm lạnh.
Những hoá chất gây nhiễm độc kéo dài cũng làm thay đổi tính phản ứng của cơ thể. Nghiện rượu gây viêm dạ dày, xơ gan, do đó làm giảm sức chống đỡ của cơ thể đối với sự xâm nhập của vi khuẩn, dễ phát sinh bệnh.
Những tia ánh sáng hay tia xạ làm thay đổi tính phản ứng : tia tử ngoại với liều lượng thích hợp có tác dụng tăng cường sức chống đỡ của cơ thể đối với nhiễm trùng, trái lại liều lớn có thể gây bỏng.
* Dinh dưỡng và sức chống đỡ của cơ thể :
Tình trạng dinh dưỡng ảnh hưởng sâu sắc tới tính phản ứng của cơ thể. Trong lịch sử nhân loại, đói và dịch thường đi đôi với nhau, nhà tù và bệnh dịch cũng vậy. Dinh dưỡng đầy đủ làm tăng sức chịu đựng của cơ thể đối với nhiễm trùng, nhiễm độc. Trái lại dinh dưỡng kém, không cân đối đều làm giảm sức chống đỡ của cơ thể.
1. Vai trò của protein.
Trong dinh dưỡng , yếu tố quan trọng đặc biệt đối với sức chống đỡ của cơ thể là protein. Có thể nói “dự trữ protein trong cơ thể là hàng rào tự vệ chống lại nhễm trùng” (Madden và Whipple). Trong thực nghiệm , động vật ăn thiếu protein thường dễ phát sinh những ổ nhiễm trùng tự nhiên (viêm phổi, ãpe, nhiễm trùng máu, vv... ) Trên lâm sàng, những người bị phù do thiếu protein thường dễ phát sinh những bệnh đường hô hấp, và nhiều bệnh khác. những bệnh nhân trẻ em gầy còm syt dinh dưỡng hay bị bội nhiễm, với những bệnh nhân suy kiệt, truyền máu và huyết tương cho kết quả tốt. Như đã biết, protein ăn vào là nguồn cung cấp nguyên liệu (axit amin ) để tổng hợp kháng thể; ngoài ra thiếu protein trong dinh dưỡng còn làm giảm hoạt động thực bào.
2. Vai trò của vitamin
ăn uống đầy đủ vitamin làm tăng sức chống dỡ của cơ thể đối với bệnh tật, đặc biệt đối với nhiễm trùng .
a) Vitamin A. thiếu vitamin A, sức chống đỡ tự vệ của các niêm mạc bị giảm sút, vì thiếu vitamin A gây loạn sản biểu mô và làm rối loạn quá trình oxy hoá của biểu mô. người thiếu vitamin A hay bị viêm họng , viêm tai giữa, nhiễm trùng đường khí quản trên, viêm phổi, vv...
b) Vitamin nhóm B làm tăng sức chịu đựng của cơ thể đối với nhiễm trùng vì chúng có vai trò quan trọng trong quá trình chuyển hoá tế bào oxy hoá trong cơ thể, ảnh hưởng đồng thời tới sức lớn, tới chức năng tiết dịch của dạ dày, tới trương lực cơ ruột, tới chức năng tạo máu, tới chức năng hô hấp của hệ thống thần kinh, vv... trong thực nghiệm tiêm virut bệnh sốt vàng vào não chuột, lô chuột được ăn đủ vitamin nhóm B sống 76,4%, còn lô chứng chỉ sống có 16,7%.
c) Vitamin C : thiếu vitamin C làm giảm rõ rệt sức chống đỡ của cơ thể đối với nhiễm trùng vì vitamin C cần thiết cho quá trình oxy hoá và quá trình hồi phục của chuyển hoá tế bào. trong cơ thể bị nhiễm trùng, phản ứng oxy hoá ở tế bào thường tăng cường nên tiêu thụ vitamin C rất nhiều, vì thế thiếu vitamin C là một đặc điểm của bệnh tuyền nhiễm. thiếu vitamin C còn ức chế hoạt động thực bào và hạn chế khả năng miễn dịch (gây teo tổ chức lympho, dẫn tới giảm sản xuất kháng thể).
d) Vitamin D cũng tham gia một phần vào sức đề kháng chống nhiễm trùng vì vitamin D duy trì thế cân bằng của quá trình dinh dưỡng và các quá trình oxy hoá trong tế bào.
3. suy dinh dưỡng và đặc điểm lâm sàng bệnh nhiễm khuẩn.
Ở những bệnh nhân suy dinh dưỡng, thiếu protein, thiếu vitamin, tính phản ứng và sức chống đỡ của cơ thể giảm sút. Cho nên thường có những đặc điểm lâm sàng sau đây :
- Nhiệt độ không cao lắm, có khi không sốt, ngay cả những bệnh cấp tính như cúm, viêm phổi, nhiễm trùng máu, vv... Có khi thay đổi hẳn chu kỳ bệnh như trong sốt rét, sốt hồi quy, vv...
- Phản ứng bạch cầu yếu, có thể không có.
- Hiệu giá ngưng kết ở những phản ứng huyết thanh đặc hiệu thường thấp,thậm chí phản ứng âm tính vì sản xuất kháng thể giảm. không thấy gan , lách sưng một cách rõ rệt trong nhiễm trùng máu, thương hàn, sốt rét, vv...
- Lâm sàng bệnh thường không rõ rệt, không điển hình, bệnh hay tiến triển nặng, kéo dài, dễ tái phát, tỉ lệ chết cao.
- chỉ dùng thuốc điều trị nguyên nhân gây bệnh mà không chú ý áp dụng những biện pháp tăng sức chống đỡ của cơ thể (tiếp tế protein, vitamin, lý liệu pháp, miễn dịch liệu pháp, vv...), kết quả sẽ hạn chế.
Mặt khác người người suy dinh dưỡng vì tính phản ứng yếu nên ít mắc những bệnh phát sinh chủ yếu theo cơ chế dị ứng như hen ...
III. BỆNH PHÁT SINH VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ YẾU
THÔNG QUA CƠ CHẾ PHẢN XẠ
Kích thích bệnh lý tác động trên cơ thể trước tiên gây tổn thương tổ chức, rối loạn chuyển hoá và rối loạn chức năng tại chỗ bị kích thích. Đồng thời, kích thích bệnh lý còn tác động lên các thụ thể và thông qua cơ chế phản xạ để gây ra một chuỗi phản ứng toàn thân phức tạp. Thí dụ khi bị thương nặng ngoài tổn thương tại chỗ , còn phát sinh một trạng thái suy xụp đột ngột toàn bộ các chức năng quan trọng của cơ thể (sốc) : hệ thống thần kinh trung ương hưng phấn, sau đó bị ức chế (lúc đầu là ức chế bảo vệ, sau đó là ức chế bệnh lý ). huyết áp giảm, mạch nhanh yếu, hô hấp nông và nhanh, thân nhiệt giảm, giảm cảm giác, giảm phản xạ, thiểu niệu thậm chí vô niệu, vv... Nếu kịp thời tác động trên cung px (phong bế Novocain, tiêm morphin, thuốc liệt thần kinh, vv...) thấy các rối loạn trên giảm hoặc tránh được sốc.
Ngoài cơ chế phản xạ không điều kiện, bệnh còn có thể phát sinh theo cơ chế phản xạ có điều kiện. Sau nhiều lần kết hợp với kích thích bệnh lý, , một kích thích không liên quan (có điều kiện ) có thể gây ra bệnh. Trong thực nghiệm, dựa vào cơ chế phản xạ có điều kiện, người ta có thể gây nhiễm độc morphin, long não, vv... bằng cách tiêm cho chó dung dịch sinh lý. Trên lâm sàng, phản xạ có điều kiện bệnh lý có thể gây ra một số quá trình bệnh lý (co thắt động mạch vành, đau quặn gan, quặn thận, vv...)
Cơ chế thần kinh – thể dịch là một khâu quan trọng trong quá trình điều tiết các chức năng của cơ thể. Giữa hệ thần kinh và hệ nội tiết có một mối quan hệ mật thiết ; ở động vật cao cấp và ở người, mối tương quan giữa vỏ não, dưới thị, tuyến yên và thượng thận có vai trò vô cùng quan trọng trong bệnh sinh học. Cả hệ thống đó chi phối khả năng thích ứng phòng ngự của cơ thể, chi phối các phản ứng không đặc hiệu của cơ thể đối với tác động của bất cứ một kích thích bệnh lý nào. Như vậy, cơ chế phản xạ - cơ chế bệnh sinh chủ yếu – thực hiện bằng 2 con đường kết hợp chặt chẽ với nhau : đường thần kinh – thể dịch.
Giữa vỏ não và nội tạng có mối quan hệ qua lại mật thiết đã được Bu-côp chứng minh và phát triển thành học thuyết vỏ não – nội tạng. Như đã biết, bình thường vỏ não ở trong trạng thái hưng phấn nên có tác dụng cảm ứng âm tính đối với các trung khu dưới vỏ, tức là điều tiết , kìm hãm hoạt động của các trung khu này. trái lại, khi vỏ não ở trong trạng thái bị ức chế , trung khu dưới vỏ được giải thoát, do đó phát sinh hưng phấn hỗn loạn (cảm ứng dương tính) và gây ra nhiều rối loạn thực vật : co thắt mạch máu, rối loạn phân tiết và vận động dạ dày ruột, rối loạn nội tiết, rối loạn chuyển hoá, vv... Nếu rối loạn thần kinh chỉ là tạm thời thì các chức năng sẽ dần dần hồi phục, trái lại, nếu rối loạn thần kinh kéo dài, hoạt động của các nội tạng đã thay đổi và không ngừng truyền những xung động bệnh lý lên trung khu thần kinh, kết quả là tăng cường mối quan hệ giữa vỏ não và trung khu dưới vỏ, gây ra một vòng xoắn bệnh lý làm cho bệnh tiếp tục phát triển. Bệnh lý học vỏ não – nội tạng lấy nguyên lý này làm cơ sở. Bệnh huyết áp cao, bệnh loét dạ dày tá tràng và một số bệnh khác có thể phát sinh, phát triển theo cơ chế này . phục hồi lại chức năng của vỏ não và trung khu dưới vỏ (điều trị bằng giấc ngủ) trong một số trường hợp thấy có hiệu quả tốt.
IV. VẤN ĐỀ TOÀN THÂN VÀ TẠI CHỖ TRONG BỆNH SINH HỌC
1. Quan niệm sai lầm :
Trong y học, còn tồn tại xu hướng chia bệnh ra làm bệnh toàn thân và bệnh tại chỗ. chịu ảnh hưởng của Viêc-sôp, các tác giả này cho rằng bệnh chỉ là một quá trình tại chỗ do tác động trực tiếp của các nhân tố bệnh lý. Từ quá trình tại chỗ chuyển sang toàn thân, họ cho đó là do tác động của nhân tố gây bệnh trên diện tế bào rộng lớn hơn.
Quan điểm trên sai về nguyên tác vì đã phủ nhận tính thống nhất của cơ thể. Ngoài ra không có bệnh nào hoàn toàn là tại chỗ, cũng không có bệnh nào hoàn toàn là toàn thân. những bệnh thoạt nhìn cho là tại chỗ (viêm, u độc, vv... ) song trong thực tế quá trình bệnh sinh lệ thuộc vào trạng thái toàn thân, đồng thời ảnh hưởng sâu sắc tới toàn thân ; trái lại những bệnh thoạt nhìn thì thấy chỉ rối loạn toàn thân (phần lớn các bệnh truyền nhiễm) song thực tế ở một số cơ quan , tổ chức nào đó có những thay đổi về cấu tạo và chức năng quan trọng.
2. Bệnh là một phản ứng toàn thân mà biểu hiện tại chỗ là chủ yếu.
Quá trình bệnh lý tại chỗ phụ thuộc vào tình trạng toàn thân, đồng thời ảnh hưởng sâu sắc tới toàn thân.
a) Toàn thân ảnh hưởng tại chỗ : tuỳ theo tính phản ứng của cơ thể, một bệnh có thể diễn biến khác nhau ở những bệnh nhân khác nhau, do đó có câu : “không có hai bệnh nhân hoàn toàn giống nhau”. Thí dụ phản ứng viêm phụ thuộc những yếu tố : tuổi (người già phản ứng viêm yếu hơn thanh niên), tình trạng dinh dưỡng của cơ thể (khi đói ăn viêm dễ nặng), tính miễn dịch (viêm dữ dội ở cơ thể đã có mẫn cảm sẵn), hệ võng nội mô (viêm nặng hơn khi hệ này bị ức chế ), hệ nội tiết (đặc biệt là tiền yên và vỏ thượng thận), hệ thần kinh trung ương (hệ thần kinh càng biệt hoá, phản ứng viêm càng rõ rệt và phong phú).
Mọi người đều đã rõ, toàn thân khoẻ mạnh thì sức chống đỡ tại chỗ cũng tốt hơn, do đó nhân tố gây bệnh khó xâm nhập vào cơ thể hoặc nếu vào được thì cũng nhanh chóng bị đào thải ra ngoài. Thí dụ vết thương chóng lành nếu người bệnh được ăn uống đầy đủ, hoặc ở người được miễn dịch tốt thì vi khuẩn không xâm nhập vào cơ thể được. Theo quan điểm của y học phương Đông cổ truyền thì chữa bệnh cơ bản là làm cho cơ thể bị bệnh vượng lên, khác chống được mọi nhân tố gây bệnh, đó là thấm nhuần mối liên quan giữa toàn thân và tại chỗ.
b) Ngược lại, quá trình bệnh lý tại chỗ có thể ảnh hưởng sâu sắc tới toàn thân. Nói chung, một quá trình bệnh lý tại chỗ với một cường độ nhất định có thể gây ra những thay đổi về cấu tạo và chức năng ở xa nơi bị bệnh. Thí dụ bỏng nặng có thể gây ra một chuỗi phản ứng toàn thân phức tạp, thậm chí phát sinh sốc : rối loạn thần kinh trung ương (hưng phấn rồi ức chế), huyết áp giảm, mạch nhanh yếu, thở nông nhanh, máu cô, rối loạn tiết niệu (thiểu niệu hoặc vô niệu), vv...
Để kết luận , ta thấy rõ bệnh là một phản ứng toàn thân mà biểu hiện tại chỗ là chủ yếu. Những quá trình được gọi là tại chỗ thực tế chỉ là một bộ phận quan trọng của một hệ thống phản ứng phức tạp, chỉ là biểu hiện tại chỗ của một bệnh toàn thân, do đó không thể tách rời tại chỗ và toàn thân mà phải thống nhất một cách biện chứng. Cho nên trong chức bệnh, cần phải biết kết hợp chữa tại chỗ và chữa toàn thân, song đáng tiếc là không ít thầy thuốc hay mắc khuyết điểm là thường lãng quên toàn thân mà chỉ chú ý tại chỗ.
V. QUAN HỆ NHÂN QUẢ VÀ KHÂU CHÍNH TRONG BỆNH SINH
Những bệnh phức tạp thường diễn biến qua nhiều khâu, tiếp nối nhau theo một trình tự nhất định và có liên quan mật thiết với nhau. Chính bệnh sinh học nghiên cứu về cơ chế bệnh sinh của các khâu đó cung xnhư mối tương tác giữa chúng với nhau. Thí dụ liên cầu khuẩn gây viêm họng, rồi từ đó có thể gây viêm màng trong tim, mà hậu quả là hở van và hẹp van. Những thay đổi về cấu tạo của tim dẫn tới những rối loạn tuần hoàn máu trong tim. Lúc đầu cơ tim còn mạnh, bù đắp được, song dần dần mất bù, tim bị suy, dẫn tới ứ máu tĩnh mạch mà hậu quả là phù và tràn dịch, rối loạn chuyển hoá và chức năng toàn thân, và cứ thế diễn biến làm cho bệnh ngày một nặng.
Cho nên trong quá trình bệnh sinh, nguyên nhân ban đầu gây ra những hậu quả nhất định, những thay đổi này lại trở thành nguyên nhân của những rối loạn mới và các rối loạn này lại có thể dẫn tới các hậu quả khác vv... Kết quả là một quá trình bệnh lý không ngừng phát triển và bệnh ngày một nặng.
Đặc biệt quan trọng là trong nhiều quá trình bệnh lý, những khâu sau tác động lại khâu trước làm cho bệnh nặng thêm. Thí dụ trong sốc chấn thương nặng gây rối loạn thần kinh trung ương nghiêm trọng (hưng phấn rồi ức chế) mà hậu quả là thiếu oxy do rối loạn tuần hoàn (suy mạch cấp), thiếu oxy lại tăng cường trạng thái ức chế thần kinh trung ương khiến rối loạn tuần hoàn và hô hấp thêm nặng, vv... Cứ như vậy khâu nọ tác động lên khâu kia làm cho sốc diễn biến nặng thêm , tạo ra vòng xoắn bệnh lý làm cho sốc không hồi phục (hình 1).
Nhiệm vụ của người thầy thuốc là tháy rõ mối quan hệ nhân quả giữa các hiện tượng bệnh lý, đánh giá đúng những thay đổi ấy và kịp thời phát hiện những thay đổi chủ yếu nghĩa là những khâu chính trong quá trình bệnh sinh. Điều này rất quan trọng để có một cách điều trị thích đáng (điều trị bệnh sinh ), để kịp thời ngăn chặn vòng xoắn bệnh lý khỏi xảy ra và một khi đã xảy ra thì phải kịp thời cắt đứt., phá vỡ vòng xoắn, trừ bỏ các rối loạn và phục hồi các chức năng . Thí dụ trong suy tim, trọng tâm điều trị là phục hồi sức co bóp cơ tim kết hợp với chế độ nghỉ ngơi để giảm bớt gánh nặng đối với cơ tim đã bị suy. hoặc trong sốc, trọng tâm điều trị là phục hồi lượng máu lưu thông bằng cách truyền dịch. Trong nhiều trường hợp, phải tìm cách tác động lên nhiều khâu cùng một lúc, điển hình là trong sốc, phải tìm cách tác động lên nhiều khâu : rối loạn thần kinh, rối loạn tuần hoàn, rối loạn hô hấp, rối loạn chuyển hoá, vv...
VI. CƠ CHẾ PHỤC HỒI SỨC KHOẺ
Trong cơ chế phục hồi sức khoẻ, chức năng thích ứng phòng ngự có một ý nghĩa vô cùng quan trọng. cơ thể con người có nhiều hình thức để phòng ngự chống lại bệnh tật.
- Sản sinh kháng thể (trong bệnh nhiễm trùng)
- Phản ứng thực bào
- Chức năng giải độc của gan
- Đào thải các nhân tố gây bệnh, các độc tố ra ngoài (nôn, nước tiểu, phân, mồ hôi, niêm dịch, vv... )
- Tế bào tăng sinh để hàn gắn tổn thương tổ chức.
- Chức năng bù đắp
* Chức năng bù đắp
Đây là một hình thức phòng ngự phổ biến rất quan trọng trong quá trình phục hồi sức khoẻ . trong thực nghiệm, cắt bỏ 2 tuyến thượng thận chắc chắn sẽ gây chết trong thời gian ngắn, song nếu chỉ để lại 1/10 thể tích của một tuyến, con vật vẫn sống. Hoặc cắt bỏ hoàn toàn tuyến giáp gây phù niêm, song nếu để lại 0,2% thể tích tuyến đó, thấy con vật vẫn bình thường.
Trên lâm sàng, chức năng bù đắp thể hiện rất rõ :
- Khi một bên phổi bị bệnh , phổi lành tăng cường hoạt động để đảm bảo nhu cầu về oxy của các cơ quan, tổ chức.
- Khi một bên thận bị bệnh, thậm chí cắt bỏ một thận, thường không thấy phát sinh nhiễm độc ure vì thận lành tăng cường hoạt động để bù đắp.
Hoạt động thích nghi bù đắp đã làm nên điều rất kỳ diệu trong trường hợp nhà bác học Pat-xtơ : năm 46 tuổi, ông bị chảy máu não ở bán cầu não phải. thoát được cơn bệnh cực kỳ nguy kịch này, ông ra sức rèn luyện và sức khoẻ của ông dần hồi phục. Ông lại tiếp tục nghiên cứu khoa học và sau đó có hàng trăm phát minh trong đó có 3 phát minh vĩ đại tạo nên những cuộc cách mạng trong y học. Ông mất năm 75 tuổi. Khi mổ tử thiếu, người ta thấy bán cầu đại não phải của ông đã bị teo hoàn toàn, không hoạt động được nữa. Như vậy, với nghị lực phi thường, với việc rèn luyện bền bỉ, Pat-xtơ đã tiếp tục làm việc với nửa bộ óc còn lại và hàng trăm phát minh đã ra đời từ nửa bộ óc đó !
Qua sự phân tích trên đây, thấy rõ chức năng phòng ngự có vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình phục hồi sức khoẻ. Song chớ quên rằng không phải tất cả các hiện tượng thích ứng phòng ngự đều có lợi đối với cơ thể, đôi khi còn có hại nếu quá mức. Thí dụ :
- Nôn mửa có tác dụng thải trừ chất độc, song môn mửa quá nhiều có thể gây mất nước và điện giải nghiêm trọng.
- Sốt có tác dụng tăng cường thực bào và sản sinh kháng thể, song sốt cao sẽ ảnh hưởng không tốt tới chức năng thần kinh, tuần hoàn, chuyển hoá, vv...
* Trạng thái ức chế :
Trong cơ chế khôi phục sức khoẻ, hiện tượng ức chế có mức độ của hệ thần kinh trung ương là một phản ứng phòng ngự chống lại những kích thích quá mạnhh kéo dài, tránh cho tế bào thần kinh, đặc biệt là vỏ đại não khỏi bị tiêu hao quá độ. Trong công tác điều trị, những biện pháp có tác dụng tăng cường ức chế bảo vệ đã được ứng dụng nhằm khôi phục chức năng vỏ đại não và các trung khu cấp thấp. Người ta đã dùng phương pháp điều trị bằng giấc ngủ có tác dụng tốt đối với một số bệnh (bệnh loét, huyết áp cao, vv...)phát sinh do tác dụng của các kích thích bệnh lý gây ra suy nhược tế bào thần kinh. Giấc ngủ sinh lý cũng như giấc ngủ nhân tạo (nếu gần giống giấc ngủ sinh lý) theo Pap-lôp có tác dụng bảo vệ tế bào vỏ não : tránh tiêu hao quá mức, đồng thời khôi phục năng lượng đã mất, do đó thúc đẩy quá trình khôi phục chức năng thần kinh đã bị suy yếu, khiến cho cơ thể chóng lành bệnh.
VII. NHỮNG NGUYÊN TẮC CHUNG VỀ ĐIỀU TRỊ
Một phương pháp điều trị hợp lý phải nhằm trừ bỏ nguyên nhân gây bệnh (đặc biệt trong bệnh nhiễm trùng) tăng cường khả năng thích ứng phòng ngự của cơ thể, và cuối cùng thanh toán hoặc hạn chế được những hậu quả của bệnh (rối loạn chức năng và tổn thương tổ chức). Chữa bệnh thông thường bằng thuốc. Những khi cần thiết phải tiến hành phẫu thuật mới giải quyết được bệnh. Người ta còn điều trị bằng các phương pháp vật lý (lý liệu pháp). Ngoài ra còn cần phải chú ý tới vấn đề sinh hoạt vật chất (đặc biệt là dinh dưỡng) và tinh thần (tâm lý liệu pháp) của người bệnh . tất nhiên bệnh nhân có nghỉ ngơi thoải mái thì bệnh mới chóng khỏi.
Người ta phân biệt 3 loại điều trị :
a) Điều trị nguyên nhân : nhằm trừ bỏ nguyên nhân gây bệnh. Thí dụ dùng kháng sinh trong điều trị các bệnh nhiễm trung có tác dụng tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh. Song có những bệnh không điều trị nguyên nhân được vì không rõ nguyên nhân hoặc nguyên nhân gây bệnh chỉ tác động một thời gian ngắn, sau đó bệnh vẫn tiếp tục phát triển (sốc, bỏng, vv... )
b) Điều trị bệnh sinh : nhằm tăng cường khả năng thích ứng phòng ngự của cơ thể, phát hiện những thay đổi chủ yếu trong quá trình bệnh sinh, tìm được khâu chính trong vòng xoắn bệnh lý để phá vỡ. Thí dụ trong sốc nặng phải giải quyết tình trạng thiếu oxy do rối loạn tuần hoàn và hô hấp gây ra mới làm cho bệnh nhân thoát sốc được. hoặc muốn giải quyết tình trạng ứ máu và phù ở bệnh nhân suy tim cần phải hồi phục sức co bóp của cơ tim, vv... Điều trị bệnh sinh có một tầm quan trọng đặc biệt và đòi hỏi một cơ sở lý luận vững chắc.
c) Điều trị triệu chứng : nhằm đau đâu chữa đấy, có tác dụng nhất thời.

Thêm bình luận


Mã an ninh
Làm tươi

6335885
Hôm nay
Hôm qua
Tháng này
Tháng trước
Tổng số
543
4486
103787
138003
6335885