Học Tập Thương Hàn Luận Bản Nghĩa - Phần 3 - Vô Thường

PHẦN 3


HỌC TẬP THƯƠNG HÀN LUẬN BẢN NGHĨA

TẬP 2

Cụ Việt Nhân Lưu Thủy khám phá được hầu hết các bí chỉ làm sách của Đức Trọng Cảnh, phân hiểu rõ ràng các Chương Tiết của 2 sách Thương Hàn Luận và Tạp Bệnh Luận và đã làm Bản Nghĩa để lại cho các thế hệ sau. Tôi nhờ học tập Thương Hàn Luận Bản Nghĩa mà có được nhận thức Đông Y vốn có Truyền thống Đạo học Khí Hoá kế thừa từ Kinh Dịch. Tôi ghi lại một vài kết quả học hỏi để các bạn sau tôi dùng làm tài liệu tham khảo. Nếu thấy có chỗ khác với Bản Nghĩa xin đừng vội cố chấp vì tôi chỉ có ý vâng lời dạy của Cụ, làm cho các di cảo này được thêm trong sáng mà thôi.

Sở dĩ các lời kể về học tập của tôi có chỗ khác với Bản Nghĩa vì tôi thật tình nói lên cách hiểu của mình với hy vọng giúp cho người còn kẹt trong tương đối như tôi có thể hiểu, còn chân lý chỉ là một không bao giờ thay đổi.


THIÊN 4:
DƯƠNG MINH
(10 CHƯƠNG, 81 TIẾT)


CHƯƠNG 22
DƯƠNG MINH THỂ LỆ
(9 Tiết, từ 181 đến 189)
Dương Minh là Kinh Dương Nhiệt, Bản Nghĩa nói là Nhị Dương Tịnh Minh có nghĩa 2 Dương cùng sáng. Kinh Dương Minh thuần Dương đối giao với Kinh Thái Âm thuần Âm; vì thuần Dương nên Kinh này không tự làm bệnh chỉ làm bệnh khi thọ Hàn Khí của Thái Dương hoặc thọ Nhiệt Khí của Thiếu Âm. Dương Nhiệt thọ Dương Hàn làm Ôn Bệnh, Dương Nhiệt thọ Âm Nhiệt làm bệnh Phong Ôn. Các đặc tính còn lại của Dương Minh sẽ được nêu rõ nơi Thể Lệ và các Chương kế tiếp.

Tiết 181: Dương Minh với Tam Dương, Tam Âm liên hệ.
- Thái Dương Dương Minh là Dương Minh chuyển hệ Thái Dương - Thái Âm làm chứng Tỳ Ước.
- Chính Dương Dương Minh là Dương Minh chuyển hệ Dương Minh - Thiếu Âm làm chứng Vị gia thực.
- Thiếu Dương Dương Minh là Dương Minh chuyển hệ Thiếu Dương - Khuyết Âm làm chứng Vị táo và đại tiện khó.

Tiết 182: Dương Minh thọ Thái Dương Thiếu Âm.
- Vị gia thực: là thọ Dương Hàn Âm Nhiệt.

Tiết 183: Dương Minh thọ Thái Dương Bản Hàn điều hoà Bản Kinh Táo Khí.
- Hỏi: Duyên cớ nào mắc Dương Minh Bệnh ?
- Đáp: Thái Dương Bệnh, nếu Phát Hãn, nếu Hạ, nếu Lợi tiểu tiện làm mất tân dịch thì trong Vị khô ráo, nhân đó chuyển thuộc Dương Minh, không đi ngoài, Nội thực, đại tiện khó, đấy là Dương Minh.

Tiết 184: Dương Minh thọ Thiếu Âm Bản Nhiệt làm Bản Kinh Táo Khí.
- Dương Minh Dương Nhiệt là Ngoại chứng của Thiếu Âm, Âm Nhiệt.

Tiết 185: Dương Minh liên hệ Tam Âm.
- Không phát sốt mà sợ lạnh: Hệ Âm Hàn Kinh.
- Chứng sợ lạnh sẽ tự hết, rồi tự đổ mồ hôi mà sợ nóng: Hệ Âm Nhiệt Kinh.

Tiết 186: Dương Minh liên hệ Tam Dương.
- Ban đầu tuy sợ lạnh: Thọ Thái Dương.
- 2 ngày tự hết: Không truyền Tam Âm.

Tiết 187: Dương Minh thọ Thái Dương truyền Thiếu Dương.
- Mồ hôi ra không triệt để: Do Thái Dương chuyển thuộc Dương Minh.
- Nôn, không ăn được mà mồ hôi ra dâm dấp: do Dương Minh chuyển thuộc Thiếu Dương.

Tiết 188: Dương Minh tự bệnh.
- 3 ngày: Ngài Tam Dương hành Kinh.
- Chỉ tự bệnh cho nên mạch Đại: Dương Minh là Kinh đa Khí, đa Huyết vậy.
Tiết 189: Dương Minh thọ Bản Hàn truyền Kinh tất thọ Bản Nhiệt chuyển Hệ.
- Mạch Phù: Mạch Dương Minh thọ Thái Dương.
- Mà Hoãn: Dương Minh thọ Bản Hàn truyền.
- Tay chân tự ấm: Dương Minh thọ Bản Nhiệt.
- Hệ tại Thái Âm: Dương Minh thọ Tiêu Âm.
- Thái Âm nên phát mình vàng: Tại Tấu Thái Âm chuyển hệ Dương Minh, tức tại Tấu Thiếu Âm chuyển hệ Dương Minh.
- Tiểu tiện tự lợi thì không phát vàng: Tại Lý Dương Minh thọ Bản Hàn truyền Kinh.
- Đến 7 - 8 ngày đại tiện rắn: Tại Lý Dương Minh thọ Bản Nhiệt chuyển hệ,
- Thương Hàn ‘chuyển hệ’ Dương Minh: Tại Biểu Dương Minh thọ Bản Hàn truyền Kinh.
- Dâm dấp hơi ra mồ hôi: Tại Biểu Dương Minh thọ Bản Nhiệt chuyển hệ.


CHƯƠNG 23
DƯƠNG MINH THỌ PHONG HÀN TẠI TẤU BÁN BIỂU
(18 Tiết, từ 190 đến 207)
Dương Minh là Kinh Dương Nhiệt, Thái Dương là Kinh Dương Hàn. Dương Minh thọ Phong Hàn của Thái Dương chủ Biểu nên là bệnh Dương phần Hàn Nhiệt tại Biểu.

Tiết 190: Dương Minh thọ Thiếu Âm Trúng Phong.
- Miệng đắng yết khô: thọ Trúng Phong tại Tấu đến Cách.
- Bụng đầy mà Suyễn: thọ Trúng Phong tại Tấu đến Đái.
- Phát sốt sợ lạnh, mạch Phù mà Khẩn: thọ Trúng Phong tại Tấu ra Biểu.
- Nếu cho Hạ thì bụng đầy, tiểu tiện khó: thọ Trúng Phong tại Tấu vào Lý.
Tiết 191: Dương Minh thọ Thái Dương Trúng Hàn.
- Phong với Hàn chẳng phải 1, chẳng phải 2, mà là ‘Thái DươngTiêu Bản’ truyền Dương Minh vậy.
- Thọ Thái Dương Tiêu Dương ăn được gọi Trúng Phong.
- Thọ Thái Dương Bản Hàn không ăn được gọi Trúng Hàn.
- Nếu chia ra mà nói thì Trúng Phong thuộc Thiếu Âm, Trúng Hàn thuộc Thái Dương.
- Từ Bì Nhục đến Phủ Tạng, Phong Hàn mỗi mỗi cùng nêu lên. Đấy là yếu điểm học giả tất phải biện xét.

Tiết 192: Dương Minh Trúng Hàn truyền các Dương Kinh.
- Không ăn được: Trúng Hàn.
- Tiểu tiện không lợi, chân tay dâm dấp ra mồ hôi: truyền các Dương Nhiệt Kinh.
- Muốn làm bệnh ‘cố hà’ tất đại tiện lúc đầu rắn sau nhão nát: truyền các Dương Hàn Kinh.
- Sở dĩ như vậy, vì Dương Minh thọ Bản Hàn truyền Kinh, trong Vị hư lạnh, cơm nước không phân biệt, cho nên vậy.

Tiết 193: Dương Minh Trúng Phong truyền các Dương Kinh.
- Muốn ăn, tiểu tiện trái lại không lợi: thọ Thiếu Âm tại Tấu.
- Đại tiện tự điều: tại Tấu thọ Thiếu Âm tất có Thái Dương.
- Xương khớp nhức, như trạng có Nhiệt: thọ Thiếu Âm tại Biểu mà bệnh.
- Bỗng nhiên phát cuồng mồ hôi ra mà giải: thọ Thái Dương tại Biểu rồi giải.
- Đấy là Thủy không thắng cốc Khí cùng với Hãn cộng lại: thọ Thiếu Âm tại Lý mà bệnh.
- Mạch Khẩn thì khỏi: thọ Thái Dương tại Lý mà khỏi.
(Thái Dương Bản Hàn, Thiếu Âm Bản Nhiệt không lúc nào lìa nhau, nghịch nhau thì bệnh, hoà nhau thì giải).
Tiết 194: Dương Minh hành Kinh, giờ Vượng tại Thân Dậu.
- Dương Minh Bệnh, lúc muốn giải, từ giờ Thân đến giờ Tuất: Giữa Thân - Tuất là Dậu.

Tiết 195: Dương Minh Trúng Hàn truyền các Âm Kinh.
- Không ăn được: thọ Bản Hàn.
- Dùng phép công Nhiệt tất ọe: Bản Nhiệt tương ứng vậy.
- Trong Vị hư lạnh: Dương Minh thọ Bản Hàn truyền Kinh.
- Người bệnh vốn hư cho nên công Nhiệt tất ọe: Bản Nhiệt (chủ Vị Khí) hư cho nên truyền các Âm Kinh mà ọe.

Tiết 196: Dương Minh Trúng Phong truyền các Âm Kinh.
- Mạch Trì: thọ Bản Hàn truyền Kinh.
- Khó ăn được no: cớ bởi Hàn truyền.
- No thì hơi phiền, đầu váng, tiểu tiện tất khó: thọ Thái Dương Trúng Hàn cũng thọ Thiếu Âm Trúng Phong.
- Đấy là muốn làm bệnh Cốc đản: Phong Hàn súc tích tại Vị.
- Tuy cho Hạ, bụng vẫn đầy như cũ: Âm Nhiệt có thể Hạ, Dương Hàn không thể Hạ.

Tiết 197: Dương Minh thọ Phong Hàn truyền Túc Thái Dương Kinh.
- Dương Minh Kinh nhiều Khí Huyết, phép nó nhiều mồ hôi.
- Trái lại không mồ hôi: là không có Bản Nhiệt.
- Thân mình như trạng trùng bò trong da: không Bản Nhiệt thì Bản Hàn khí hoá Thủy như trùng bò trong da.
- Đấy là vì hư lâu ngày: không Bản Nhiệt đã lâu vậy.

Tiết 198: Dương Minh thọ Phong Hàn truyền Túc Dương Minh Kinh.
- Trái lại không mồ hôi: thọ Thiếu Âm Phong.
- Tiểu tiện lợi: thọ Thái Dương Hàn.
- 2- 3 ngày nôn mà ho chân tay quyết lãnh: cùng thọ Phong Hàn.
- Tất khổ vì đau đầu: tất truyền đến Túc Kinh.
- Nếu như không nôn không ho, tay chân không quyết lãnh: Dương Minh không thọ Phong Hàn.
- Đầu cũng không đau: cũng không truyền đến Túc Kinh.

Tiết 199: Dương Minh thọ Phong Hàn truyền Túc Thiếu Dương Kinh.
- Đầu váng, không sợ lạnh: Dương Minh thọ Phong Hàn.
- Phong truyền ở Dương Minh nên ăn được, Hàn truyền ở Dương Minh nên ho.
- Người bệnh tất yết đau: truyền Dương Minh tất truyền Thiếu Dương (Dương Nhiệt).
- Nếu Dương Minh không thọ Hàn mà không ho, thì không truyền Thiếu Dương nên yết cũng không đau.
- Đấy bởi vì Dương Minh Thiếu Dương đồng là Dương Nhiệt Kinh.

Tiết 200: Dương Minh Phong Hàn truyền Thủ Thái Âm Kinh.
- Không mồ hôi, tiểu tiện không lợi: Phong Hàn ứ tại Dương Minh Kinh.
- Trong Tâm áo nùng mình tất phát hoàng: truyền đến Thủ Thái Âm Kinh.

Tiết 201: Dương Minh thọ Phong Hàn truyền Thủ Thiếu Âm Kinh.
- ‘Bị Hoả’: nói Thủ Thiếu Âm Tâm hoả ‘bị’ Dương Minh Phong Hàn truyền.
- Trên trán hơi đổ mồ hôi: Hàn.
- Tiểu tiện không lợi: Phong.
- Tất phát hoàng: truyền đến Thủ Thiếu Âm Kinh.

Tiết 202: Dương Minh thọ Phong Hàn truyền Thủ Thiếu Dương Kinh.
- Mạch Phù: thọ Thiếu Âm Phong, mà Khẩn: thọ Thái Dương Hàn.
- Tất triều Nhiệt phát tác có lúc: Thủ Thiếu Dương Kinh thọ truyền.
- Chỉ thọ Thiếu Âm Phong mạch Phù, tất ‘trộm’ mồ hôi của Thái Dương để xuất ra.

Tiết 203: Dương Minh thọ Phong Hàn truyền Thủ Thái Dương Kinh.
- Miệng ráo: thọ Phong.
- Muốn súc miệng không muốn nuốt nước: thọ Hàn.
- Tất chảy máu mũi: Thủ Thái Dương Kinh thọ truyền.

Tiết 204: Dương Minh thọ Phong Hàn truyền Thủ Dương Minh Kinh.
- Vốn tự đổ mồ hôi: Dương Minh ‘pháp’ nhiều mồ hôi.
- Thầy thuốc phát Hãn, bệnh đã bớt: Dương MInh Trúng Hàn đã bớt.
- Vẫn còn hơi phiền, không tỉnh táo: Dương Minh Trúng Phong chưa bớt.
- Đại tiện tất rắn, vì mất tân dịch trong Vị ráo: Thủ Dương Minh thọ Trúng Phong.
- Tiểu tiện ngày đi 3 - 4 lần: Hàn vậy.
- Nay ngày đi 2 lần, cho nên biết không lâu sẽ đại tiện được, vì tân dịch phải nhập lại trong Vị, được Hàn truyền Kinh mà Phong (bệnh) tự dứt vậy.

Tiết 205: Dương Minh thọ Phong Hàn truyền Túc Khuyết Âm Kinh.
- Khuyết Âm Bản (vốn, gốc) là Phong Hàn Kinh, tuy thọ truyền bởi Dương Minh, không thể Công vậy.

Tiết 206: Dương Minh thọ Phong Hàn truyền Túc Thái Âm Kinh.
- Dưới Tâm cứng đầy: Túc Thái Âm thọ Kết bởi Phong Hàn.
- Công rồi lợi không dứt là chết: Dương Minh hư Thái Âm cũng hư.
- Lợi dứt thì khỏi: Thái Âm thực, Dương Minh cũng thực.

Tiết 207: Dương Minh thọ Phong Hàn truyền Túc Thiếu Âm Kinh.
- Mặt hiệp sắc đỏ, không thể công: Dương Minh thọ Phong Hàn truyền Túc Thiếu Âm Kinh.
- Nếu cho công tất phát sốt sắc vàng: thọ Trúng Hàn truyền.
- Tiểu tiện không lợi: thọ Trúng Phong truyền.


CHƯƠNG 24
DƯƠNG MINH THỌ PHONG HÀN TẠI TẤU BÁN LÝ
(6 Tiết, từ 208 đến 213)
Tấu Bán Lý là phần Tấu trải suốt Lý; là Bộ Vị do Thiếu Âm Nhiệt Khí làm chủ. Dương Nhiệt thọ Phong Hàn tại Tấu Bán Lý tức là Dương Nhiệt vừa thọ Thái Dương truyền, lại vừa thọ Thiếu Âm chuyển. Bản Nghĩa gọi Thương Hàn là Truyền Kinh Bệnh là một tâm đắc hợp lý vì Kinh Thái Dương chủ Vệ Khí trải suốt Biểu Lý và truyền làm bệnh khắp châu thân nhưng người học không nên quên tính đối lập của Âm Dương, có Thái Dương Hàn Khí từ Biểu vào Lý thì song hành cũng có Thiếu Âm Nhiệt Khí từ Lý ra Biểu. Bệnh nào cũng có 2 mặt hoặc do Bản Hàn, hoặc do Bản Nhiệt làm nên hoặc cùng làm nên. Bệnh của Thái Dương chủ tại Biểu do Bản Khí (Hàn) làm Thương Hàn, do Tiêu Dương (Nhiệt) làm bệnh Trúng Phong. Nhưng khi Hàn truyền làm bệnh tại Dương Nhiệt là Ôn Bệnh - Phong Ôn (Nhiệt Loại), và tại Âm Hàn là Hàn Thấp – Phong Thấp (Hàn Loại) thì đều gọi chung là Thương Hàn Loại theo lý nhất quán; Thiển nghĩ điều này không sai nhưng làm cho người học dễ hiểu lầm và cố chấp. Cần phân hiểu thêm như vầy:
. Thái Dương (Dương Hàn) truyền làm bệnh tại Dương Nhiệt là Ôn Bệnh (chữ Bệnh có nghĩa tương đương chữ Hàn), tại Âm Hàn là Hàn Thấp; Thiếu Âm (Âm Nhiệt) chuyển làm bệnh tại Dương Nhiệt là Phong Ôn, tại Âm Hàn là Phong Thấp. Nghĩa này rất phù hợp với tên của 4 bệnh vừa kể.
. Trúng Phong Loại (Nhiệt Loại) có 2 bệnh: Ôn Bệnh – Phong Ôn; Thương Hàn Loại (Hàn Loại) cũng có 2 bệnh: Hàn Thấp – Phong Thấp. Nghĩa này phân hiểu rõ ràng 2 loại bệnh hoặc Hàn hoặc Nhiệt.
Bản Nghĩa cũng do tâm đắc về Truyền Kinh nên thường dùng chữ Truyền trong nhiều trường hợp làm bệnh, thọ bệnh, làm cho dễ có cố chấp mọi bệnh đều do Hàn làm. Sự thật Hàn Nhiệt trong Sinh Lý cũng như trong Bệnh Lý đều thể hiện 2 mặt Âm Dương tương đối. Xin phép được dùng như vầy:
Hàn (từ Biểu vào Lý) làm bệnh dùng chữ Truyền.
Nhiệt (từ Lý ra Biểu) làm bệnh dùng chữ Chuyển.
Chính Khí lưu hành có trật tự làm cho khỏi bệnh dùng chữ Hành.

Tiết 208: Dương Minh thọ Thái Dương Thiếu Âm tại Tấu Bán Lý.
- Không Thổ, không Hạ: nói Thái Dương do Ngoại nhập Tấu Bán Lý (khác với tại Nội rồi đến Bán Lý).
- Tâm phiền: cùng với Bán Lý Thiếu Âm làm bệnh.
- Có thể dùng Điều Vị Thừa Khí thang: Bản phương chủ trị Thiếu Âm Nhiệt Khí tại Tấu Bán Lý; mà Dương Minh ‘thừa’ Thái Dương Hàn Khí tại đó cũng có thể dùng. Cho thấy Dương Minh ‘thừa’ Thái Dương, tức ‘thừa’ Thiếu Âm vậy.

Tiết 209: Dương Minh thọ Thái Dương Thiếu Âm
truyền các Dương Kinh tại Tấu Bán Lý.
- Mạch Trì: Mạch của Bản Hàn truyền Kinh.
- Tuy ra mồ hôi, không sợ lạnh mình tất nặng: tuy có Dương Minh Nhiệt chứng, nhưng có Thái Dương Hàn chứng.
- Thở ngắn, bụng đầy mà Suyễn: thọ Thái Dương Thiếu Âm tại Bán Lý.
- Có sốt cơn: quyết chắc tại Bán Lý vậy, đấy là bệnh tại Bán Biểu đã giải, toàn nhập vào Bán Lý, có thể công.
- Tay chân dâm dấp ra mồ hôi, đấy là đại tiện đã rắn: Thái Dương Bản Hàn ’tinh’ (dồn) vào Thiếu Âm Bản Nhiệt, Đại Thừa Khí thang làm chủ.
- Nếu mồ hôi nhiều, phát sốt nhẹ, sợ lạnh: tại Bán Biểu Dương Hàn chưa giải.
- Sốt không có cơn: tại Bán Lý Âm Nhiệt chưa bệnh, Đại Tiểu Thừa Khí thang chưa thể dùng.
- Nếu các Dương Kinh thọ Dương Hàn nhập Lý bụng đầy lắm không thông, có thể dùng Tiểu Thừa Khí thang: chỉ Dương Hàn bệnh vậy.
- Hơi hoà Vị Khí: làm cho Âm Nhiệt hoà.
- Đừng cho xổ mạnh: mà thương Vị Khí.

Tiết 210: Dương Minh thọ Thái Dương Thiếu Âm
truyền các Âm Kinh tại Tấu Bán Lý.
- Sốt cơn, đại tiện rắn, có thể dùng Đại Thừa Khí thang: Dương Minh thọ Bản Hàn Bản Nhiệt truyền các Âm Kinh.
- Nếu phân không rắn không thể cho dùng: còn chưa truyền các Âm Kinh.
- Nếu không đại tiện, muốn biết có phân táo hay không, để thăm dò trong Vị hư thực, cho uống (1 ít) Tiểu Thừa Khí thang, thuốc vào trong bụng chuyển Thất Khí (trung tiện): do Dương Kinh chuyển nhập Âm Kinh.
- Đấy là có phân táo, có thể cho công: tại Vị có Bản Nhiệt.
- Không chuyển Thất Khí: tại Vị không Bản Nhiệt.
- Cho công thì phân lúc đầu rắn sau nhão nát, trướng đầy, không ăn được: Thái Âm.
- Uống nước vào ọe: Khuyết Âm.
- Sau đó phát sốt, tất đại tiện rắn mà lại ít: Thiếu Âm vậy ! dùng Tiểu Thừa Khí thang để hoà.
- Không chuyển Thất Khí, cẩn thận không thể công: Vị Khí với Thận Khí không tiếp nối nhau.


Tiết 211: Dương Minh thọ Thái Dương Thiếu Âm truyền Xung Kinh.
- Thực thì nói xàm: Dương Minh thọ Bản Hàn Bản Nhiệt thực.
- Hư thì nói lắp: Dương Minh Chính Khí hư.
- Trực thị nói xàm: Vị thượng quản với Xung Kinh.
- Suyễn đầy thì chết: Vị trung quản với Xung Kinh.
- Hạ lợi cũng chết: Vị hạ quản với Xung Kinh.

Tiết 212: Dương Minh thọ Thái Dương Thiếu Âm truyền Đốc Kinh.
- Phát Hãn nhiều: mất Thái Dương tân dịch.
- Nếu lại Phát Hãn lần nữa: mất Thiếu Âm tân dịch.
- Vong Dương nói xàm: Vong Thái Dương tức vong Thiếu Âm.
- Mạch Đoản thì chết: Dương Minh tân dịch kiệt tức Đốc Kinh kiệt.
- Mạch tự hoà thì không chết: Dương Minh tân dịch còn thì Đốc Kinh còn.

Tiết 213: Dương Minh thọ Thái Dương Thiếu Âm truyền Nhâm Kinh.
- Sau Thổ Hạ bệnh vẫn không giải: Dương Hàn Âm Nhiệt vẫn còn tại Tấu Bán Lý.
- Không đại tiện 5 - 6 ngày lên đến hơn 10 ngày: Dương Minh thọ Dương Nhiệt.
- Xế chiều phát sốt cơn, không sợ lạnh: cùng thọ Dương Hàn.
- Nói một mình như trạng thấy quỷ: truyền Nhâm Kinh.
- Nếu nặng: Bệnh do Tấu nhập Cách.
- Không biết người: Tà nhập Túc Dương Minh.
- Măn áo sờ giường: Tà nhập Thủ Dương Minh.
- Sợ sệt không yên: Tà nhập Đốc Kinh.
- Hơi Suyễn, mắt trực thị: Tà nhập Xung Kinh.
- Mạch Huyền thì sống: tại Cách tân dịch còn.
- Mạch Sáp thì chết: tại Cách tân dịch mất.
- Nếu nhẹ: Tà do Cách ra Tấu.
- Phát sốt nói xàm: chứng tại Tấu.
- Đại Thừa Khí thang làm chủ, nếu uống 1 lần đi ngoài được, thôi không uống lần sau: Tà được tiết ra ngoài vậy.


CHƯƠNG 25
TÚC DƯƠNG MINH TẠI TẤU, ĐẾN LÝ
(8 Tiết, từ 214 đến 221)
Túc Dương Minh Vỵ là Kinh Dương Nhiệt - Khí Âm Nhiệt, là Kinh Khí đảo ngược của Thủ Thiếu Âm Tâm. Túc Dương Minh với Thủ Thiếu Âm đồng là Bản Nhiệt đối giao với Thủ Thái Âm và Túc Thái Dương đồng là Bản Hàn. Do đồng là Bản Nhiệt làm chủ tại Lý nên Túc Dương Minh tại Tấu cũng là chủ tại Tấu Bán Lý.

Tiết 214: Túc Dương Minh thọ Thái Dương Thiếu Âm
truyền Thủ Dương Kinh.
- Nhiều mồ hôi, tân dịch ra ngoài: Dương Hàn ở ngoài Vị.
- Trong Vị ráo: Âm Nhiệt vào trong Vị.
- Đại tiện tất rắn, rắn thì nói xàm: truyền Thủ Dương Kinh, Tiểu Thừa Khí thang làm chủ.
- Nếu uống một lần hết nói xàm: phân táo đã hạ, thì thôi chớ uống nữa.

Tiết 215: Túc Dương Minh thọ Thái Dương Thiếu Âm
truyền Thủ Âm Kinh.
- Nói xàm, phát sốt cơn: Vị thọ Dương Hàn Âm Nhiệt tại Tấu Bán Lý.
- Mạch Hoạt mà tật: truyền Thủ Âm Kinh; Tiểu Thừa Khí thang làm chủ.
- Uống thang vào chuyển thất Khí: Vị có Âm Nhiệt, lại uống 1 thăng nữa.
- Nếu không chuyển thất Khí: Vị không có Âm Nhiệt, không thể cho uống.
- Hôm sau không đi ngoài, mạch trái lại Vi Sáp: Thủ Âm hư vậy, không thể lại cho dùng Thừa Khí thang.

Tiết 216: Túc Dương Minh thọ Thái Dương Thiếu Âm
truyền Túc Dương Kinh.
- Nói xàm, có sốt cơn: Vị thọ Dương Hàn Âm Nhiệt tại Bán Lý.
- Trái lại không ăn được, trong Hệ Dương Minh Vỵ - Đại Trường có phân táo 5 – 6 cục: thọ Dương Hàn.
- Nếu ăn được, chỉ phân rắn: thọ Âm Nhiệt.
- Đại Thừa Khí thang làm chủ.

Tiết 217: Túc Dương Minh thọ Thái Dương Thiếu Âm
truyền Túc Âm Kinh.
- Hạ Huyết nói sảng: Túc Âm Kinh thọ truyền bởi Dương Minh Phong Hàn.
- Đấy là Nhiệt nhập Huyết thất: Dương Kinh hiệp Âm Kinh đi xuống.
- Chỉ đầu đổ mồ hôi: Âm Kinh hiệp Dương Kinh đi lên.
- Châm Huyệt Kỳ Môn: Âm Dương hội huyệt.
- Tùy thực chứng tại Dương Kinh Âm Kinh mà tả, khiến cho theo Dương Minh ra mồ hôi thì khỏi.

Tiết 218: Túc Dương Minh thọ Thái Dương Thiếu Âm làm Phong Thấp.
- Ra mồ hôi, nói xàm: Dương Hàn tại Vị.
- Là bởi trong Vị có phân táo: Âm Nhiệt tại Vị.
- Đấy là chứng Dương Minh Phong Thấp.
- Âm Nhiệt tại Lý cần cho Hạ.
- Dương Hàn chưa nhập Lý, quá Kinh mới có thể Hạ: cần phải xét Dương Hàn đã nhập vào trong Vị chưa?
- Nếu Hạ sớm, nói năng tất loạn: bởi cớ chỉ Hạ được Âm Nhiệt, mà không Hạ được Dương Hàn.
- Dương Hàn nhập Lý nên Biểu hư, nhập Lý hiệp với Âm Nhiệt nên Lý thực.
- Thực tại Vị cho Hạ thì khỏi, nên dùng Đại Thừa Khí thang, đấy là phép trị Dương Minh Phong Thấp.

Tiết 219: Túc Dương Minh thọ Thái Dương chuyển Âm Hàn làm Hàn Thấp.
- Thương Hàn: Thái Dương.
- 4- 5 ngày: chuyển Thiếu Âm Tiêu Âm.
- Thái Dương nhập Lý thì mạch Trầm, hiệp Tiêu Âm thì Suyễn đầy.
- Trầm là tại Lý: Hàn Thấp.
- Trái lại cho phát Hãn, tân dịch vượt ra: tại Biểu Thái Dương hư.
- Đại tiện trở nên khó: tại Lý Thiếu Âm thực.
- Lâu ngày thì nói xàm: bởi Thiếu Âm tại Lý thực. Đấy là Dương Minh Hàn Thấp.

Tiết 220: Túc Dương Minh thọ Thái Dương
chuyển Dương Nhiệt làm Ôn Bệnh.
- Hiệp: là Dương Hàn Dương Nhiệt hiệp lại.
- Bụng đầy, mình nặng khó xoay trở: Tam Dương hiệp bệnh tất có tam Âm tại Nội.
- Miệng mất cảm giác, sắc mặt bẩn: tại Cách.
- Nói xàm: thọ Bản Nhiệt.
- Đái són: thọ Bản Hàn.
- Phát Hãn thì nói xàm: cớ bởi Bản Nhiệt chuyển hệ.
- Cho Hạ thì trên trán đổ mồ hôi, tay chân nghịch lãnh: cớ bởi Bản Hàn truyền Kinh.
- Nếu tự đổ mồ hôi: ly khai Bản Hàn Bản Nhiệt làm Ôn Bệnh.
- Bạch Hổ thang làm chủ.
(. Thiếu Âm (bệnh) tự đổ mồ hôi là Âm Nhiệt vong (mất).
. Dương Minh (bệnh) tự đổ mồ hôi là Dương Nhiệt thậm (quá nhiều).
. Dùng Tứ Nghịch thang, Bạch Hổ thang nên biện rõ).

Tiết 221: Túc Dương Minh thọ Thái Dương
chuyển Thiếu Âm làm Phong Ôn.
- Nhị Dương tinh bệnh: Dương Hàn Dương Nhiệt dồn vào Thiếu Âm.
- Chứng Thái Dương đã dứt: Thái Dương chuyển qua Thiếu Âm.
- Chỉ phát sốt cơn: Bản Hàn dồn vào Bản Nhiệt.
- Chân tay dâm dấp ra mồ hôi: Bản Hàn dồn vào Tiêu Âm.
- Đại tiện khó mà nói xàm: Tiêu Dương dồn vào Bản Nhiệt, cho Hạ nên dùng Đại Thừa Khí thang; đấy là Dương Minh Phong Ôn.


CHƯƠNG 26
THỦ DƯƠNG MINH TẠI TẤU, ĐẾN LÝ
(10 Tiết, từ 222 đến 231)
Dương Minh là Kinh Dương Nhiệt, Thủ Dương Minh Đại Trường là Kinh Dương Nhiệt - Khí Dương Hàn, Túc Dương Minh Vỵ là Kinh Dương Nhiệt - Khí Âm Nhiệt. Cùng một Kinh Dương Nhiệt mà có Khí khác nhau, Dương Hàn chủ Biểu, Âm Nhiệt chủ Lý; Hiểu được Hàn vào, Nhiệt ra thì Bệnh Lý của Kinh này sẽ dễ dàng nhận thấy được.

Tiết 222: Thủ Dương Minh thọ Thái Dương Thiếu Âm tại Cách tại Tấu.
- Mạch Phù: thọ Âm Nhiệt tại Cách, mà Khẩn: thọ Dương Hàn tại Tấu.
- Yết ráo: thọ Âm Nhiệt; miệng đắng: thọ Dương Hàn.
- Bụng đầy mà Suyễn: cùng thọ tại Cách.
- Phát sốt đổ mồ hôi, không sợ lạnh trái lại sợ nóng, mình nặng: cùng thọ tại Tấu.
- Phát Hãn tất vật vã, Tâm bồi hồi, nói xàm: tại Cách thọ Nhiệt hoá.
- Thêm Thiêu Châm thì Kinh sợ, phiền táo không ngủ được: tại Tấu thọ Hàn hoá.
- Cho Hạ, trong Vị hư rỗng, khách Khí động Cách, trên lưỡi đóng rêu: cùng thọ Hàn Nhiệt tại Cách tại Tấu.
- Chi Tử Xị thang làm chủ.

Tiết 223: Thủ Dương Minh thọ Dương Nhiệt làm Ôn Bệnh.
- Khát, miệng khô lưỡi ráo muốn uống nước: Ôn Bệnh.
- Bạch Hổ gia Nhân Sâm thang làm chủ.

Tiết 224: Thủ Dương Minh thọ Âm Nhiệt làm Phong Ôn.
- Mạch Phù phát sốt: Ôn Bệnh.
- Khát muốn uống nước, tiểu tiện không lợi: chuyển làm Phong Ôn.
- Trư Linh thang làm chủ.

Tiết 225: Thủ Dương Minh thọ Dương Nhiệt làm Ôn Bệnh,
thọ Âm Nhiệt làm Phong Ôn.
- Đổ nhiều mồ hôi mà khát: là Ôn Bệnh.
- Mồ hôi ra nhiều, trong Vị ráo: chuyển làm Phong Ôn.
- Trư Linh thang lợi tiểu tiện không thích nghi với Dương Minh Phong Ôn trong trường hợp mất nhiều tân dịch làm táo thái quá.

Tiết 226: Thủ Dương Minh thọ Âm Hàn làm Hàn Thấp.
- Mạch Phù: Thái Dương; mà Trì: Hàn Khí.
- Biểu Nhiệt: Thái Dương; Lý Hàn: Hàn Khí.
- Hạ lợi thanh cốc: Dương Hàn nhập Lý chuyển Âm Hàn làm Hàn Thấp.
- Tứ Nghịch thang làm chủ.

Tiết 227: Thủ Dương Minh thọ Hàn Thấp
chuyển làm Thái Dương Phong Thấp.
- Trong Vị hư lạnh không ăn được: Hàn Thấp.
- Uống nước thì ọe: chuyển làm Thái Dương Phong Thấp.

Tiết 228: Thủ Dương Minh thọ Hàn Thấp
chuyển làm Thiếu Âm Phong Thấp.
- Mạch Phù phát sốt: Thủ Dương Minh Táo Khí.
- Miệng khô mũi ráo, ăn được thì chảy máu mũi: chuyển làm Thiếu Âm Phong Thấp.

Tiết 229: Thủ Dương Minh Khí thọ Thái Dương Thiếu Âm.
- Bên ngoài có sốt, chân tay ấm: thọ Thái Dương Thiếu Âm tại Biểu.
- Không Kết Hung: không thọ Thái Dương Thiếu Âm tại Tấu.
- Trong Tâm áo nùng, đói không ăn được: thọ Thái Dương Thiếu Âm tại Lý.
- Chỉ đổ mồ hôi đầu: thọ Thái Dương Thiếu Âm tại Cơ.
- Chi Tử Xị thang làm chủ.
Tiết 230: Thủ Dương Minh Lạc thọ Thái Dương Thiếu Âm.
- Phát sốt cơn: thọ Thái Dương Thiếu Âm tại Tấu Bán Lý.
- Đại tiện nhão, tiểu tiện bình thường: tại Tấu Thái Dương Bệnh, nhưng Thiếu Âm không bệnh.
- Ngực Hông đầy không khỏi: tại Tấu Lạc bệnh nhưng Kinh không bệnh.
- Tiểu Sài Hồ thang làm chủ.

Tiết 231: Thủ Dương Minh Kinh thọ Thái Dương Thiếu Âm.
- Dưới hông rắn đầy: thọ tại Trung tiêu.
- Không đi ngoài: thọ tại Hạ tiêu.
- Nôn, trên lưỡi rêu trắng: thọ tại Thượng tiêu.
- Thượng tiêu được thông: rêu trắng hết.
- Tân dịch được hạ: đại tiện thông.
- Vị Khí nhân đó điều hoà: ngực hông kết rắn khỏi.
- Mình dâm dấp ra mồ hôi mà giải: Thượng Hạ an, Nội Ngoại hoà vậy.
- Tiểu Sài Hồ thang kiêm trị.

CHƯƠNG 27
TÚC DƯƠNG MINH TẠI TẤU ĐẾN BIỂU
(6 Tiết, từ 232 đến 237)
Đức Trọng Cảnh dùng liên tiếp 4 Chương  25 – 26 – 27 - 28 luận Thủ Túc Dương Minh tại Tấu đến Lý và tại Tấu đến Biểu. Người học liên tưởng Bản Nhiệt đồng Khí Dương Nhiệt với Tiêu Dương, Bản Hàn đồng Khí Âm Hàn với Tiêu Âm. Kinh Dương Minh (Dương Nhiệt) đối giao Kinh Thái Âm (Âm Hàn); tất nhiên thấy được Dương Minh là Tấu Dương Nhiệt đối giao Thái Âm là Tấu Âm Hàn; 2 Kinh này thuần Âm thuần Dương là cặp Âm Dương Táo Thấp ngoài mối liên hệ đối giao Âm Dương nó còn thọ Biểu Dương Hàn và Lý Âm Nhiệt để điều hoà. 3 thang Thừa Khí tại Thương Hàn Luận (Tiểu Thừa Khí - Điều Vỵ Thừa Khí – Đại Thừa Khí) đủ chứng tỏ Dương Minh là Tấu Dương Nhiệt gắn liền với Dương Hàn chủ Biểu và Âm Nhiệt chủ Lý.

Tiết 232: Túc Dương Minh thọ Thiếu Âm truyền Xung Nhâm Kinh.
- Dương Minh Trúng Phong: Trúng Thiếu Âm Phong.
- Mạch Huyền Phù Đại:
. Huyền là Dương Nhiệt Kinh thọ Hàn truyền.
. Phù là tại Biểu.
. Đại là Dương Nhiệt hiệp Âm Nhiệt.
- Khí đoản, cả bụng đầy: Thiếu Âm đồng làm bệnh với Thái Dương tại Tấu.
- Dưới hông đau đến Tâm, án vào lâu thì Khí không thông, mũi khô, không ra được mồ hôi: thọ Bản Nhiệt rồi truyền Xung Nhâm Kinh.
- Ưa nằm, cả người và mặt mắt đều vàng: thọ Bản Hàn truyền Xung Nhâm Kinh.
- Tiểu tiện khó, có sốt cơn, thỉnh thoảng ọe! Cùng thọ Bản Hàn Bản Nhiệt truyền Xung Nhâm Kinh.
- Trước sau tai sưng, châm vào bớt một ít: thọ Phong Hàn truyền chư Dương Kinh tại Cơ.
- Ngoại chứng không giải, đến 10 ngày, mạch tiếp tục Phù có thể dùng Tiểu Sài Hồ thang: thọ Phong Hàn truyền chư Dương Kinh tại Tấu.
- Mạch chỉ Phù, không có chứng khác, dùng Ma Hoàng thang: thọ Phong Hàn truyền chư Dương Kinh tại Bì.
- Không đái được: Thận, bụng đầy: Tỳ, thêm ọe: Can.
- Không trị được: thọ Phong Hàn truyền chư Âm Kinh tại Lý.

Tiết 233: Túc Dương Minh thọ Thiếu Âm truyền Đốc Kinh.
- Tự đổ mồ hôi: mất tân dịch ở Tấu.
- Phát Hãn: mất tân dịch ở Biểu.
- Tiểu tiện tự lợi: mất tân dịch ở Lý.
- Đấy là Dương Minh tân dịch kiệt ở trong, tuy phân rắn không thể công: Dương Minh tân dịch kiệt tức Đốc Kinh tân dịch kiệt.
- Cần phải tự mót đi ngoài: Giúp Dương Minh tức giúp Đốc Kinh tân dịch.
- Thông khoan bằng Mật Thắng, Thổ Qua Căn, nước mật lợn: phép làm cho tự mót đi ngoài.

Tiết 234: Túc Dương Minh thọ Thái Dương truyền Xung Nhâm Kinh.
- Mạch Trì: thọ Hàn.
- Ra nhiều mồ hôi, hơi sợ lạnh: truyền Xung Nhâm Kinh.
- Nên dùng Quế Chi thang.

Tiết 235: Túc Dương Minh thọ Thái Dương truyền Đốc Kinh.
- Mạch Phù: tại Biểu.
- Không mồ hôi mà Suyễn: Bản Hàn truyền Đốc Kinh.
- Phát Hãn nên dùng Ma Hoàng thang.

Tiết 236: Túc Dương Minh tại Tấu chuyển Âm Hàn ra Ngoại,
Dương Nhiệt vào Nội.
- Phát sốt đổ mồ hôi: Túc Dương Minh bệnh tại Tấu.
- Nhiệt bốc ra không thể phát hoàng: chuyển Âm Hàn ra Ngoại.
- Chỉ đầu đổ mồ hôi đến cổ thì hết, mình không có mồ hôi: Âm Hàn ở Ngoại, Âm Nhiệt theo cùng ra Ngoại.
- Tiểu tiện không lợi: chứng Túc Dương Minh tại Tấu.
- Khát muốn uống nước: chuyển Dương Nhiệt vào Nội.
- Ứ Nhiệt tại Lý, mình tất phát hoàng: Dương Nhiệt ở Nội, Dương Hàn theo cùng vào Nội.
- Nhân Trần Cao thang làm chủ.

Tiết 237: Túc Dương Minh tại Cách chuyển Âm Nhiệt lên Thượng,
Dương Hàn xuống Hạ.
- Người bệnh hay quên tất có súc Huyết: Túc Dương Minh chuyển Âm Nhiệt lên Cách Thượng.
- Vốn có ứ Huyết lâu ngày khiến cho hay quên: chuyển Âm Nhiệt lên Thượng, Dương Hàn theo đó cùng lên.
- Phân tuy rắn: chuyển Âm Nhiệt xuống Hạ.
- Đại tiện trái lại dễ, sắc phân ắt đen: chuyển Âm Nhiệt xuống Hạ, Dương Hàn theo đó cùng xuống.
- Để Đáng thang làm chủ.

CHƯƠNG 28
THỦ DƯƠNG MINH TẠI TẤU ĐẾN BIỂU
(6 Tiết, từ 238 đến 243)
Gọi Dương Nhiệt Âm Hàn là Tấu vì chúng là đường liên kết Âm Dương Hàn Nhiệt giữa cặp Dương Hàn (chủ Biểu) và Âm Nhiệt (chủ Lý) thực tế Trung Đạo này khi thấy được thì ở khắp mọi nơi.

Tiết 238: Thủ Dương Minh tại Cách với Dương Nhiệt Âm Hàn.
- Cho Hạ trong Tâm bực bội mà phiền: Dương Nhiệt hiệp Âm Hàn đi lên, Âm đi theo Dương vậy.
- Trong hệ Vỵ Đại Trường có phân Táo: Âm Hàn ở trên Âm Nhiệt theo cùng lên trên, Âm đi theo Âm vậy.
- Trong bụng đầy, phân lúc đầu rắn sau nhão: Âm Hàn hiệp Dương Nhiệt đi xuống, Nhiệt đi theo Hàn không thể công vậy.
- Nếu như có phân táo: Dương Nhiệt ở dưới Âm Nhiệt theo cùng ở dưới, Nhiệt đi theo Nhiệt vậy, Đại Thừa Khí thang làm chủ.

Tiết 239: Thủ Dương Minh tại Tấu với Dương Hàn Âm Nhiệt.
- Không đi ngoài 5 - 6 ngày: Thủ Dương Minh Táo Khí tức Thiếu Âm Nhiệt Khí.
- Quanh rốn đau, phiền táo phát lên có lúc: Âm Nhiệt tại Ngoại tất tòng Dương Hàn.
- Đấy là có phân táo làm cho không đại tiện được: Dương Hàn tại Nội tất tòng Âm Nhiệt.
(Dương chủ Ngoại, Âm chủ Nội cho nên vậy. Hiệp với trên xem xét, Âm Dương theo nhau, Hàn Nhiệt đổi dời, tương ly tương hiệp, ‘huyền minh u vi’ (sâu xa kín nhiệm), chưa từng thấy ở sách khác, Trọng Sư quả là chân Thánh Y).

Tiết 240: Thủ Dương Minh tại Tấu với Thái Dương Thiếu Âm.
- Phiền Nhiệt: Thái Dương tại Nội (ở trong) tòng (theo) Thiếu Âm.
- Mồ hôi ra thì giải: Thiếu Âm tại Ngoại theo Thái Dương.
- Giống như sốt rét, xế chiều phát sốt cơn: Đấy là thuộc Thủ Dương Minh, có Bản Nhiệt tất có Bản Hàn.
- Mạch thực thì cho Hạ: trị tại Nội Thái Dương Thiếu Âm, nên dùng Đại Thừa Khí thang.
- Mạch Phù thì phát Hãn: trị tại Ngoại Thái Dương Thiếu Âm, nên dùng Quế Chi thang.

Tiết 241: Thủ Dương Minh thọ Thái Dương Thiếu Âm truyền Nhâm Kinh.
- 6- 7 ngày không đại tiện, phiền không giải được: thọ Bản Nhiệt, lại thọ Bản Hàn.
- Bụng đầy đau, đấy là có phân táo: truyền Nhâm Kinh.
- Vốn có túc thực: nói Bản Nhiệt bất ly (không lìa) Bản Hàn, nên dùng Đại Thừa Khí thang.

Tiết 242: Thủ Dương Minh thọ Thái Dương Thiếu Âm truyền Đốc Kinh.
- Tiểu tiện không lợi, đại tiện khi khó khi dễ: thọ Âm Nhiệt truyền Đốc Kinh.
- Suyễn choáng váng không nằm được: thọ Dương Hàn truyền Đốc Kinh.
- Đấy là có phân táo: nói nguyên do Đại Trường bệnh truyền đến Đốc Kinh, nên dùng Đại Thừa Khí thang.

Tiết 243: Thủ Dương Minh thọ Thái Dương Thiếu Âm truyền Xung Kinh.
- Ăn cơm muốn nôn: thọ Dương Hàn truyền Xung Kinh, Ngô Thù Du thang làm chủ.
- Uống thuốc vào lại nặng hơn: thọ Âm Nhiệt truyền Xung Kinh, không thể dùng.


CHƯƠNG 29
DƯƠNG MINH TẠI TẤU VỚI CÁC KINH
CHUYỂN THUỘC NHAU
(6 Tiết, từ 244 đến 249)
Nhau là nói tương quan 2 chiều, có qua có lại; Chuyển là nói Dương Minh Táo Nhiệt; Thuộc là nói hư thì Dương Minh thuộc các Kinh, thực thì các Kinh trái lại thuộc Dương Minh.

Tiết 244: Dương Minh tại Tấu với các Kinh chuyển thuộc.
- Thốn Hoãn: Dương Minh tại Biểu hư.
- Quan Phù: Dương Minh tại Tấu hư.
- Xích Nhược: Dương Minh tại Lý hư.
- Phát sốt đổ mồ hôi: tại Cơ hư.
- Lại sợ rét không nôn: tại Bì hư.
- Dưới Tâm đầy tức: tại Tấu hư.
- Đấy là mạch chứng Dương Minh hư chuyển thuộc các Kinh.
- Nếu như không hạ: là Dương Minh thực các Kinh trái lại chuyển thuộc nó.
- Không đi ngoài 10 ngày vẫn không thấy khó chịu: chuyển thuộc Âm Hàn Kinh.
- Không sợ lạnh mà khát: chuyển thuộc Dương Nhiệt Kinh.
- Khát muốn uống nước, dùng pháp cứu chữa: chuyển thuộc Âm Nhiệt Kinh.
- Khát thì nên dùng Ngũ Linh Tán: chuyển thuộc Dương Hàn Kinh.

Tiết 245: Dương Minh với Thái Dương chuyển thuộc.
- Mạch Dương Vi là chỉ Dương Hàn bệnh; chỉ Dương Hàn mồ hôi ra ít là hoà, mồ hôi ra nhiều là thái quá.
- Mạch Dương Thực: có Dương Nhiệt hiệp, mồ hôi ra nhiều thì Vị Thủy kiệt, cũng là thái quá.
- Thái quá thì Dương Hàn tuyệt ở Lý, vong tân dịch, đại tiện nhân đó rắn, đấy là Dương Minh với Thái Dương chuyển thuộc nhau và không chuyển thuộc vậy.

Tiết 246: Dương Minh với Thiếu Âm chuyển thuộc.
- Phù là Dương Minh, Khâu là Thiếu Âm.
- Dương Minh Thiếu Âm tương bác, Vị Khí sinh Nhiệt: thọ Thiếu Âm Nhiệt.
- Phần Dương sẽ tuyệt: Dương Hàn tuyệt ở Lý.

Tiết 247: Dương Minh với Thái Âm chuyển thuộc.
- Mạch Phù là Dương Minh, Sáp là Thái Âm.
- Dương Minh Phù thì Vị Khí cường (khỏe) .
- Thái Âm Sáp thì tiểu tiện đi luôn.
- Thái Âm bị Dương Minh ‘bác’ (lấn áp) thì đại tiện khó, Tỳ bị Vỵ Ước (bó buộc), Ma Tử Nhân Hoàn làm chủ.

Tiết 248: Dương Minh với Thiếu Dương chuyển thuộc.
- 3 ngày: Thiếu Dương.
- Phát hãn không giải, hầm hầm phát sốt: Thiếu Dương chuyển thuộc Dương Minh.
- Điều Vỵ Thừa Khí thang làm chủ.

Tiết 249: Dương Minh với Khuyết Âm chuyển thuộc.
- Sau khi cho Thổ bụng trướng đầy: Khuyết Âm chuyển thuộc Dương Minh, dùng Điều Vỵ Thừa Khí thang.


CHƯƠNG 30
DƯƠNG MINH HOÁ TÁO CHƯ KINH
(6 Tiết, từ 250 đến 255)
Dương Minh là Kinh Dương Nhiệt chủ Táo Khí, thọ Âm Nhiệt để củng cố, đồng thọ Dương Hàn để điều hoà Táo Khí. Dương Minh Táo Khí lại đối giao với Thái Âm Thấp Khí trong hệ điều hoà Âm Dương Táo Thấp. Khi Âm Dương Hàn bất cập thì Âm Dương Nhiệt thái quá làm bệnh Táo thực; càng thực thái quá hoặc lâu ngày thì lây lan đến các Kinh khác.

Tiết 250: Dương Minh Táo hoá Thái Dương.
- Thổ, Hạ, Phát Hãn: thì Thái Dương thủy kiệt mà táo (ráo).
- Tiểu tiện luôn, đại tiện nhân đó rắn: thọ Dương Minh táo hoá.
- Dùng Tiểu Thừa Khí thang để hoà đi.
Tiết 251: Dương Minh táo hoá Khuyết Âm
- Dương Hàn Dương Nhiệt hiệp bệnh là chứng Tiểu Sài Hồ.
- Dương Hàn Âm Nhiệt hiệp bệnh là chứng Đại Sài Hồ.
- Mắc bệnh 2- 3 ngày: là Dương Nhiệt.
- Mạch Nhược: là Âm Hàn, gọi là không có chứng Thái Dương Sài Hồ.
- Phiền táo: Dương Nhiệt táo hoá Âm Hàn.
- Dưới Tâm rắn: Dương Nhiệt Âm Hàn kết.
- Đến 4 - 5 ngày: là ngày Âm Nhiệt hành Kinh, tức là ngày Dương Nhiệt được trợ, tuy ăn được, dùng Tiểu Thừa Khí thang để hoà, cho đỡ chút ít.
- Đến 6 ngày: là ngày Âm Hàn hành Kinh, thọ táo hoá bởi Dương Nhiệt. Dùng Tiểu Thừa Khí để công.
- Nếu không đại tiện 6 - 7 ngày, tiểu tiện ít: 6 ngày là Âm Hàn, 7 ngày là Dương Hàn, đấy là Âm Hàn được Dương Hàn trợ (giúp).
- Tuy không ăn được, phân lúc đầu rắn, sau tất nát, cho công thì phân nát: có Dương Hàn trợ thì không thể táo hoá.
- Nếu tiểu tiện lợi, phân định (chắc hẳn) rắn: có Âm Nhiệt trợ tất táo hoá, nên dùng Đại Thừa Khí thang.
(Nói Dương Nhiệt Âm Hàn đều là Tiêu Khí, Dương Nhiệt là Tiêu Khí của Bản Hàn và Âm Hàn là Tiêu Khí của Bản Nhiệt, đều do Bản Khí đưa đến chỗ bị bệnh; đấy là Thái Dương Thiếu Âm sở dĩ thống hết thảy các Kinh).

Tiết 252: Dương Minh táo hoá Thiếu Dương.
- 6- 7 ngày: ngày do Biểu nhập Lý, Thiếu Dương là Kinh Bán Biểu Bán Lý.
- Trong mắt không tỉnh táo, con ngươi không hoà: Thiếu Dương thọ Dương Minh.
- Không có chứng Biểu Lý: nói tại Tấu.
- Đại tiện khó, mình hơi nóng: đấy là Dương Nhiệt thực, do Âm Nhiệt mà thực.
- Gấp cho Hạ: (bảo) tồn Âm dịch, nên dùng Đại Thừa Khí thang.
Tiết 253: Dương Minh tự táo hoá.
- Dương Minh phát sốt: do thọ Thái Dương Hàn mà phát sốt.
- Dương Minh nhiều mồ hôi: do Thái Dương Hàn Khí mà nhiều mồ hôi.
- Gấp cho Hạ: bảo (tồn) Dương dịch, nên dùng Đại Thừa Khí thang.

Tiết 254: Dương Minh táo hoá Thiếu Âm.
- Phát Hãn không giải: Dương Minh tại Ngoại không giải.
- Bụng đầy đau: chứng của Thiếu Âm tại Nội tức chứng của Dương Minh nhập Nội.
- Gấp cho Hạ: sợ Âm Dương đều sẽ vong, nên dùng Đại Thừa Khí thang.
(Xem xét 3 chứng Hạ gấp trên, Dương Minh đều thừa (thuận theo) Thái Dương Thiếu Âm).

Tiết 255: Dương Minh táo hoá Thái Âm.
- Bụng đầy không giảm: Dương Nhiệt nhập Âm Hàn.
- Giảm không đáng kể: chỉ giảm Dương phần, chưa giảm Âm phần.
- Phải cho Hạ, nên dùng Đại Thừa Khí thang.


CHƯƠNG 31
DƯƠNG MINH LÀM THƯƠNG HÀN LOẠI
(6 Tiết, từ 256 đến 261)
Tất cả các bệnh do Hàn Truyền ngoài Kinh Thái Dương, Bản Nghĩa đều gọi chung là Thương Hàn Loại. Người học tập cần phân hiểu để tránh nhầm lẫn khi trị liệu. Các bệnh như Phong Ôn, Ôn Bệnh thuộc Nhiệt Loại; các bệnh như Phong Thấp, Hàn Thấp thuộc Hàn Loại.

Tiết 256: Dương Minh tại Tấu thọ Thương Hàn chuyển làm bệnh khác.
- Dương Minh Thiếu Dương hiệp bệnh: đồng Dương Nhiệt chứng.
- Tất hạ lợi: đồng thọ Dương Hàn truyền Kinh tới.
- Mạch không thua là thuận: Dương Hàn không thua Dương Nhiệt là thuận.
- Khắc hại lẫn nhau: Dương Hàn bị Dương Nhiệt khắc hại gọi là ‘phụ’.
- Mạch Hoạt: Dương Nhiệt thực, mà Sác: Dương Hàn hư. Trong Hàn có Nhiệt là chứng túc thực, cần cho Hạ, nên dùng Đại Thừa Khí thang.

Tiết 257: Dương Minh tại Tấu làm Thương Hàn rồi đến Nhiệt Bệnh.
- Không Biểu Lý chứng: nói tại Tấu.
- Phát sốt 7 - 8 ngày: Dương Minh tại Tấu.
- Tuy mạch Phù Sác: tại Tấu Âm Nhiệt hư.
- Có thể cho Hạ: cớ bởi Dương Nhiệt cũng tại Tấu.
- Giả như đã Hạ rồi: Dương Nhiệt không giải, hiệp Âm Nhiệt thì tiêu cơm chống đói.
- Đến 7 - 8 ngày không đại tiện là thọ Âm Nhiệt ứ Huyết, Để Đáng thang làm chủ.
- Nếu mạch Sác không giải mà đi ngoài không dứt, ấy là chuyển Âm Hàn đại tiện ra mủ máu vậy.

Tiết 258: Dương Minh tại Tấu làm Thương Hàn rồi đến Hàn Thấp.
- Phát Hãn rồi mình mắt vàng: thọ Lý Âm Hàn.
- Âm Hàn không thể Hạ, cầu tìm (phép trị) trong môn Hàn Thấp.

Tiết 259: Dương Minh tại Tấu làm Thương Hàn rồi đến Phong Thấp.
- Mình vàng như màu quả quít: tại Ngoại Dương Nhiệt thọ Dương Hàn.
- Tiểu tiện không lợi, bụng hơi đầy: tại Nội Dương Nhiệt thọ Dương Hàn.
- Nhân Trần Cao thang làm chủ: trị tại Tấu mà Nội Ngoại giải vậy.

Tiết 260: Dương Minh tại Tấu làm Thương Hàn rồi đến Ôn Bệnh.
- (Dương Minh là Nhiệt, tại Tấu cũng là Nhiệt phần) Hai Nhiệt xông đốt nhau, mình vàng phát sốt, Chi Tử Bá Bì thang làm chủ.

Tiết 261: Dương MInh tại Tấu làm Thương Hàn rồi đến Phong Ôn.
- Kinh Khuyết Âm (Túc, Âm Hàn) hành Huyết với Kinh Dương Nhiệt (Túc Thiếu Dương) hành Thủy (Khí) cùng nhau ứ Nhiệt tại Lý tất cùng nhau phát vàng ở ngoài. Ma Hoàng Liên Kiều Xích Tiểu Đậu thang làm chủ.

THIÊN 5:
THIẾU DƯƠNG
(1 CHƯƠNG, 10 TIẾT)

CHƯƠNG 32
THIẾU DƯƠNG THỂ LỆ
(10 Tiết, từ 262 đến 271)
Tứ Kinh Khí Âm Dương Hàn Nhiệt gồm 2 cặp:
- Cặp Dương Hàn Âm Nhiệt mỗi Kinh có đủ tính Âm Dương Hàn Nhiệt nên đều có chức năng tự làm bệnh.
- Cặp Kinh Dương Nhiệt thuần Dương, Âm Hàn thuần Âm không thể tự làm bệnh, chúng nó phải thọ Dương Hàn – Âm Nhiệt để làm bệnh.
Phân ra Âm Dương – Hàn Nhiệt có 4 Kinh nhưng cùng tồn tại trong 1 thân người các Kinh này liên kết không rời, giao tế làm thành Sinh lý (điều hoà) và Bệnh lý (bất hoà). Hành trình giao tế của các Kinh này là đường giao thông tại Bộ Vị Tấu, màn lưới của tất cả Kinh, trong đó có 2 Kinh Thiếu Dương – Khuyết Âm làm nền tảng. Bản Nghĩa nói Thiếu Dương là Dương Nhiệt, Khuyết Âm là Âm Hàn rất có liên quan vấn đề này. Kinh Thiếu Dương gồm có:
- Túc Thiếu Dương Đởm là Kinh Dương Nhiệt – Khí Âm Hàn, điều này xác minh Bản Nghĩa nói đúng.
- Thủ Thiếu Dương Tam Tiêu là Kinh Dương Hàn – Khí Âm Nhiệt, điều này được nối tiếp để kết luận Thiếu Dương là Kinh Dương Nhiệt, Dương Hàn Trung Hiện.
Sau Đức Trọng Cảnh, có nhiều chú gia thấy Thiên Thiếu Dương chỉ có 1 Chương 10 Tiết đều bảo là có thiếu mất; Bản Nghĩa khẳng định không phải như vậy vì bệnh của Kinh Thiếu Dương đã được luận tại các Thiên Thái Dương, cụ thể là tại Thái Dương Hạ có 4 Chương 17 – 18 - 19 - 20 đều luận về Kinh Thiếu Dương. Do đã luận rồi nên thiên này giản lược chỉ còn Chương Thể Lệ 10 Tiết.


Tiết 262: Thiếu Dương thọ Thái Dương Thiếu Âm.
- Thiếu Dương là Hoả Khí.
- Miệng đắng: thọ Thái Dương Hàn Khí.
- Họng khô: thọ Thiếu Âm Nhiệt Khí.
- Mắt hoa: cùng thọ vậy.

Tiết 263: Thiếu Dương Trúng Phong.
- Hai tai không nghe được: Kinh đi bên mé bên thân Trúng Phong.
- Mắt đỏ: Kinh của Hoả Khí.
- Trong ngực đầy mà phiền: thọ Thái Dương Thiếu Âm.
- Không thể cho Thổ Hạ: không phải thuần chứng Lý.
- Thổ Hạ thì Bản Hàn truyền Tam Tiêu Kinh nên hồi hộp, truyền Đởm Kinh nên Kinh sợ.

Tiết 264: Thiếu Dương Thương Hàn.
- Mạch Huyền Tế: Dương Vi cho nên Tế, mà thọ Hàn cho nên Huyền.
- Đầu đau: thọ Dương Hàn.
- Phát Nhiệt: thọ Âm Nhiệt.
- Thuộc Thiếu Dương: Kinh bán Dương bán Âm (DươngTrung Hiện).
- Thiếu Dương không thể phát Hãn: không phải thuần Biểu Kinh.
- Phát Hãn thì nói xàm: Dương Hàn đi mà Âm Nhiệt lại.
- Đấy là thuộc Vị: Âm Dương hoà.
- Vị hoà thì khỏi: cớ bởi Âm Dương hoà.
- Không hoà thì thọ Âm Nhiệt bệnh mà phiền, thọ Dương Hàn bệnh mà quý.

Tiết 265: Thiếu Dương Hàn Thấp không chuyển Phong Thấp.
- Vốn Thái Dương bệnh không giải, chuyển nhập Thiếu Dương, dưới hiếp đầy đau: làm Thương Hàn vậy.
- Nôn khan không ăn được: Thương Hàn chuyển làm Hàn Thấp.
- Nóng lạnh qua lại: cớ bởi tại Bán Biểu làm Hàn Thấp.
- Còn chưa cho Thổ Hạ, mạch Trầm Khẩn: chưa nhập Bán Lý, không chuyển làm Thiếu Âm Phong Thấp, Tiểu Sài Hồ thang làm chủ.

Tiết 266: Thiếu Dương Ôn Bệnh chuyển làm Phong Ôn.
- Đã cho phát Hãn, cho Thổ, cho Hạ, cho Ôn châm: trị Thiếu Dương Ôn Bệnh.
- Nói xàm, Sài Hồ thang chứng đã dứt: Thiếu Dương Ôn Bệnh chuyển làm Phong Ôn.
- Đấy là Hoại Bệnh: Bản Hàn đã hoại, chuyển sang Bản Nhiệt vậy.
- Tìm xem phạm ở nghịch nào, dùng ‘pháp’ trị đi: hoặc là Ôn Bệnh, hoặc là Phong Ôn; nhất thiết mọi chứng nghịch phạm ở Thiếu Dương đều theo ‘pháp’ Dương Minh, ‘pháp’ Thái Dương để trị. Sở dĩ Bản Kinh chỉ có 10 Tiết tự đủ.

Tiết 267: Thiếu Dương thọ Tam Dương Truyền Kinh.
- Mạch Phù Đại: Dương Hàn hiệp Dương Nhiệt.
- Lên trên Bộ Quan: Bộ Vị của Thiếu Dương tại Trung.
- Chỉ muốn ngủ: thọ Dương Hàn.
- Nhắm mắt thì đổ mồ hôi: thọ Dương Nhiệt.

Tiết 268: Thiếu Dương Truyền Kinh Tam Âm.
- 6- 7 ngày: ngày Âm Dương giao giới.
- Không sốt cao: do đã nhập Âm Kinh.
- Phiền táo: do bởi Dương nhập vào Âm.
(Đây là Thiếu Dương thọ Tam Dương truyền vào Tam Âm. Các chú gia bảo rằng Tam Âm là trực trúng, là chưa từng đọc kỹ thiên này).

Tiết 269: Thiếu Dương không truyền Tam Âm.
- Tam Dương hành Kinh đã dứt, Tam Âm đáng lẽ thọ Tà: thọ truyền từ Thiếu Dương.
- Trái lại ăn được mà không nôn: Thiếu Dương không thọ Tam Dương cho nên không truyền Tam Âm.

Tiết 270: Thiếu Dương không thọ Tam Dương Truyền Kinh.
- Thọ Tam Dương thì mạch Đại, không thọ Tam Dương thì mạch Tiểu.
- Muốn khỏi: không truyền vào Tam Âm.

Tiết 271: Thiếu Dương hành Kinh vượng thời.
- Giờ Vượng của Thiếu Dương hành Kinh là giờ Mão (từ Dần đến Thìn).


THIÊN 6:
THÁI ÂM
(1 CHƯƠNG, 8 TIẾT)

CHƯƠNG 33
THÁI ÂM THỂ LỆ.
(8 Tiết, từ 272 đến 279)
Thái Âm là Kinh Âm Hàn, Túc Thái Dương Bàng Quang (Bản Dương Hàn) đồng là Khí Âm Hàn với Túc Thiếu Âm Thận (Tiêu Âm Nhiệt). Các bệnh của Kinh Thái Âm như Thái Âm Trúng Phong tại Nhục phần dùng thang Quế Chi, các bệnh Âm Hàn tại Lý dùng bọn Tứ Nghịch, Hàn Thấp, Phong Thấp đều đã trình bày tại các Thiên Thái Dương nên không lập lại và Thiên này giản lược chỉ còn 1 Chương Thể Lệ.

Tiết 272: Thái Âm thọ truyền tại Cơ rồi đến Tấu.
- Bụng đầy mà mữa: thọ Dương Hàn.
- Ăn không xuống: thọ Âm Nhiệt.
- Tự ỉa chảy thêm nặng: thọ Âm Hàn.
- Có lúc bụng tự đau: thọ Dương Nhiệt.
- Cho Hạ thì trong ngực Bĩ rắn: thọ truyền tại Cơ rồi đến Tấu.

Tiết 273: Thái Âm Trúng Phong.
- Tứ chi phiền nhức: thọ tại Biểu.
- Mạch Dương Vi: không thọ Dương Hàn; Mạch Âm Sác: không thọ Âm Nhiệt; mà Trường là đắc Vị Khí hoà, là muốn khỏi.

Tiết 274: Thái Âm hành Kinh Vượng thời.
- Giờ Vượng của Thái Âm hành Kinh là từ giờ Hợi đến giờ Sửu (giờ Tý).

Tiết 275: Thái Âm Thương Hàn.
- Thái Âm Bệnh mạch Phù, có thể Phát Hãn, Quế Chi thang làm chủ.

Tiết 276: Thái Âm thọ Dương Hàn làm Hàn Thấp.
- Ỉa chảy không khát là thuộc Thái Âm: Thái Dương Bản Hàn truyền vào Thái Âm.
- Bởi vì Tạng nó có Hàn: Thái Âm Tạng Hàn Thấp là Bản Khí của Thái Dương.
- Phải làm cho Ôn, nên dùng loại Tứ Nghịch: nhất thiết mạch chứng bệnh Thái Âm chọn lấy nơi Thái Dương. Sở dĩ Thiên này chỉ có 1 Chương 8 Tiết!

Tiết 277: Thái Âm thọ Âm Nhiệt làm Phong Thấp.
- Mạch Phù: Âm Nhiệt, mà Hoãn: Âm Hàn.
- Tay chân tự ấm là hệ tại Thái Âm: Thiếu Âm hệ với Thái Âm.
- Thái Âm đáng lý phát mình vàng: Thái Âm hệ với Thiếu Âm.
- Nếu Thái Âm không hệ với Thiếu Âm mà tiểu tiện tự lợi thì Thiếu Âm cũng không hệ với Thái Âm mà không thể phát vàng.
- Nếu Thiếu Âm hệ với Thái Âm mà bạo phiền hạ lợi thì Thái Âm cũng hệ với Thiếu Âm, hơn 10 ngày tất tự dứt. Đấy là Thái Âm Thiếu Âm không rời nhau.
- Tỳ gia thực, vật thối nát phải tự trừ đi: cùng nhau làm bệnh lại cùng nhau trừ bệnh, Đạo của Âm Dương vậy.

Tiết 278: Thái Âm thọ Ôn Bệnh, Phong Ôn.
- Bụng đầy, có lúc đau: Ôn Bệnh, Quế Chi gia Thược Dược thang làm chủ.
- Rất thực và đau: Phong Ôn, Quế Chi gia Đại Hoàng thang làm chủ.
Tiết 279: Thái Âm không thọ Ôn Bệnh, không thọ Phong Ôn.
- Mạch Nhược: tại Tấu Dương Nhiệt hư không làm Ôn Bệnh.
- Người bệnh tiếp tục đi ỉa: Dương Nhiệt hư, Âm Nhiệt cũng hư không làm Phong Ôn.
- Giả thiết phải dùng Đại Hoàng Thược Dược, nên giảm bớt (lượng), bởi vì Vỵ Khí yếu, tức Dương Nhiệt Âm Nhiệt yếu vậy.


THIÊN 7:
THIẾU ÂM
(6 CHƯƠNG, 45 TIẾT)


CHƯƠNG 34
THIẾU ÂM THỂ LỆ
(4 Tiết, từ 280 đến 283)
Thiếu Âm là Kinh Âm Nhiệt, Kinh Âm mà hành Nhiệt Khí đối giao với Thái Dương là Kinh Dương Hàn, Kinh Dương mà hành Hàn Khí. Dương Hàn chủ Vệ (chính) mà hành Hàn Khí (tà) đối giao với Âm Nhiệt, Kinh Âm (tà) mà hành Nhiệt Khí chủ Vinh (chính). Cặp Kinh này có đủ tính Âm Dương Hàn Nhiệt nên có đủ chức năng tự làm bệnh. Trong Sinh Lý cũng như Bệnh Lý, người học tập cần nắm vững 2 mối quan hệ không rời là Thiếu Âm Bản Nhiệt đồng Khí Dương Nhiệt với Thái Dương Tiêu Dương và Thái Dương Bản Hàn đồng Khí Âm Hàn với Thiếu Âm Tiêu Âm.

Tiết 280: Thiếu Âm Kinh Khí với Thái Dương liên quan.
- Mạch Vi Tế: Vi là Nhiệt Khí Vi, Tế là Âm Kinh Tế, Nhiệt Khí bị Âm Kinh làm cho Tế tiểu. Nhiệt Khí Vi tức ‘Thái Dương’ tại Lý Vi. Âm Kinh Tế tức ‘Hàn Khí’ tại Lý thực.
- Chỉ muốn ngủ: tại Lý Nhiệt Khí thọ chịu Âm Kinh ức chế; tại Biểu Thái Dương Kinh thọ chịu Hàn Khí ức chế cũng vậy.

Tiết 281: Thiếu Âm Tiêu Bản với Thái Dương liên quan.
- Muốn mửa mà không mửa: cớ bởi Thiếu Âm Tiêu Âm mà Bản Nhiệt, với Thái Dương Bản Hàn mà Tiêu Dương đồng.
- Tâm phiền chỉ muốn ngủ: cớ bởi Thiếu Âm Bản Nhiệt mà Tiêu Âm, với Thái Dương Tiêu Dương mà Bản Hàn đồng.
- 5- 6 ngày tự ỉa chảy: Tiêu Âm; mà khát: Bản Nhiệt.
- Đấy là thuộc Thiếu Âm: Kinh Hàn (Âm) mà Khí Nhiệt.
- Hư cho nên đòi nước để tự cứu: Thái Dương, ‘là’ Dương Kinh.
- Nếu tiểu tiện sắc trắng: Thái Dương, ‘chủ’ Hàn Khí.
- Đấy là Thiếu Âm Bệnh hình đầy đủ: Thái Dương Bệnh hình vậy.
- Tiểu tiện sắc trắng là nói hạ tiêu Thiếu Âm Bản Nhiệt hư cho nên thọ Tiêu Âm không chế được thủy; cũng như ở hạ tiêu Bản Hàn thực, tiểu tiện sắc trắng, mà Tiêu Dương ở trên hư không chế được thủy vậy.
(Thiếu Âm Thái Dương không chỉ Nội Ngoại đồng mà Thượng Hạ cũng không bất đồng).

Tiết 282: Thiếu Âm Bản Khí với Thái Dương liên quan.
- Mạch Âm Dương đều khẩn: Khẩn tại Thái Dương là ‘không mồ hôi’ Bản Hàn bế ngăn làm cho Bản Nhiệt không ra ngoài được. Khẩn tại Thiếu Âm ‘trái lại đổ mồ hôi’ là Vong Dương, Bản Hàn ép bức Bản Nhiệt ra ngoài.
- ‘ Pháp’, ấy là Thiếu Âm tất thọ Thái Dương truyền Kinh, ‘pháp’ nhất định vậy.
- Phải đau họng: Thiếu Âm Nhiệt Khí.
- Mà lại mửa ỉa: tất thọ Thái Dương Hàn Khí truyền Kinh.

Tiết 283: Thiếu Âm Tiêu Khí với Thái Dương liên quan.
- Ho: là Âm Nhiệt thọ Dương Hàn. Tại Tấu Tiêu Dương thọ Tiêu Âm cũng ho.
- Hạ lợi: Bản Nhiệt thọ Bản Hàn. Tại Tấu Tiêu Dương thọ Tiêu Âm cũng hạ lợi.
- Tiêu Âm tại Tấu thọ Bản Nhiệt sinh nói xàm. Tiêu Dương tại Tấu bị hoả bức ép cũng nói xàm.
- Tiêu Dương tại Tấu tiểu tiện khó, Tiêu Âm tại Tấu mà cưỡng Phát hãn cũng tiểu tiện khó.
(Tiêu Khí có liên quan do Bản Khí liên quan đưa đến, cho nên ‘kiêm ngôn’ vậy).

CHƯƠNG 35
THIẾU ÂM TẠI BIỂU ĐẾN LÝ.
(10 Tiết, từ 284 đến 293)
Nhiệt Khí là chính từ Lý ra Biểu để nuôi dưỡng toàn thân. Chương này nói Thiếu Âm tại Biểu đến Lý là Thiếu Âm tương ứng Thái Dương, Hàn làm bệnh truyền từ Biểu vào Lý.

Tiết 284: Thiếu Âm chủ Lý.
- Thái Dương chủ Biểu mạch Phù, Thiếu Âm tại Biểu theo Thái Dương trị pháp, Thái Dương nên Phát hãn, Thiếu Âm cũng nên Phát hãn.
- Thiếu Âm chủ Lý mạch Tế Trầm Sác, Thái Dương tại Lý theo Thiếu Âm trị pháp. Thiếu Âm không thể Phát hãn, Thái Dương cũng không thể Phát hãn.

Tiết 285: Thiếu Âm tại Cách và Đái.
- Tại Cách mạch Vi không thể Phát hãn, vong Thái Dương tức vong Thiếu Âm vậy.
- Tại Cách Thái Dương hư thì tại Đái Thiếu Âm mạch Xích Nhược, lại cũng không thể cho Hạ: Mạch Xích Nhược, lại không thể cho Hạ.
(Tại Cách tại Đái nhất Khí quán thông, Thái Dương Thiếu Âm nhất Khí quán thông vậy).

Tiết 286: Thiếu Âm tại Biểu và Lý.
- Mạch Khẩn: mạch Thiếu Âm Thái Dương tại Biểu.
- Đến 7 - 8 ngày tự ỉa chảy, đột nhiên mạch Vi: mạch chứng Thiếu Âm tại Lý, cũng là mạch chứng Thái Dương tại Lý.
- Tay chân lại ấm, mạch lại hết Khẩn: Thiếu Âm tại Biểu giải, Thái Dương tại Biểu cũng giải.
- Tuy phiền ỉa chảy tất tự khỏi: Thiếu Âm tại Lý giải, Thái Dương tại Lý cũng giải.
(Tại Biểu tại Lý nhất Khí quán thông, Thiếu Âm Thái Dương nhất Khí quán thông vậy).

Tiết 287: Thiếu Âm tại Tấu Bán Biểu
- Hạ lợi: Thái Dương Bản Hàn tại Bán Biểu.
- Lợi tự dứt: Thiếu Âm Bản Nhiệt cũng tại Bán Biểu.
- Sợ lạnh mà nằm co: Bản Hàn tại Bán Biểu rồi ra Bì Cơ.
- Tay chân ấm, có thể trị: Bản Nhiệt cũng tại Bán Biểu rồi ra Bì Cơ.

Tiết 288: Thiếu Âm tại Tấu Bán Lý.
- Sợ lạnh mà nằm co: Bản Hàn thực tại Bán Lý.
- Tự phiền muốn cởi bỏ áo chăn: Bản Nhiệt cũng thực tại Bản Lý. Hàn Nhiệt đều thực nên có thể trị.

Tiết 289: Thiếu Âm Trúng Phong tại Cơ.
- Mạch Dương Vi: không truyền Tam Dương.
- Mạch Âm Sác: không truyền Tam Âm.
- Là muốn khỏi: chỉ riêng tại Cơ vậy.

Tiết 290: Thiếu Âm Vượng thời.
- Giờ Vượng của Thiếu Âm hành Kinh là từ giờ Tý đến giờ Dần (giờ Sửu).

Tiết 291: Thiếu Âm Bản Nhiệt truyền Xung Nhâm Kinh.
- Thiếu Âm Bệnh mữa ỉa: Xung Kinh thọ (bệnh) nên mữa, Nhâm Kinh thọ (bệnh) nên ỉa.
- Tay chân không nghịch lãnh, trái lại phát sốt là không chết: Xung Nhâm Kinh thọ Âm Nhiệt.
- Mạch không đến (bất chí ): thọ Âm Hàn.
- Cứu Thiếu Âm 7 tráng: Quan Nguyên là chỗ hội của Xung Nhâm, cứu huyệt Thái Khê là Du huyệt của Túc Thiếu Âm Thận Kinh, huyệt Công Tôn tại Tỳ Kinh thông Xung mạch.
Tiết 292: Thiếu Âm Bản Nhiệt truyền Đốc Kinh.
- 8- 9 ngày, cả người chân tay đều nóng: Dương Nhiệt hiệp Âm Nhiệt.
- Nhiệt tại Bàng Quang, tất tiểu tiện ra máu: Bàng Quang thọ Thiếu Âm Nhiệt Khí hành Thủy. Đốc Kinh thọ Thiếu Âm Nhiệt Khí hành Huyết, Thủy tận (hết) thì Huyết chí (đến) vậy.

Tiết 293: Thiếu Âm Bản Nhiệt thọ Thái Dương Bản Hàn
truyền Xung Nhâm Đốc Kinh.
- Chư Kỳ Kinh thọ Thái Dương Hàn truyền mà quyết, tất thọ Thiếu Âm Nhiệt hệ mà không mồ hôi.
- Nếu cưỡng phát hãn của Thiếu Âm, tất động đến huyết của các Kỳ Kinh, hoặc do Xung Nhâm Kinh theo mắt ra, hoặc do Đốc Kinh theo miệng mũi ra.
- Gọi là ‘Hạ thọ Hàn truyền Kinh mà quyết, Thượng thọ Nhiệt chuyển hệ mà Kiệt’.
- Hàn Nhiệt cùng bệnh cho nên khó trị.


CHƯƠNG 36
THIẾU ÂM TỬ CHỨNG
(6 Tiết, từ 294 đến 299)
Nhiệt Khí là chính, hoặc thái quá hoặc bất cập đều làm bệnh, Nhiệt bị trở ngại bởi Âm Kinh không thông ra ngoài cũng làm bệnh. Nhiệt Khí tiêu vong là chết.
Tiết 294: Thiếu Âm Bản Nhiệt tại Tấu Vong.
- Sợ lạnh mình co: tại Tấu Bản Nhiệt vong (mất).
- Mà ỉa chảy: Tấu Nhiệt vong, Lý Nhiệt cũng vong.
- Tay chân nghịch lãnh: Tấu Nhiệt vong, Biểu Nhiệt cũng vong.
- 3 bộ phận cùng vong là chứng không trị được.

Tiết 295: Thiếu Âm Bản Nhiệt tại Lý Vong.
- Mửa ỉa: Bản Hàn nhập Lý.
- Phiền táo: với Lý Nhiệt bức bách nhau.
- Tay chân nghịch lãnh là chết: Lý Nhiệt vong, Biểu Nhiệt cũng vong.

Tiết 296: Thiếu Âm Bản Nhiệt tại Cách Vong.
- Ỉa chảy dứt: Bản Nhiệt tại Cách hạ vong.
- Đầu váng, thỉnh thoảng tự tối mắt là chết: Bản Nhiệt tại Cách thượng vong.

Tiết 297: Thiếu Âm Bản Nhiệt tại Đái Vong.
- 6- 7 ngày: ngày Dương Hàn tái Kinh nhập Lý.
- Thở dốc lên là chết: Âm Nhiệt từ Đái thoát lên.

Tiết 298: Thiếu Âm Bản Nhiệt thọ Hàn tại Ngoại bị Bản Hàn
bức bách cho đến Vong.
- Tay chân quyết nghịch sợ lạnh: Hàn thực tại Biểu.
- Mình co: Hàn thực tại Tấu.
- Mạch không đến (Bất chí): Hàn thực tại Lý.
- Không phiền mà vật vã là chết: Ngoại Hàn bức ép Nội Nhiệt đến vong.

Tiết 299: Thiếu Âm Bản Nhiệt thọ Hàn tại Nội bị Bản Hàn
bức bách cho đến Vong.
- Mạch Trầm Vi Tế: Hàn thực tại Lý.
- Chỉ muốn nằm, đổ mồ hôi, không phiền, tự muốn mữa: Hàn thực tại Biểu.
- Đến 4 - 5 ngày tự ỉa chảy: Hàn thực tại Tấu.
- Rồi lại phiền táo không nằm ngủ được là chết: bức bách tại Tấu đến vong Bản Nhiệt.


CHƯƠNG 37
THIẾU ÂM TẠI LÝ ĐẾN BIỂU.
(9 Tiết, từ 300 đến 308)
Thái Dương Hàn từ Biểu vào làm bệnh, Thiếu Âm Nhiệt ra từ Lý đến Biểu thọ bệnh. Chương này phân rõ 3 phần Khí - Kinh - Lạc của Thiếu Âm.

Tiết 300: Thiếu Âm Khí thọ Bản Hàn truyền Kinh tại Cơ đến Bì.
- Mới mắc phải: mới đầu tại Cơ Nhục.
- Lại phát sốt: thọ Bản Hàn mà lại phát Thiếu Âm Bản Nhiệt.
- Mạch Trầm: cớ bởi Âm Kinh tại Biểu thọ Hàn truyền.
- Ma Hoàng Phụ Tử Tế Tân thang làm chủ.

Tiết 301: Thiếu Âm Khí thọ Bản Hàn truyền Kinh tại Cơ Nhục.
- Mắc phải: mắc tại Cơ Nhục.
- 2- 3 ngày: tại Cơ Nhục thọ Bản Hàn truyền Kinh.
- Dùng Ma Hoàng Phụ Tử Cam Thảo thang để Phát hãn nhẹ: phát Thiếu Âm Bản Nhiệt thọ Hàn bởi vì 2 - 3 ngày không có Thiếu Âm Lý chứng, có thể Phát hãn nhẹ vậy.

Tiết 302: Thiếu Âm Khí thọ Bản Hàn truyền Kinh tại Cơ đến Tấu.
- Mắc phải 2 - 3 ngày trở lên: tại Cơ rồi đến Tấu.
- Trong Tâm phiền không nằm được: bởi vì Bản Hàn mà truyền Bản Nhiệt Kinh, lại tại Tấu là Nhiệt phần.
- Hoàng Liên A Giao thang làm chủ.

Tiết 303: Thiếu Âm Kinh thọ Bản Hàn tại Bì.
- Mắc phải 1 - 2 ngày: mắc tại Bì Cơ.
- Trong miệng hoà: Bệnh không tại Khí phần.
- Lưng sợ lạnh: Thiếu Âm Kinh thông với Bối (lưng).
- Nên cứu đi: trị tại Kinh (cứu huyệt Cách Du).
- Phụ Tử thang làm chủ: trị Kinh tất trị Khí.

Tiết 304: Thiếu Âm Kinh thọ Bản Hàn tại Cơ.
- Mình mẩy đau: thọ Hàn tại Cơ.
- Tay chân lạnh: từ Cơ đến Bì.
- Xương khớp nhức: từ Cơ đến Tấu.
- Mạch Trầm: thọ Bản Hàn tại Lý đến Cơ.
- Phụ Tử thang làm chủ.

Tiết 305: Thiếu Âm Kinh thọ Bản Hàn tại Tấu.
- Ỉa chảy: thọ Bản Hàn truyền.
- Ra mủ máu: Hàn nhập Âm Nhiệt Kinh.
- Đào Hoa thang làm chủ.

Tiết 306: Thiếu Âm Lạc thọ Bản Hàn tại Tấu.
- 2- 3 ngày: chư Dương Lạc.
- 4- 5 ngày: chư Âm Lạc.
- Bụng đau: Âm Dương Lạc giao tập tại Tấu.
- Tiểu tiện không lợi: Bản Nhiệt chuyển hệ.
- Hạ lợi không dứt: Bản Hàn truyền Kinh.
- Ỉa mủ máu: Hàn nhập Nhiệt Lạc.

Tiết 307: Thiếu Âm Lạc thọ Bản Nhiệt tại Tấu.
- Hạ lợi: thọ Bản Hàn truyền.
- Ỉa mủ máu: thọ Bản Nhiệt tại Tấu.
- Có thể Châm thích: trị Kinh mà Lạc tự giải.
(Châm Thiếu Âm Huyệt: U Môn, Giao Tín, Kỳ Môn).

Tiết 308: Thiếu Âm Lạc thọ Bản Hàn Bản Nhiệt tại Tấu đến Cách.
- Mữa ỉa: tại Lý thọ Bản Hàn.
- Tay chân quyết lãnh: tại Biểu thọ Bản Hàn.
- Phiền táo muốn chết: bởi vì Bản Nhiệt mà thọ Bản Hàn tại Tấu đến Cách.
- Ngô Thù Du thang làm chủ.


CHƯƠNG 38
THIẾU ÂM BỆNH TẠI CÁCH PHẦN
(10 Tiết, từ 309 đến 318)
Vỵ là Kinh Dương Nhiệt - Khí Âm Nhiệt nên Vỵ chủ Cách là hiển nhiên. Cách lại là nơi hội của tất cả các Kinh Âm Dương Hàn Nhiệt nên Thiếu Âm tại Cách được luận bệnh đầy đủ các mặt Âm Dương Hàn Nhiệt.
Tiết 309: Thiếu Âm Lạc tại Cách thọ Bản Nhiệt.
- Hạ lợi: thọ Hàn truyền.
- Yết đau: thọ Nhiệt hệ.
- Ngực đầy Tâm phiền: cùng thọ, Trư Phu thang làm chủ.

Tiết 310: Thiếu Âm Khí tại Cách thọ Bản Nhiệt.
- 2- 3 ngày yết đau: nói Thiếu Âm thọ Hàn tại Cách chuyển thành Nhiệt, có thể dùng Cam Thảo thang.
- Không bớt thì dùng Cát Cánh thang: trị Cách kiêm trị tại Tấu.

Tiết 311: Thiếu Âm Kinh tại Cách thọ Bản Nhiệt.
- Trong Yết bị thương sinh mụn lỡ: tại Cách thọ Nhiệt.
- Nói năng không ra tiếng: Thiếu Âm Kinh không Thái Dương tân dịch.
- Dùng Khổ Tửu thang làm chủ: (Thiếu Âm Kinh hệ thiệt Bản).

Tiết 312: Thiếu Âm Khí tại Cách thọ Bản Hàn.
- Trong Yết đau: Thiếu Âm Nhiệt Kinh thọ Hàn.
- Bán Hạ tán: trị Kinh.
- Cập thang: Kiêm trị Khí.

Tiết 313: Thiếu Âm Lạc tại Cách thọ Bản Hàn.
- Ỉa chảy: thọ Hàn truyền, Bạch Thông thang làm chủ.

Tiết 314: Thiếu Âm Kinh tại Cách thọ Bản Hàn.
- Ỉa chảy mạch Vi: chỉ có Bản Hàn mà không Bản Nhiệt.
- Dùng Bạch Thông thang ỉa chảy không dứt: thọ Bản Hàn truyền Kinh.
- Quyết nghịch: thọ tại Biểu.
- Không có mạch: thọ tại Lý.
- Nôn khan: Bản Hàn hiệp Tiêu Âm.
- Phiền: Bản Hàn hiệp Bản Nhiệt.
- Bạch Thông gia Trư Đởm Trấp thang làm cho Bản Nhiệt hoà Bản Hàn.
- Mạch hiện ra đột ngột thì chết: Bản Hàn bức Bản Nhiệt ra ngoài.
- Hơi đến dần dần thì sống: Bản Hàn với Bản Nhiệt tương đắc.

Tiết 315: Thiếu Âm Hàn Thấp.
- 2- 3 ngày: chư Dương Kinh.
- 4- 5 ngày: chư Âm Kinh.
- Đau bụng: chư Kinh đều tập trung tại Tấu.
- Tiểu tiện tự lợi, tay chân nặng nề: chư Dương Kinh thọ Hàn Thấp.
- Đau nhức tự ỉa chảy: chư Âm Kinh thọ Hàn Thấp.
- Đấy là có thủy khí: Thái Dương chuyển sang Thiếu Âm Hàn Thấp.
- Người bệnh hoặc ho: Bản Nhiệt chuyển sang Bản Hàn.
- Hoặc tiểu tiện tự lợi, hoặc ỉa chảy, hoặc nôn: đấy là Thiếu Âm chuyển sang Thái Dương Hàn Thấp.
- Chân Võ thang làm chủ.
- Ho thì gia Ngũ Vị Tử: liễm nạp Bản Nhiệt. Gia Tế Tân, Can Khương: làm cho Bản Hàn tương hoà với Bản Nhiệt, trị Thiếu Âm Hàn Thấp vậy.
- Tiểu tiện tự lợi: bỏ Phục Linh.
- Nếu Hạ lợi: bỏ Thược Dược gia Can Khương 2 lạng.
- Nếu nôn: bỏ Phụ Tử, gia Sinh Khương cộng với trước thành ½ cân.
Trị Thái Dương Hàn Thấp vậy.
Tiết 316: Thiếu Âm Phong Thấp.
- Ỉa chảy nguyên cơm nước: Thiếu Âm thọ Bản Hàn truyền Kinh.
- Lý Hàn ngoại Nhiệt: Bản Hàn nhập Lý cho nên Bản Nhiệt xuất Ngoại.
- Tay chân quyết Nhiệt: Bản Nhiệt ra ngoài, Bản Hàn cùng theo ra ngoài.
- Mạch Vi muốn tuyệt: Bản Hàn bức bách ở trong, Bản Nhiệt cơ hồ tuyệt. Đấy là Thiếu Âm chuyển Thái Dương Phong Thấp.
- Mình trái lại không sợ lạnh, người bệnh sắc mặt đỏ hoặc bụng đau: đấy là Thái Dương chuyển Thiếu Âm Phong Thấp.
- Hoặc nôn khan hoặc yết đau: Thái Dương Bệnh tức Thiếu Âm Bệnh.
- Hoặc lợi dứt, mạch không thấy: Thái Dương vong tức Thiếu Âm vong. Dùng Thông mạch Tứ Nghịch thang làm chủ.
- Mặt đỏ: gia hành 9 nhánh: Thiếu Âm tại Ngoại Phong Thấp.
- Bụng đau, bỏ hành gia Bạch Thược: Thiếu Âm tại Nội Phong Thấp.
- Nôn khan gia Sinh Khương, yết đau bỏ Thược Dược gia Cát Cánh: Thái Dương tại Biểu Phong Thấp.
- Lợi dứt, mạch không thấy bỏ Cát Cánh gia Nhân Sâm: Thái Dương tại Lý Phong Thấp.

Tiết 317: Thiếu Âm Ôn Bệnh.
- Tứ Nghịch tán trị Dương Minh Ôn Bệnh, có thể trị Thiếu Âm Ôn Bệnh, Âm Nhiệt trực tiếp Dương Nhiệt vậy.
- Hoặc Ho: là Âm Nhiệt thọ Bản Hàn làm ho, Dương Nhiệt thọ Bản Hàn cũng làm ho.
- Hoặc hồi hộp: thọ Dương Hàn.
- Hoặc tiểu tiện không lợi: thọ Âm Nhiệt.
- Hoặc trong bụng đau: thọ Âm Hàn.
- Hoặc ỉa chảy mót rặn: thọ Dương Nhiệt. Thiếu Âm Ôn Bệnh chuyển sang Dương Minh Ôn Bệnh.
- Ho thì gia Ngũ Vị Tử trị Bản Nhiệt, Can Khương trị Bản Hàn, cùng chủ trị ỉa chảy. Là phép trị Hàn nhập Nhiệt Kinh làm ho làm ỉa chảy.
- Hồi hộp gia Quế Chi: trị Dương Hàn.
- Tiểu tiện không lợi gia Phục Linh: trị Âm Nhiệt.
- Trong bụng đau gia Phụ Tử: trị Âm Hàn.
- Ỉa chảy mót rặn, dùng phép nấu Phỉ bạch: trị Dương Nhiệt hạ lợi.
- Tứ Nghịch tán làm chủ.

Tiết 318: Thiếu Âm Phong Ôn.
- Hạ lợi: thọ Hàn truyền.
- 6- 7 ngày ho mà nôn: ngày từ Âm sang Dương, từ Thiếu Âm Phong Ôn chuyển sang Thái Dương Thương Hàn.
- Khát, Tâm phiền, không ngủ được: Thiếu Âm Phong Ôn, dùng Trư Linh thang làm chủ.
(Thiếu Âm Ôn Bệnh, Phong Ôn đều trực tiếp đến, đều có thể chuyển làm Thái Dương Thương Hàn; hiệp với Thái Dương hạ thiên, tìm tòi nơi các Tiết, tự thấy được cái ý lập ngôn của Trọng Sư).


CHƯƠNG 39
THIẾU ÂM TẠI TẤU.
(6 Tiết, từ 319 đến 324)
Tấu là nơi hội của tất cả Kinh Âm Dương Hàn Nhiệt Tiêu Bản nên Thiếu Âm tại Tấu cũng thọ bệnh đủ các mặt Âm Dương Hàn Nhiệt Tiêu Bản.

Tiết 319: Dương Minh Thiếu Dương tòng Thiếu Âm Bản Nhiệt.
- Mắc phải: mắc Thái Dương Hàn truyền tại Cơ Nhục.
- 2- 3 ngày: Dương Minh, Thiếu Dương.
- Miệng ráo: Dương Minh tòng Bản Nhiệt.
- Yết khô: Thiếu Dương tòng Bản Nhiệt.
- Gấp Hạ ngay: Âm Dương cùng Nhiệt, nguy trong sớm chiều.
- Dùng Đại Thừa Khí thang làm chủ.

Tiết 320: Thái Dương tòng Thiếu Âm Bản Nhiệt.
- Thái Dương tòng Bản Nhiệt thì Hàn Khí tòng Tiêu Âm, Nhiệt tòng Nhiệt thì Hàn tòng Hàn vậy.
- Tự ỉa nước trong sắc xanh ròng: Hàn tòng Hàn.
- Dưới Tâm ắt đau, miệng khô ráo: Nhiệt tòng Nhiệt.
- Gấp Hạ ngay: sợ Nhiệt cực trở lại Hàn thì chết.
- Nên dùng Đại Thừa Khí thang.

Tiết 321: Tam Dương tòng Thiếu Âm Bản Nhiệt.
- Tam Dương thống (gồm) ở Thái Dương, Tam Âm thống ở Thiếu Âm.
- 6- 7 ngày là ngày Âm Dương giao giới.
- Bụng trướng không đi ngoài được: Tam Âm Tam Dương thực tại Thiếu Âm là chứng chết.
- Gấp Hạ ngay, nên dùng Đại Thừa Khí thang.

Tiết 322: Tam Âm tòng Thiếu âm Tiêu Âm.
- Mạch Trầm: bởi vì Âm tòng Âm, chứng chết!
- Gấp Ôn ngay; Tứ Nghịch thang làm chủ.

Tiết 323: Dương Minh Thiếu Dương tòng Thiếu Âm Tiêu Âm.
- Ăn uống vào miệng thì mữa: tòng Tiêu Âm.
- Trong Tâm cuồn cuộn muốn mữa lại không mữa được: bởi Nhiệt tại Dương Nhiệt.
- Dương Nhiệt mới mắc phải Dương Hàn tại Nhục phần truyền Kinh, tay chân nóng mạch Huyền Trì, đấy là Dương Nhiệt tòng Dương Hàn tại trong ngực, không thể Hạ mà nên cho Thổ vậy.
- Nếu như trên Cách có Hàn ẩm nôn khan: đấy là Dương Hàn tòng Tiêu Âm tại Cách thượng không thể cho Thổ.
- Gấp Ôn ngay: Hàn thực mà Dương vong vậy.
- Nên dùng Tứ Nghịch thang.

Tiết 324: Thái Dương Tiêu Dương tòng Thiếu Âm Tiêu Âm.
- Hạ lợi (ỉa chảy): tòng Tiêu Âm.
- Mạch Vi Sáp: bởi bệnh tại Tiêu Dương.
- Nôn: tòng Tiêu Âm.
- Đổ mồ hôi: bởi bệnh tại Tiêu Dương.
- Tất đi ngoài nhiều lần: tòng Tiêu Âm.
- Trái lại ít phân: bởi bệnh tại Tiêu Dương.
- Tiêu Âm tại hạ cần Ôn, Tiêu Dương tại thượng nên dùng phép cứu.


THIÊN 8:
KHUYẾT ÂM
(6 CHƯƠNG, 55 TIẾT)


CHƯƠNG 40
KHUYẾT ÂM THỂ LỆ
(5 Tiết, từ 325 đến 329)
Khuyết Âm là Kinh Âm Hàn Âm Nhiệt Trung Hiện đối giao với Thiếu Dương là Kinh Dương Hàn Dương Nhiệt Trung Hiện. Cặp Kinh Âm Dương Trung Hiện này là nền tảng của Tấu Lý, Bộ Vị giao Tế của 4 Kinh Âm Dương Hàn Nhiệt; không có chức năng tự làm bệnh hoặc nhờ đến cặp Kinh Dương Hàn Âm Nhiệt để làm bệnh; Chúng nó chỉ thọ bệnh của các Kinh Âm Dương Hàn Nhiệt mà thôi.

Tiết 325: Khuyết Âm thọ Thái Dương Thương Hàn.
- Tiêu khát: thọ Túc Thái Dương Khí.
- Khí xung lên Tâm: thọ Thủ Thái Dương Khí.
- Trong Tâm nhức nóng, đói mà không muốn ăn: thọ Thái Dương Tiêu Dương.
- Ăn thì mửa giun, cho Hạ thì ỉa không dứt: thọ Thái Dương Bản Hàn.

Tiết 326: Khuyết Âm thọ Thiếu Âm Trúng Phong.
- Mạch hơi Phù là muốn khỏi: tại Biểu thọ Thiếu Âm vi (nhẹ).
- Mạch không Phù là chưa khỏi: tại Biểu thọ Thiếu Âm thậm (nặng).


Tiết 327: Khuyết Âm Vượng thời.
- Giờ Vượng của Khuyết Âm là từ giờ Sửu đến giờ Mão (giờ Dần).

Tiết 328: Khuyết Âm Ôn Bệnh Phong Ôn.
- Khát muốn uống nước: thọ Dương Minh làm Ôn Bệnh, thọ Thiếu Âm làm Phong Ôn.
- Cho uống ít ít, khỏi: Khuyết Âm là Âm tận, Dương Khí còn thiểu (nhỏ, ít).

Tiết 329: Khuyết Âm Hàn Thấp Phong Thấp.
- Thọ Thái Âm làm Hàn Thấp, thọ Thái Dương làm Phong Thấp, có chứng ‘quyết nghịch’ không thể cho Hạ, vì không có Thiếu Âm Nhiệt Khí vậy.
- Phàm bệnh không có Thiếu Âm Nhiệt Khí là ‘hư gia’ không thể Hạ.


CHƯƠNG 41
KHUYẾT ÂM THỌ PHONG HÀN TẠI BIỂU TẠI LÝ
(12 Tiết, từ 330 đến 341)
Khuyết Âm đối giao với Thiếu Dương cùng là cặp Âm Dương Trung Hiện thọ bệnh suốt Biểu suốt Lý.

Tiết 330: Khuyết Âm thọ Thái Dương truyền Kinh.
- Trước quyết lãnh: trước thọ Bản Hàn.
- Sau phát sốt: sau thọ Tiêu Dương.
- Đi ỉa tất tự dứt: bởi cớ thọ Tiêu Dương.
- Thấy Quyết thì đi ỉa trở lại: bởi cớ thọ Bản Hàn.

Tiết 331: Khuyết Âm thọ Thiếu Âm truyền Kinh.
- Mới đầu: mới đầu thọ truyền tại Cơ Nhục.
- Trước là trước thọ Thiếu Âm Bản Nhiệt 6 ngày, Tiêu Âm ứng theo quyết 9 ngày mà ỉa chảy.
- Phàm thọ Tiêu Âm tất Quyết lãnh ỉa chảy, đáng lý không ăn được, nay trái lại ăn được sợ Bản Nhiệt ra ngoài do Tiêu Âm ‘trừ’ nơi ‘trung’ vậy.
- Cho ăn miếng mà không phát sốt thì biết là Vị Khí vẫn còn, tức Bản Nhiệt vẫn còn, bệnh tất khỏi.
- Sợ đột nhiên sốt đến rồi lại lui thì là không Vị Khí, không Bản Nhiệt vậy.
- Sau 3 ngày chẩn mạch thấy sốt vẫn tiếp tục, Bản Nhiệt còn tức Vị Khí còn, hẹn đến nữa đêm rạng sáng khỏi.
- Sở dĩ như thế, vì Khuyết Âm hành (đi) giữa Thái Dương Thiếu Âm, chỗ tiếp với Thái Dương giao với Thiếu Âm là nữa đêm rạng sáng, cho nên quyết Nhiệt tương ứng, không lỗi ngày hẹn.
- Nếu thiên về Thiếu Âm Bản Nhiệt, đấy là Nhiệt Khí có dư, tất phát ung nùng.
thiên về Tiêu Âm tức làm ‘trừ trung’.

Tiết 332: Khuyết Âm thọ Dương Hàn Âm Hàn làm quyết.
- Mạch Trì: thọ Dương Hàn.
- Trái lại cho dùng Hoàng Cầm thang để triệt Nhiệt: triệt Dương Nhiệt.
- Trì là Hàn: Âm Hàn.
- Trái lại dùng Hoàng Cầm thang để triệt Nhiệt: triệt Âm Nhiệt.
- Trong bụng lạnh đáng lý không ăn được: thọ Dương Hàn lại thọ Âm Hàn.
- Nay lại ăn được gọi là ‘trừ trung’, chết: Trừ Khí Khuyết Âm Trung Hiện, tức Khí Thiếu Dương xung hoà, lại là Vị Khí, là Bản Nhiệt Khí, tùy chỗ ‘tại’ mà tên gọi khác nhau vậy.


Tiết 333: Khuyết Âm thọ Dương Nhiệt Âm Nhiệt làm Nhiệt.
- Trước quyết lãnh sau phát sốt: trước thọ Dương Hàn, sau thọ Dương Nhiệt, ỉa chảy tất tự dứt: cớ bởi thọ Dương Nhiệt.
- Đổ mồ hôi, trong họng đau: đã thọ Âm Hàn, lại thọ Âm Nhiệt, Hầu người bệnh tất sưng tắc: cớ bởi thọ Âm Nhiệt.
- Phát sốt không mồ hôi: bệnh ở ngoài, thì ỉa chảy tự dứt: bệnh ở ngoài thì không bệnh ở trong.
- Nếu không dứt tất sẽ ỉa ra mủ máu: bệnh ở dưới.
- Tại Âm nên Hạ mà trái lại Phát Hãn: Âm tà do Hãn mà đi lên tất miệng bị thương lỡ đỏ.

Tiết 335: Khuyết Âm tại Biểu thọ Thiếu Âm.
- Quyết 5 ngày Nhiệt cũng 5 ngày: là tương ứng.
- 6 ngày đáng lẽ quyết, mà không quyết là tự khỏi: còn có Bản Nhiệt.
- Quyết rốt cục không quá 5 ngày, vì 5 ngày là ngày Thiếu Âm hành Kinh tại Ngoại, cho nên biết bệnh tự khỏi.

Tiết 336: Khuyết Âm tại Biểu thọ Thái Dương.
- Phàm Lục Kinh, mỗi Kinh hành Khí của nó để thuận tiếp nhau, Khuyết Âm không cùng với Thái Dương thuận tiếp làm nên Quyết.
- Khuyết Âm là Âm Hàn mà thọ truyền bởi Thái Dương Hàn Khí là nghịch, vì Hàn thọ Hàn cho nên lãnh.

Tiết 337: Khuyết Âm thọ Phong Hàn truyền Xung Kinh.
- Mạch Vi mà quyết: Dương Vi cho nên Âm quyết.
- 6- 7 ngày da lạnh: Thái Dương Khuyết Âm liên tiếp.
- Vật vã không lúc tạm yên: Thái Dương Thiếu Âm thay nhau làm bệnh, Khuyết Âm (ở giữa hai Kinh này) thọ chịu không có lúc dứt.
- Đấy là chứng Khuyết Âm Tạng Quyết: chứng Can Hàn, không phải chứng Vưu Quyết.
- Can Hàn truyền Xung Kinh làm Vưu Quyết, Vưu Quyết là người bệnh mửa giun, với Tạng Quyết không truyền Xung Kinh có khác.
- Nay người bệnh yên tĩnh mà lại có lúc phiền, đấy là vì Can Tạng lạnh ở dưới, do Can thọ Phong Hàn truyền Xung Kinh mà lên vào Cách cho nên phiền giây lát lại hết.
- Ăn vào thì nôn rồi lại phiền: từ Can nhập Vị, Xung Kinh bám theo Dương Minh mà đi lên.
- Giun nghe mùi đồ ăn ngoi ra, người bệnh phải mữa giun: cớ bởi dính bám Dương Minh Vỵ.
- Vưu Quyết là Xung Kinh thọ Khuyết Âm Phong Hàn truyền, dùng Ô Mai Hoàn làm chủ.
- Lại chủ chứng lợi kéo dài: có thể trị chứng lợi kéo dài của Xung Kinh, cũng có thể trị chứng lợi kéo dài của Đốc, Nhâm Kinh. Tam Kỳ Kinh vốn 1 nguồn vậy.

Tiết 338: Khuyết Âm thọ Phong Hàn truyền Nhâm Kinh.
- Sốt nhẹ Quyết ít, đầu ngón tay lạnh: truyền Nhâm Kinh tại Biểu.
- Lìm lịm không muốn ăn: truyền Nhâm Kinh tại Lý.
- Phiền táo: từ Biểu vào Lý.
- Tiểu tiện lợi sắc trắng: Bản Hàn nhập mà Bản Nhiệt trừ.
- Muốn được ăn là bệnh sẽ khỏi: Nhiệt trừ hết mà Vị Khí còn.
- Quyết mà nôn, ngực sườn đầy phiền: truyền Nhâm Kinh tại Tấu.
- Sau đó tất đi ỉa mủ máu: tại Tấu hành Huyết phần.

Tiết 339: Khuyết Âm thọ Phong Hàn truyền Đốc Kinh.
- Tay chân Quyết lãnh: truyền Đốc Kinh tại Biểu.
- Không Kết Hung: Đốc Kinh ở tại lưng (bối).
- Bụng dưới đầy ấn vào đau: chỗ hội của Đốc với Xung Nhâm.
- Lạnh Kết tại Bàng Quang, Quan Nguyên: chỗ phân kỳ (chia nhánh) của Đốc với Xung Nhâm.

Tiết 340: Khuyết Âm thọ Thiếu Âm truyền Kinh tại Lý
- Thọ Tiêu Âm thiểu mà Bản Nhiệt đa, bệnh đó đáng lý khỏi.
- 4 ngày đến 7 ngày sốt không dứt là Bản Nhiệt thái quá tất sẽ ỉa mủ máu.

Tiết 341: Khuyết Âm thọ Thái Dương truyền Kinh tại Lý.
- Thọ Tiêu Dương ít mà Bản Hàn nhiều là bệnh tiến tới.
- Dương Khí thoái thì Hàn Khí tiến vậy.


CHƯƠNG 42
KHUYẾT ÂM TỬ CHỨNG
(6 Tiết, từ 342 đến 347)
Khuyết Âm là Âm Hàn Âm Nhiệt Trung Hiện, mất chức thì Âm Dương Hàn Nhiệt không tương trợ, Âm Hàn Âm Nhiệt tiêu vong là chết.

Tiết 342: Dương Hàn nhập Lý tử chứng.
- 6- 7 ngày tay chân nghịch lãnh: Âm Hàn ra ngoài hợp với Dương Hàn.
- Phiền táo: Dương Hàn vào trong hợp với Âm Hàn.
- Cứu Khuyết Âm để làm ấm, không ấm, chứng chết vậy.
(cứu 2 huyệt Quan Nguyên, Thái Xung)


Tiết 343: Âm Dương Ngoại Vong tử chứng.
- Phát sốt: Âm Nhiệt ra ngoài.
- Ỉa chảy Quyết nghịch: Âm Hàn bức bách bên trong.
- Vật vã không nằm được: chỉ thọ Âm Hàn, chứng chết vậy!

Tiết 344: Hạ lợi vong Âm tử chứng.
- Phát sốt ỉa chảy rất nặng: Âm Nhiệt vong.
- Quyết không dứt là chết: Âm Hàn cũng vong vậy.

Tiết 345: Hãn xuất vong Dương tử chứng.
- 6- 7 ngày không đi ngoài: Dương Hàn vong.
- Bức rứt phát sốt rồi ỉa chảy: Âm Nhiệt vong.
- Đổ mồ hôi không ngừng: Âm Hàn theo đó cùng vong.

Tiết 346: Âm Dương tại Cách đều hư.
- 5- 6 ngày không Kết Hung: Âm Nhiệt hư không kết với Dương Hàn.
- Bụng mềm, mạch Hư, lại Quyết: Dương Nhiệt hư không kết với Âm Hàn.
- Không thể Hạ, đấy là vong Huyết: Âm Nhiệt Dương Nhiệt đều vong vậy.

Tiết 347: Tại Tấu Dương Hàn thực, Âm Nhiệt hư.
- Phát sốt: Dương Hàn thực.
- Mà Quyết: Âm Nhiệt hư.
- 7 ngày hạ lợi là khó trị: ngày Dương Hàn hành Kinh tại Tấu.

CHƯƠNG 43
KHUYẾT ÂM THỌ PHONG HÀN TẠI TẤU TẠI CÁCH
(10 Tiết, từ 348 đến 357)
Tấu là Bộ Vị tập trung của các Kinh Lạc Âm Dương Hàn Nhiệt, Cách cũng là nơi các Kinh Lạc hội tụ để truyền đạt lên Phế, thông ra Thốn Khẩu để hiện các chức năng của Kinh Lạc và Tạng Phủ, Cách lại cũng là nơi làm chủ của Vị Khí. Chương này luận bệnh Khuyết Âm thọ Phong Hàn tại Tấu tại Cách làm cho thấy rõ vai trò Trung Hiện của nó.

Tiết 348: Khuyết Âm tại Tấu chuyển Bản Hàn ở Ngoại
Tiêu Âm theo đó cùng ra Ngoại.
- Mạch Xúc: chuyển Bản Hàn ở Ngoại.
- Tay chân quyết nghịch: Tiêu Âm theo đó cùng ra Ngoại.
- Có thể dùng cứu: bệnh tại Ngoại.
- Cứu Thủ Túc Khuyết Âm Kinh, 2 Huyệt Nội Quan, Thái Xung.

Tiết 349: Khuyết Âm tại Tấu chuyển Bản Nhiệt ở Nội
Tiêu Dương theo đó cùng vào Nội.
- Mạch Hoạt: Bản Nhiệt tại Tấu.
- Mà Quyết: Bản Nhiệt tại Tấu nhập Lý, Tiêu Dương theo đó cùng vào, đấy là Lý có Nhiệt, Bạch Hổ thang làm chủ.

Tiết 350: Khuyết Âm thọ Thái Dương Thiếu Âm tại Tấu.
- Tay chân quyết Hàn: thọ Thái Dương tại Tấu.
- Mạch Tế muốn tuyệt: tại Tấu không Thiếu Âm.
- Âm Dương bất tương cộng là nghịch, dùng Đương Quy Tứ Nghịch thang làm chủ.
- Người bệnh bên trong có cửu Hàn: thọ Bản Hàn truyền Kinh, Khuyết Âm (Âm Hàn) là Thái Dương Bản Khí, cho nên nói ‘cửu Hàn’, dùng Đương Quy Tứ Nghịch gia Ngô Thù Du Sinh Khương thang làm chủ.

Tiết 351: Khuyết Âm thọ Thái Dương Thiếu Âm tại Tấu rồi đến Biểu.
- Ra nhiều mồ hôi, sốt không lui: thọ Thiếu Âm Tiêu Bản.
- Trong bụng co thắt, tay chân nhức: thọ Thái Dương Thiếu Âm tại Tấu.
- Lại ỉa chảy Quyết nghịch mà sợ lạnh: thọ Thái Dương tại Tấu đến Biểu.
- Dùng Tứ Nghịch thang làm chủ.

Tiết 352: Khuyết Âm thọ Thái Dương Thiếu Âm tại Tấu rồi đến Lý.
- Hãn nhiều: thọ Thiếu Âm Tiêu Bản.
- Hạ lợi nhiều: thọ Thái Dương Tiêu Bản.
- Quyết lãnh: thọ Hàn Truyền Kinh.
- Dùng Tứ Nghịch thang làm chủ.

Tiết 353: Khuyết Âm thọ Bản Hàn Bản Nhiệt tại Cách thượng.
- Tay chân quyết lãnh: Khuyết Âm bệnh thì quyết, lại thọ Dương Hàn thì lãnh.
- Mạch Sạ Khẩn: Khuyết Âm thọ Bản Hàn thì Khẩn, lại thọ Bản Nhiệt thì sạ Khẩn.
- Đấy là tà Kết ở trong ngực: Khuyết Âm là chính, thọ Hàn Nhiệt là tà.
- Dưới Tâm đầy mà phiền: thọ tại Cách.
- Đói mà không ăn được: thọ tại Cách thượng.
- Đấy là bệnh tại trong ngực: tại Cách vậy, cho Thổ nên dùng Qua Đế tán.


Tiết 354: Khuyết Âm thọ Bản Hàn Bản Nhiệt tại Cách hạ.
- Quyết: Bản Hàn thực.
- Dưới Tâm hồi hộp: Bản Nhiệt hư.
- Nên trước trị chứng thủy: trị Bản Hàn tại Cách hạ.
- Rồi trị đến chứng Quyết: trị Bản Nhiệt hư.
- Không thế thì thủy ẩm ngấm vào Vỵ thì sinh ỉa chảy: Bản Nhiệt hư thì Bản Hàn truyền Kinh vậy.

Tiết 355: Khuyết Âm thọ Bản Hàn Bản Nhiệt tại Cách.
- 6- 7 ngày: từ Biểu nhập Lý đang ở Cách phần.
- Sau khi đại Hạ: Cách Khí hư.
- Mạch Thốn Trầm mà Trì: Bản Hàn nhập Cách thì mạch Trầm.
- Nếu Bản Nhiệt tại Cách hư thì Trầm mà Trì.
- Tay chân quyết lãnh: Bản Hàn thực.
- Hạ bộ mạch không đến: Bản Nhiệt hư.
- Yết hầu không lợi nhổ ra mủ máu: Bản Nhiệt hiệp Bản Hàn cùng đi lên.
- Ỉa chảy không dứt: Bản Hàn hiệp Bản Nhiệt cùng đi xuống.
- Ma Hoàng Thăng Ma thang làm chủ.

Tiết 356: Khuyết Âm tại Cách chuyển Tiêu Dương Tiêu Âm xuống dưới.
- 4- 5 ngày: ngày Tiêu Âm hành Kinh.
- Trong bụng đau: Tiêu Âm ở dưới.
- Nếu chuyển Khí hướng xuống bụng dưới: Tiêu Âm ở dưới, Tiêu Dương theo đó xuống dưới.
- Đấy là muốn sinh ỉa chảy mà chưa ỉa: có Tiêu Dương tại Nội vậy.
Tiết 357: Khuyết Âm tại Cách chuyển Bản Hàn Bản Nhiệt lên trên.
- Vốn tự ỉa do lạnh, thầy thuốc lại cho mữa, Hàn Cách: chuyển Bản Hàn lên trên.
- Càng nghịch càng mữa ỉa, nếu ăn vào miệng liền mữa ngay: Bản Hàn đã nghịch lên trên, Bản Nhiệt cùng theo lên trên, dùng Can Khương Hoàng Cầm Hoàng Liên Nhân Sâm thang làm chủ.


CHƯƠNG 44
THỦ KHUYẾT ÂM
(12 Tiết, từ 358 đến 369)
Thủ Khuyết Âm Tâm Bào Lạc xưa nay Đông Y không rõ Tâm Bào Lạc là Tạng gì ?, có ý kiến còn nêu là màn bao tim không có chức năng. Quan điểm sai lầm này đã kéo dài làm cho Đông Y phải mai một. Chương này chẳng những xác định rõ ràng Tâm Bào Lạc thuộc Kinh Âm Nhiệt Trung Hiện (Kinh Âm Nhiệt Khí Dương Hàn), nó chính là Hệ Tuần Hoàn ngoài tim có chức năng giao tế giữa Âm Nhiệt Dương Hàn.

Tiết 358: Thủ Khuyết Âm tại Tấu thọ Âm Nhiệt.
- Tam Âm đều có chứng hạ lợi do thọ Hàn truyền Kinh, còn lại phỏng theo đó.
- Có sốt nhẹ mà khát: thọ Âm Nhiệt.
- Mạch Nhược, nay tự khỏi: không còn thọ Hàn truyền Kinh.

Tiết 359: Thủ Khuyết Âm tại Tấu thọ Dương Hàn.
- Mạch Sác có sốt nhẹ: Dương Hàn có Dương Nhiệt.
- Đổ mồ hôi nay tự khỏi: Dương Hàn giải.
- Ví như mạch lại Khẩn là chưa giải: Thương Hàn truyền Kinh vậy.

Tiết 360: Thủ Khuyết Âm tại Tấu thọ Âm Hàn.
- Tay chân quyết lãnh không có mạch (Vô mạch): Âm Hàn tại Ngoại Âm Nhiệt cũng tại Ngoại.
- Dùng phép Ôn không ấm: không Âm Nhiệt.
- Mạch không trở lại mà hơi Suyễn là thọ Âm Hàn.
- Mạch Thiếu Âm thua kém Phu Dương (Vỵ) là thuận, mà kém Âm Hàn là nghịch, cho nên chết.

Tiết 361: Thủ Khuyết Âm tại Tấu thọ Dương Nhiệt.
- Mạch Thốn trái lại Phù Sác: Dương Nhiệt hư.
- Giữa bộ Xích mạch tự Sáp: Âm Hàn Kết.
- Tất đái ỉa mủ máu: đại tiểu tiện có máu, thọ Dương Hàn truyền Kinh.

Tiết 362: Thủ Khuyết Âm tại Biểu tại Lý thọ Âm Nhiệt.
- Ỉa chảy nguyên cơm nước không tiêu: tại Lý không Âm Nhiệt.
- Không thể công Biểu, đổ mồ hôi tất trướng đầy: tại Lý Âm Nhiệt hư thì tại Biểu Dương Hàn nhập vào.

Tiết 363: Thủ Khuyết Âm tại Biểu tại Lý thọ Âm Hàn.
- Mạch Trầm, Huyền là Hạ hư: thọ Âm Hàn tại Hạ mà không có Âm Nhiệt.
- Mạch Đại là chưa dứt: thọ Âm Hàn mà có Dương Nhiệt.
- Mạch Vi Nhược Sác là muốn tự dứt: thọ Âm Hàn mà có Âm Nhiệt.
- Tuy phát sốt, không chết: Âm Nhiệt hoà Âm Hàn.

Tiết 364: Thủ Khuyết Âm tại Biểu tại Lý thọ Dương Hàn.
- Mạch Trầm: Dương Hàn nhập Lý.
- Mà Trì: tại Lý Thủ Khuyết Âm thọ phải.
- Mặt người bệnh hơi đỏ, mình có hơi nóng: Âm Nhiệt ra Biểu, Thủ Khuyết Âm thọ phải.
- Ỉa chảy nguyên cơm nước: Dương Hàn nhập Lý với Âm Hàn.
- Tất uất mạo rồi giải, bệnh nhân hơi Quyết: Âm Nhiệt xuất Biểu với Dương Hàn.
- Sở dĩ mặt hơi đỏ là vì Âm Nhiệt tại Hạ hư thì lên trên mặt gọi là ‘Đới Dương’ vậy.

Tiết 365: Thủ Khuyết Âm tại Biểu tại Lý thọ Dương Nhiệt.
- Mạch Vi mà khát: thọ Dương Nhiệt.
- Nay tự khỏi: không hiệp Dương Hàn Âm Nhiệt.
- Ví như không bớt, tất đi ngoài ra mủ máu: hiệp Âm Hàn.

Tiết 366: Thủ Khuyết Âm tại Cách với Âm Nhiệt.
- Mạch Tuyệt: tại Cách không Âm Nhiệt.
- Tay chân Quyết lãnh: tại Biểu không Âm Nhiệt.
- 24 giờ sau có mạch trở lại tay chân ấm là sống: tại Cách có Âm Nhiệt thì tại Biểu có Âm Nhiệt.
- Không có mạch trở lại là chết: tại Cách không Âm Nhiệt thì tại Lý không Âm Nhiệt.

Tiết 367: Thủ Khuyết Âm tại Cách với Âm Hàn.
- Ỉa chảy ngày mười mấy lần: tại Cách Âm Hàn Thực.
- Mạch trái lại Thực: tại Cách Âm Hàn Thực, Âm Nhiệt cũng Thực, chứng chết vậy.

Tiết 368: Thủ Khuyết Âm tại Cách với Dương Hàn.
- Hạ lợi thanh cốc: thọ Hàn truyền.
- Lý Hàn Ngoại Nhiệt: Dương Hàn tại Lý bức bách Âm Nhiệt ra ngoài.
- Mồ hôi ra mà quyết: Âm Nhiệt ra ngoài, Âm Hàn cũng ra ngoài.
- Thông Mạch Tứ Nghịch thang làm chủ.

Tiết 369: Thủ Khuyết Âm tại Cách với Dương Nhiệt.
- Dương Nhiệt gốc ở Âm Nhiệt, có thể kiêm bệnh, có thể kiêm trị.
- Thủ Khuyết Âm là Kinh Âm Nhiệt Trung Hiện mà tại Cách thọ Nhiệt, cho nên Kiết lỵ mót rặn.
- Bạch Đầu Ông thang làm chủ.


CHƯƠNG 45
TÚC KHUYẾT ÂM
(10 Tiết, từ 370 đến 379)
Túc Khuyết Âm Can là Kinh Âm Hàn Trung Hiện chủ Huyết đối giao với Kinh Túc Thiếu Dương Đởm là Kinh Dương Nhiệt Trung Hiện chủ Khí.

Tiết 370: Túc Khuyết Âm tại Biểu tại Lý thọ Bản Hàn.
- Hạ lợi, tại Lý thọ Bản Hàn tất có Tiêu Âm ứng, cho nên bụng trướng đầy.
- Tại Biểu thọ Bản Hàn tất có Bản Nhiệt ứng, cho nên mình đau nhức.
- Trước Ôn Lý nên dùng Tứ Nghịch thang: Bản Hàn giải thì Tiêu Âm giải.
- Rồi công Biểu nên dùng Quế Chi thang: Bản Hàn giải thì Bản Nhiệt giải.

Tiết 371: Túc Khuyết Âm tại Biểu tại Lý thọ Tiêu Dương.
- Hạ lợi (đi ỉa) muốn uống nước: thọ Tiêu Dương nhập Nội.
- Là vì có Nhiệt: tại Nội Bản Nhiệt ứng.
- Dùng Bạch Đầu Ông thang làm chủ.

Tiết 372: Túc Khuyết Âm tại Biểu tại Lý thọ Bản Nhiệt.
- Đi ngoài mà nói xàm: thọ Bản Nhiệt tại Lý.
- Là vì có phân táo: Tiêu Dương tại Biểu nhập vào.
- Dùng Tiểu Thừa Khí thang làm chủ.

Tiết 373: Túc Khuyết Âm tại Biểu tại Lý thọ Tiêu Âm.
- Sau khi hạ lợi lại phiền: Tiêu Âm bệnh mà Bản Nhiệt ứng theo.
- Ấn vào dưới Tâm thấy mềm là hư phiền: Tiêu Âm hư, Bản Nhiệt cũng hư.
- Chi Tử Xị thang làm chủ.

Tiết 374: Túc Khuyết Âm thọ Thiếu Âm Tiêu Bản tại Tấu.
- Ẩu gia: Khuyết Âm.
- Có ung nùng: thọ Bản Nhiệt.
- Không thể trị chứng nôn, mủ hết thì tự khỏi: không cần trị Tiêu, chú ý ở Bản.
- Túc Khuyết Âm lấy Thiếu Âm Nhiệt Khí làm Bản.

Tiết 375: Túc Khuyết Âm thọ Thái Dương Tiêu Bản tại Tấu.
- Nôn: Bản Hàn.
- Mà Mạch Nhược: Ly khai (lìa bỏ) Tiêu Dương.
- Tiểu tiện lại lợi: Bản Hàn hiệp Tiêu Âm.
- Mình có hơi nóng thấy Quyết: Bản Hàn hiệp Tiêu Âm Nhiệt.
- Khó trị: vì Bản Hàn và Tiêu Âm Nhiệt cùng bệnh.
- Tứ Nghịch thang làm chủ.

Tiết 376: Túc Khuyết Âm thọ Bản Hàn Bản Nhiệt tại Tấu.
- Nôn khan mữa bọt dãi: thọ Bản Hàn truyền.
- Đau đầu: có Bản Hàn truyền tất có Bản Nhiệt hệ.
- Ngô Thù Du thang làm chủ.

Tiết 377: Túc Khuyết Âm thọ Tiêu Dương Tiêu Âm tại Tấu.
- Nôn: thọ Tiêu Âm.
- Phát sốt: thọ Tiêu Dương.
- Dùng Tiểu Sài Hồ thang làm chủ.

Tiết 378: Thương Hàn nhất thiết các Kinh Nội Ngoại
đều thọ Khuyết Âm tại Tấu.
- Thổ mạnh, Hạ mạnh: Khuyết Âm là tận cùng của tam Âm.
- Hư cực rồi lại ra rất nhiều mồ hôi: Khuyết Âm là khởi thỉ của tam Dương.
- ‘Ngoại Khí phất uất’: Âm Nhiệt tại Nội mà ra ngoài hiệp với Dương Hàn tại Ngoại.
- Lại còn dùng nước để làm cho ra mồ hôi: Dương Hàn tại Ngoại mà vào trong hiệp với Âm Nhiệt tại Nội.
- Sở dĩ như thế, vì trong Vỵ hư lạnh: nhất thiết Kinh Nội Ngoại đều thọ Vị Khí, Vị hư do Can lạnh dẫn đến, cho nên nhất thiết Kinh liên quan với Can.

Tiết 379: Thương Hàn nhất thiết các Kinh Thượng Hạ (lên xuống)
đều thọ Khuyết Âm tại Cách.
- Ọe: Túc Khuyết Âm chuyển tam Âm từ dưới đi lên.
- Bụng đầy: Túc Khuyết Âm chuyển tam Dương từ trên đi xuống.
- Trước Khuyết Âm là tam Dương tức Dương Hàn, Dương Nhiệt bộ.
- Sau Khuyết Âm là tam Âm tức Âm Hàn, Âm Nhiệt bộ. Đấy là ‘Tứ bộ’.
- Biết được bộ nào không lợi, làm cho lợi đi thì khỏi: Tứ bộ đều thống (gồm) tại Cách, Túc Khuyết Âm Kinh. Nắm biết điều đó để cầu tìm ’Thương Hàn trị pháp’ thì ‘tất’ (xong, hết) vậy!


THIÊN 9:
KINH LẠC
(2 CHƯƠNG, 18 TIẾT)
Đức Trọng Cảnh làm sách Thương Hàn Luận không nhấn mạnh đến Kinh Lạc nhưng từ đầu đến cuối không tiết nào không nói đến Kinh Lạc rồi cuối sách dùng 2 Chương này để kết với thâm ý nhắc nhở người sau phải chú tâm đến Kinh Lạc. Cụ Lưu Thủy hiểu được điều này và phân được 2 Chương Hoắc Loạn nói về Kinh, Âm Dương Dịch nói về Lạc quả là 1 giác ngộ phi thường. Tuy nhiên, do tuân thủ sự truyền tải từ ngàn xưa, Bản Nghĩa vẫn còn xếp 2 Chương sau cùng này vào Thiên Khuyết Âm; Nhận thấy như vậy chưa được hợp lý nên người học xin phép tách 2 Chương này thành 1 Thiên mới có tên là Kinh Lạc.
Đông Y xưa nay cũng do bỏ xót tính quan trọng của Kinh Lạc nên không chịu biết Tấu là Bộ Vị hằng có nơi Nhân Thân Khí Hoá. Kinh Lạc có trật tự hành Kinh tạo ra Sinh Lý khi bình thường và Bệnh Lý khi bất thường gọi là Truyền Kinh Bệnh; Không hiểu được Lý truyền biến của bệnh tật thì không thể dùng Pháp chuyển hoá từ Bệnh Lý trở lại Sinh Lý để trị liệu hữu hiệu được.


CHƯƠNG 46
HOẮC LOẠN NÓI VỀ KINH
(11 Tiết, từ 380 đến 390)
Tại Lý, Kinh đi dọc (Tung, lên xuống); Tại Biểu, Kinh đi ngang (Hoành, ra vào). Cần lưu ý dù là Âm hoặc Dương, Kinh nào cũng trải suốt Biểu Lý nhưng cũng không thể chối bỏ việc Kinh Dương chủ Biểu, Kinh Âm chủ Lý.

Tiết 380: Tại Lý, Kinh đi lên đi xuống.
- Hoắc loạn: chứng tại Lý.
- Ói mữa mà lại ỉa: nói Kinh hành thủy, tại Lý thì đi lên đi xuống.
- Tên là Hoắc loạn.
Tiết 381: Tại Biểu, Kinh đi ra đi vào.
- Phát sốt, đầu đau, mình nhức, sợ lạnh: Biểu Kinh chứng.
- Mữa ỉa: Lý chứng.
- Tiết trên chứng Hoắc loạn Lý Kinh tại Nội, nó đi Tung.
- Tiết này chứng Hoắc loạn nêu rõ Biểu Kinh nhập Lý đi từ Hoành đến Tung.
- Từ mữa ỉa, rồi hết ỉa, trở lại phát sốt: từ Lý đến Biểu, Kinh lại đi từ Tung đến Hoành, tuần hoàn không dứt vậy!

Tiết 382: Kinh đi ra vào lên xuống có giao đại (trao đổi).
- Thương Hàn: Dương Kinh tại Ngoại.
- Mạch Vi Sáp: nhập Nội chuyển sang Âm Kinh.
- Vốn là Hoắc loạn: Âm Kinh tại Nội.
- Nay là Thương Hàn: xuất Ngoại chuyển sang Dương Kinh.
Đấy là Âm Dương Kinh ra vào trao đổi nhau.
- Đã 4- 5 ngày: Âm Kinh.
- Đến trên Âm Kinh, chuyển nhập Âm tất đi ỉa: Thủ Âm Kinh ở trên chuyển xuống Túc Âm Kinh ở dưới.
- Vốn nôn ỉa chảy là không thể trị: cớ bởi do Thủ Âm chuyển Túc Âm.
- Muốn đại tiện: Túc Kinh ở dưới.
- Trái lại chỉ trung tiện nhưng không ỉa: ở dưới Túc Kinh chuyển lên Thủ Kinh ở trên.
- Thuộc Dương Minh, đại tiện tất rắn: cớ bởi do Túc Dương chuyển Thủ Dương.
Đấy là Thủ Túc Kinh lên xuống trao đổi nhau.
- Tại Lý thì lên xuống trao đổi 6 ngày 1 chu.
Tại Biểu thì vào ra trao đổi 7 ngày 1 chu.
- 13 ngày ra vào lên xuống Kinh đi khắp hết vậy.

Tiết 383: Kinh đi ra vào lên xuống có thuận nghịch.
- Ỉa chảy: do Thủ Âm đến Túc Âm.
- Đáng lý tiện rắn: do Túc Âm đến Túc Dương.
- Rắn thì ăn được là khỏi: do Túc Dương đến Thủ Dương.
Đấy là Âm Dương Kinh lên xuống đi thuận.
- Trái lại không ăn được: do Dương đến Âm.
Đấy là Âm Dương Kinh lên xuống đi nghịch.
- Đến giữa Kinh sau hơi ăn được: Dương Kinh từ ngoài vào trong.
- Lại quá 1 Kinh ăn được: Âm Kinh từ trong ra ngoài.
- Qua đi 1 ngày là phải khỏi: Đấy là Âm Dương Kinh vào ra đi thuận.
- Không khỏi là không thuộc Dương Minh: Đấy là Âm Dương Kinh vào ra đi nghịch.

Tiết 384: Âm Dương Kinh tại Tấu Lý thống (gồm, tóm)
nơi Thái Dương Hàn Khí.
- Sợ lạnh, mạch Vi mà lại ỉa chảy: tại Tấu chư Dương Kinh thống nơi Thái Dương Hàn Khí.
- Hết ỉa chảy là vong Huyết: tại Tấu chư Âm Kinh thống nơi Thái Dương Hàn Khí.
- Tứ Nghịch gia Nhân Sâm thang làm chủ.

Tiết 385: Âm Dương Kinh tại Biểu tại Lý thống nơi Thái Dương Hàn Khí
- Hoắc loạn: Âm Dương Kinh tại Lý.
- Đầu đau phát sốt mình đau nhức: Âm Dương Kinh tại Biểu.
- Nóng nhiều muốn uống nước: chư Dương Kinh Hoắc loạn, dùng Ngũ Linh Tán làm chủ.
Lạnh nhiều không muốn uống nước: chư Âm Kinh Hoắc loạn, Lý Trung Hoàn làm chủ.
- Trên rốn có hơi xục xục: Thận Kinh có Thủy, động đến Tâm.
Bỏ Bạch Truật gia Quế: Bạch Truật không phải thuốc của Tâm Thận, dùng Quế ôn Tâm để hành thủy.
- Mữa nhiều: Bào Phế Kinh có thủy, gia Sinh Khương.
- Ỉa nhiều: Tỳ Can Kinh có thủy, dùng Truật trở lại.
- Hồi hộp: Thận Kinh có thủy, gia Phục Linh.
- Khát muốn uống nước: Tỳ Kinh có thủy, tăng dùng Truật.
- Trong bụng đau: Dương Hàn nhập Âm Nhiệt Kinh, tăng gia Nhân Sâm.
- Lạnh nhiều: Dương Hàn nhập Âm Hàn Kinh, tăng dùng Can Khương.
- Bụng đầy: Dương Hàn nhập Tam Âm Kinh, gia Phụ Tử.
- Sau khi uống húp cháo nóng: cũng như Tiểu Kiến Trung dùng Di đường, thang Quế Chi có húp cháo, đều là trợ Vị Khí để trừ Dương Hàn.

Tiết 386: Âm Dương Kinh mới đầu mắc bệnh ở Thái Dương tại Cơ Nhục.
- Thổ Tả dứt: Thái Dương tại cơ hoà, chư Âm Dương Kinh tự hoà.
- Mình đau không hết: Thái Dương tại Cơ chưa hoà.
- Nên châm chước (xem xét) Thái Dương Kinh để hoà giải bên ngoài.
- Dùng Quế Chi thang để ‘tiểu hoà’: nói Quế Chi thang hoà Thái Dương tại Cơ Nhục, chư Hàn Kinh có thể hoà, chư Nhiệt Kinh có thể ‘tiểu hoà’.

Tiết 387: Dương Hàn Kinh hành (đi) ở Bì, Cơ, Tấu, Lý.
- Thổ Tả: tại Lý Kinh.
- Đổ mồ hôi, phát sốt, sợ lạnh: tại Cơ Kinh.
- Tứ Chi co rút: tại Tấu Kinh.
- Tay chân quyết lãnh: tại Bì Kinh.
- Dùng Tứ Nghịch thang làm chủ.
Tiết 388: Âm Hàn Kinh đi ở Bì, Cơ, Tấu, Lý.
- Đã Thổ lại Tả, tiểu tiện lại lợi: tại Lý Kinh.
- Mồ hôi ra nhiều: tại Cơ Kinh.
- Ỉa nguyên cơm nước, trong lạnh ngoài nóng: tại Bì Kinh.
- Mạch Vi muốn tuyệt: tại Tấu Kinh.
- Tứ Nghịch thang làm chủ.

Tiết 389: Âm Nhiệt Kinh đi ở Biểu Lý.
- Thổ hết Tả dứt: tại Lý có Âm Hàn nhưng cũng có Âm Nhiệt.
- Đổ mồ hôi mà Quyết: tại Biểu có Âm Nhiệt nhưng cũng có Âm Hàn.
- Chân tay co quắp không giải, mạch Vi muốn tuyệt: tại Tấu Âm Nhiệt Dương Hàn không rời nhau.
- Thông Mạch Tứ Nghịch gia Trư Đởm Trấp thang làm chủ.

Tiết 390: Dương Nhiệt Kinh đi ở Bì, Cơ, Tấu, Lý.
- Thổ lợi, cho ra mồ hôi: tại Biểu tại Lý Dương Nhiệt không rời Dương Hàn.
- Mạch Bình, hơi phiền: tại Tấu Dương Nhiệt không rời Dương Hàn.
- Mới hư: Dương Nhiệt.
- Không thắng được cốc Khí: Dương Hàn.
- Tại Cơ Dương Nhiệt không rời Dương Hàn.
(Nhất thiết không rời Dương Hàn Kinh, cho nên tên sách là Thương Hàn).


CHƯƠNG 47
ÂM DƯƠNG DỊCH NÓI VỀ LẠC
(7 Tiết, từ 391 đến 397)
Đông Y xưa nay cố chấp Lạc chỉ là đường ngang nối liền 2 Kinh dọc Âm Dương Hàn Nhiệt. Cũng bởi giới hạn sức hiểu như vậy nên suốt ngàn năm nay người học Đông Y không hiểu được Tâm Bào Lạc là gì ?. Sự thật này khiến cho Đông Y không thực tế, không phù hợp khoa học và phải mai một lâu dài. Cần phải hiểu Lạc có nghĩa rộng hơn, Tâm Bào Lạc là đường đi trong mạch của Hoả Huyết từ Lý ra Biểu đối giao với đường đi ngoài mạch của Thủy Khí từ Biểu vào Lý. Chương này luận Lạc làm bệnh do Âm Dương trao đổi và cũng dùng phép trị bằng cách trao đổi Âm Dương.

Tiết 391: Âm Dương Lạc.
- Thương Hàn: Lạc tại Biểu.
- Âm Dương Dịch: Lạc tại Lý. Nói Thiếu Âm chủ Lý Lạc, chưa có thể ra ngoài mối liên quan với Thái Dương chủ Biểu Lạc.
- Mình mẩy nặng: Lạc tất y (nương tựa) theo Kinh.
- Kém hơi: Lạc tất y theo Khí.
Nói Lạc bệnh chưa có thể lìa Kinh Khí.
- Bụng dưới gò thắt: do Bàng Quang Lạc chuyển nhập Thận Lạc, gọi là Âm Dương Dịch.
- Hoặc dẫn đến bộ sinh dục co rút: Thận Lạc nối liền Nhâm Lạc.
- Khí xung lên ngực: Thận Lạc liền với Xung Lạc.
- Đầu nặng không muốn cất lên, trong mắt sinh hoa: Thận Lạc liền với Đốc Lạc thượng phần.
- Chân gối co quắp: Thận Lạc liền với Đốc Lạc hạ phần.
- Thiêu Côn Tán làm chủ:
. Tiểu tiện lợi giải: Kinh giải Lạc tự giải.
. Đầu Âm hơi sưng thì khỏi: Thận Lạc giải chư Lạc giải.
. Đàn bà đàn ông lấy đũng quần của người khác phái đốt uống: Âm Dương Dịch vậy.

Tiết 392: Thiếu Âm Nhiệt Lạc thọ Hàn tại Tấu.
- Bệnh nặng mới khỏi: Thiếu Âm Bệnh tại Tấu đã khỏi.
- Làm lụng mệt nhọc mà bệnh trở lại: Thiếu Âm Lạc tại Tấu chưa khỏi.
Dùng Chỉ Thực Chi Tử Xị thang làm chủ.
- Nếu có túc thực gia Đại Hoàng: Thái Dương Lạc tại Tấu kiêm bệnh vậy.

Tiết 393: Thái Dương Hàn Lạc thọ Nhiệt tại Tấu.
- Thương Hàn mới khỏi: Thái Dương Lạc bệnh tại Ngoại đã khỏi.
- Lại phát sốt: tại Tấu Lạc chưa khỏi.
- Dùng Tiểu Sài Hồ thang làm chủ.

Tiết 394: Thiếu Âm Nhiệt Lạc thọ Hàn tại Đái.
- Bệnh nặng mới khỏi: Thiếu Âm bệnh.
- Từ eo lưng trở xuống có Thủy Khí: chuyển sang Thái Dương Hàn Lạc.
- Mẫu Lệ Trạch Tả Tán làm chủ: nguyên do của Cổ trướng, Ung trướng vậy.

Tiết 395: Thiếu Âm Nhiệt Lạc thọ Hàn tại Cách.
- Hay khạc nhổ lâu ngày không khỏi: trên Cách Nhiệt Lạc chuyển Hàn.
- Nên dùng Lý Trung Hoàn: đấy là nguyên do của Ế cách, Ung nuy vậy..

Tiết 396: Thái Dương Hàn Lạc thọ Nhiệt tại Cách.
- Thương Hàn giải rồi: Thái Dương giải.
- Gầy yếu kém hơi, Khí nghịch muốn mữa: chuyển sang Thiếu Âm Nhiệt Lạc.
- Dùng Trúc Diệp Thạch Cao thang làm chủ.

Tiết 397: Thái Dương Hàn Lạc thọ Nhiệt tại Đái.
- Mạch đã giải: Bệnh không ở Cách.
- Mà sớm chiều hơi phiền: Bệnh còn ở Đái.
- Bệnh mới khỏi: Thái Dương khỏi.
- Tỳ Vị Khí còn yếu: Thiếu Âm Nhiệt Khí còn kém.
- Không thể tiêu cơm cho nên hơi phiền: Hàn Khí vẫn còn.
- Giảm ăn thì khỏi: Khiến cho Hàn Khí không còn chỗ dựa núp.

          Duisburg Lương y.Nguyễn xuân Cương st..

Thêm bình luận


Mã an ninh
Làm tươi

6335931
Hôm nay
Hôm qua
Tháng này
Tháng trước
Tổng số
589
4486
103833
138003
6335931