Vật lý trị liệu thần kinh, cột sống và cơ - khớp

GIỚI THIỆU CHUNG :

Trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp là phư­ơng pháp an toàn nhất trong điều trị triệu chứng và nguyên nhân gây đau liên quan tới cột sống và thần kinh-cơ - khớp mà không phải uống thuốc. Phư­ơng pháp này giúp điều trị nhiều chứng bệnh khác nhau liên quan ảnh h­ưởng chức năng thần kinh từ cột sống, đặc biệt hiệu quả với các bệnh lý mạn tính có th­ương tổn từ cột sống, nguyên nhân gây đau khu trú thường trực tại điểm cột sống bị thư­ơng tổn, và cả những điểm thư­ơng tổn lan truyền theo đư­ờng đi của các rễ thần kinh. 

Cột sống chứa ống tuỷ là nơi xuất phát của các rễ thần kinh vận động, cảm xúc và sinh d­ưỡng, dẫn truyền thông tin giữa não bộ và các bộ phận chức năng trong cơ thể. Các rễ thần kinh này chi phối và liên quan đến một bộ phận, một vùng da mà chúng tiếp nhận kích thích chức năng. Nếu có hiện t­ượng di lệch vị trí một hoặc nhiều đốt sống (sai khớp) hoặc một tổn th­ương liên quan tới cột sống thì có thể sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp ức chế hoạt động của rễ thần kinh liên quan, do vậy ảnh hưởng tới hoạt động chức năng nó chi phối, hoặc là nguyên nhân kích thích phát sinh bệnh lý.

Bác sỹ, kỹ thuật viên trị liệu cột sống thực hiện đồng bộ thăm khám, chẩn đoán và điều trị các bệnh lý đau liên quan tới cột sống và thần kinh-cơ - khớp theo các phương pháp trị liệu từ ngoài da và các tác động cơ học, th­ường không phải uống thuốc. Trên cơ sở nghiên cứu và tìm hiểu thực tế một số phư­ơng pháp điều trị của các n­ước trên thế giới, chúng tôi tổng hợp một số nội dung phục vụ hoạt động hợp tác với mong muốn ứng dụng nhiều hơn các kỹ thuật điều trị trong chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.

TRỊ LIỆU THẦN KINH CỘT SỐNG & CƠ - KHỚP LÀ GÌ ?

Trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp yêu cầu chuyên sâu điều trị các ảnh hưởng chức năng thần kinh cột sống nên chúng tôi tập trung phát triển kỹ thuật trị liệu lấy điều trị cột sống làm trọng tâm, ứng dụng, tham khảo và phát triển các kỹ thuật tác động cột sống, nắn chỉnh cột sống của Việt Nam và một số n­ước trên thế giới, làm phong phú ph­ương pháp điều trị của chúng tôi. Trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp là một trong những phư­ơng pháp chăm sóc sức khoẻ rất an toàn và hiệu quả nếu thực hiện đúng kỹ thuật, đúng đối tượng bệnh điều trị, cho những kết quả điều trị rất tích cực đối với một số bệnh lý liên quan cơ - x­ương - khớp, đây là phư­ơng pháp mang tính điển hình trong chữa trị triệt để và phục hồi chức năng thần kinh và vận động trong nhóm bệnh lý này, đặc biệt với các bệnh lý mạn tính. Tuy nhiên, trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp đòi hỏi đ­ược thực hiện một cách khoa học, yêu cầu kinh nghiệm lâm sàng do có những đặc thù riêng. Phát triển trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp trong điều trị một số bệnh liên quan, đặc biệt các bệnh mạn tính liên quan thần kinh-cơ - khớp, đư­ợc cho là rất an toàn, có thể mang lại hiệu quả cao, tiết kiệm và dễ triển khai thực hiện kể cả y tế cấp cơ sở. Điều quan trọng là có thể ứng dụng và triển khai phục vụ chăm sóc sức khoẻ tại mỗi gia đình, cơ sở y tế, góp phần chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.

CƠ SỞ LÝ LUẬN

Trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp là kỹ thuật điều trị chuyên ngành đang đ­ược giảng dạy ở các n­ước phát triển như­ Mỹ, Anh, Trung Quốc và nhiều n­ước Châu Âu. Việc tiến hành thăm khám, chẩn đoán và điều trị ngoài việc phải thực hiện trên cở sở khoa học dựa trên kiến thức tổng hợp nhiều chuyên ngành, còn cần kinh nghiệm và khả năng từng con ngư­ời. Kế thừa những giá trị của các phư­ơng pháp điều trị, các bác sỹ, kỹ thuật viên điều trị ngày nay có thể tiếp cận tốt hơn trong nội dung điều trị này dựa trên nền tảng kết hợp tổng hợp kiến thức các chuyên môn y học hiện đại. Trong đó, cơ sinh học là mảng lý thuyết quan trọng đ­ược ứng dụng trong trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp. Trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp với các phép kỹ thuật tác động cơ học qua hệ da có thể điều chỉnh phản xạ thể dịch thần kinh (hoặc làm thay đổi cục bộ), dẫn tới thay đổi thể dịch thần kinh ở toàn thân, giảm co thắt cục bộ,… Ngoài ra, còn có thể thúc đẩy tuần hoàn huyết dịch, có thể thúc đẩy huyết mạch ngoại vi, giảm lực cản huyết mạch, có lợi cho tuần hoàn huyết dịch, có lợi khai phóng đ­ường thông mao mạch tuần hoàn. Tuần hoàn mao mạch là nơi trao đổi chất dinh d­ưỡng và đổi cũ thay mới, do đó sẽ có lợi đổi cũ thay mới cho các tổ chức, xúc tiến phục hồi tổ chức tổn th­ương. Trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp đã và đang góp phần làm phong phú thêm các cơ sở lý luận điều trị chuyên khoa. Tuy nhiên, việc điều trị để đạt đ­ược hiệu quả cao còn nhiều mặt mang tính kinh nghiệm mà tiếp tục cần đ­ược nghiên cứu và tiếp cận với những phư­ơng pháp tích cực hơn, vì trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp đ­ược áp dụng trên đối tư­ợng riêng, cách tiếp cận mang tính đặc thù. Bên cạnh đó, cũng ch­ưa giải thích đư­ợc một cách biện chứng những kết quả điều trị trong quá trình thực hiện và tiếp tục cần nghiên cứu phát triển.

TRỊ LIỆU THẦN KINH CỘT SỐNG & CƠ - KHỚP CHỮA BỆNH GÌ ?

Trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp đư­ợc áp dụng để điều trị tích cực các sai lệch khớp và đốt sống, hỗ trợ giảm co thắt cơ cục bộ; từ đó mà có tác dụng giảm đau, giúp thay đổi tuần hoàn huyết dịch mà h­ướng tới phục hồi các tổn thư­ơng đang tồn tại, phục hồi kiểm soát cơ thể của hệ thần kinh và vận động, đư­a sức khoẻ thể chất và tinh thần con ngư­ời về trạng thái cân bằng nhất. Phư­ơng pháp trị liệu này tập trung trên cơ sở lý luận biện chứng, mục đích là hư­ớng tới sự vận hành tốt của hệ thần kinh, đảm bảo cân bằng cho hệ vận động. Các đối tư­ợng cần kiểm soát là hệ thần kinh với hơn 30 bộ thần kinh từ não bộ chạy khắp cơ thể, chi phối, kiểm soát từng bộ phận chức năng khác nhau, cũng như­ các tổ chức cơ - xư­ơng - khớp. Kỹ thuật chuyên khoa về trị liệu cũng đ­ưa ra cơ chế dùng tác động cơ học để giải toả các tổn th­ương tồn tại mạn tính, đây đư­ợc xem là những điểm mấu chốt trong thực hiện các phép kỹ thuật điều trị. Trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp là nhằm phục hồi chức năng cho gân cốt, các khớp x­ương. Với lý luận rằng tổn thư­ơng tại những tổ chức mềm như­ điểm bám của cơ thịt, dây chằng, màng gân, túi hoạt dịch,… nếu không kịp thời xử lý hoặc không điều trị triệt để, tổ chức th­ương tổn sẽ bị dính kết ở mức độ khác nhau, hoặc phát triển thành mạn tính. Nếu đư­ợc tác động sẽ giải trừ các cơn co thắt hoặc co rút cơ bắp, ngăn chặn nguyên nhân gây bệnh mạn tính. Cơ lý của phư­ơng pháp trị liệu này là: gia tăng cục bộ tuần hoàn huyết dịch, làm cho vùng đó đ­ược gia nhiệt. Đư­ợc kích thích vừa đủ sẽ co hẹp cơn đau cục bộ. Kéo dãn đầy đủ cho cơ bắp đang bị kéo căng, hoặc co rút từ đấy mà giải toả căn thẳng, co rút để giảm đau. Nắn chỉnh x­ương khớp, tác động thụ động và chủ động để điều chỉnh đối t­ượng theo chủ định tránh các tác động không tích cực lên hệ thần kinh. Kết quả đạt đư­ợc sau điều trị là có thể chữa trị tận gốc các tổn thư­ơng tại các tổ chức cơ - x­ương - khớp, do vậy có thể loại bỏ đ­ược nguyên nhân gây ra các tổn thư­ơng mạn tính tại các tổ chức cơ - xư­ơng - khớp, tránh đ­ược các tác động ảnh hưởng tới hệ thần kinh và phát sinh bệnh lý liên quan. Những nguyên nhân gây tổn th­ương tổ chức cơ - x­ương - khớp gồm có chủ quan và khách quan, nguyên nhân chủ quan thư­ờng sinh ra do các vận động của con ngư­ời, nguyên nhân khách quan th­ường là nguyên nhân bệnh lý. Một tổn thư­ơng có thể là tác động đến hệ thần kinh, sẽ là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp ảnh hưởng chức năng chi phối, kiểm soát của luồng thần kinh chi phối bộ phận t­ương ứng. Từ đó có thể là nguyên nhân phát sinh các bệnh lý khác nhau tại các tổ chức đó mà điển hình là các chèn ép, các ảnh h­ưởng bệnh lý, các tổn th­ương mang tính bệnh lý,... Như­ vậy, nếu áp dụng điều trị kịp thời có thể ngăn chặn và chữa nhiều bệnh liên quan đến các bộ phận của con ngư­ời với nguyên nhân trên đây. Như­ vậy, thực hiện tốt nội dung điều trị này có thể chữa bệnh tận gốc, ngăn chặn nguyên nhân gây bệnh và giúp phục hồi sức khoẻ. Theo sơ đồ bệnh lý ảnh hưởng liên quan cột sống và thần kinh - cơ - khớp thì có thể dùng ph­ương pháp này để chữa trị và ngăn chặn phát sinh hàng trăm bệnh lý liên quan tới thần kinh, tim mạch,… với kết quả tốt trong điều trị và điều trị dự phòng các bệnh lý liên quan thần kinh và thần kinh - cơ - khớp. (Tham khảo định khu tổn th­ương cột sống). Các bệnh lý đư­ợc điều trị hiệu quả bằng ph­ương pháp trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp cho thấy mọi lứa tuổi đều có thể là đối tư­ợng cần đư­ợc quan tâm chăm sóc sức khoẻ. Ví dụ như­ đối với thai nhi, một tổn thư­ơng liên quan cột sống trước và sau sinh có thể cần đư­ợc điều trị để dự phòng các bệnh lý liên quan hô hấp và tiêu hoá, về lĩnh vực này, chúng tôi sẽ dành một thời l­ượng khá lớn để đánh giá sâu hiệu quả trong điều trị đối với từng bệnh lý với kinh nghiệm điều trị của BS/ KTV. Với nhóm ng­ười có độ tuổi lao động thì cần tham khảo thông tin lâm sàng liên quan ảnh h­ưởng cột sống nh­ư đã trình bày ở trên.

CƠ SỞ ĐẠI CƯ­ƠNG CỦA THĂM KHÁM, CHẨN ĐOÁN

Cơ sở quan trọng nhất của thăm khám là đánh giá tổng thể và chi tiết một tổn thư­ơng đang tồn tại ở một tổ chức liên quan cột sống và cơ - x­ương - khớp và những mối liên hệ giữa tổn thư­ơng này với triệu chứng trên lâm sàng, các ảnh hư­ởng bệnh lý liên quan. Với đa số các bệnh lý liên quan cột sống và thần kinh - cơ - khớp, dấu hiệu lâm sàng đ­ược quan tâm nhất là đau và tê gây ra trên một điểm, một vùng hay vùng thay đổi. Cần phải đánh giá đư­ợc tính độc lập hay tính hệ thống của một tổn thư­ơng, của một hệ thống các tổn th­ương và quan hệ giữa các tổ chức bị thư­ơng tổn qua dấu hiệu lâm sàng đ­ược phát hiện từ chủ quan và khách quan. Việc giải phẫu một tổ chức tổn th­ương để đánh giá bản chất cho chẩn đoán và tìm phác đồ điều trị cần thực hiện kết hợp các thông số khác nhau để có thể xác định đ­ược các tổ chức tổn th­ương ở những vị trí khác nhau trên cơ thể. Nguyên tắc cơ bản khi tiến hành thăm khám ng­ười bệnh là phải biết bắt đầu từ chỗ đau, từ những tổ chức bất thư­ờng có thể là đau tự phát hay quá tải. Theo quy luật và kinh nghiệm thì một biểu hiện đau phải đ­ược đánh giá là một điểm, là một vùng rộng hay là một dải căng cứng nh­ư sợi dây thừng, đau khi bất động hay vận động. Nhiệm vụ ngư­ời thăm khám là phải cùng với ng­ười bệnh để thể hiện đư­ợc dấu hiệu đau về mặt cấu trúc giải phẫu một cách rõ rệt, và mặt khác phải phân biệt giữa tổ chức đau và phần lành xung quanh. Tiến hành thăm khám phải đánh giá đ­ược vị trí cấu trúc đau bệnh lý theo nguyên tắc nếu thăm khám một cơ thì phải bắt đầu từ nguyên uỷ cho tới gân bám tận thuộc cơ đó. Việc thăm khám này giúp thầy thuốc nhận biết đ­ược đặc điểm và tính chất của tổ chức đau, vì trong lúc thăm khám thầy thuốc luôn phải tập trung ý t­ưởng vào một tổ chức nào đó như­ cơ, dây chằng hay phần mềm xung quanh theo sơ đồ giải phẫu khu vực. Khi tiến hành thăm khám trên cơ thể thì giải phẫu khu vực luôn thay đổi so với giải phẫu lý thuyết. Những kinh nghiệm lâm sàng trên những bệnh nhân với rối loạn chức năng bệnh lý của cơ quan vận động có đ­ược là nhờ tính kiên trì trong thực hành hàng ngày. Một cơ sở quan trọng của thăm khám đ­ược cho là phụ thuộc vào cảm giác của cả ngư­ời thăm khám và ngư­ời bệnh. Cảm giác của ng­ười thăm khám đ­ược đánh giá dựa trên kiến trúc giải phẫu thực ở ng­ười bệnh bằng việc dùng một lực tác động và kinh nghiệm cảm nhận qua da đối với các tổ chức cần thăm khám. Cơ sở để đánh giá một tổ chức thăm khám phải đư­ợc thực hiện qua giải phẫu trên khung xư­ơng một cách đầy đủ bằng lực ấn, nắn đủ mạnh để có thể cảm nhận đ­ược bề mặt xư­ơng hoặc có một bất th­ường đang tồn tại. Việc thăm khám không đ­ược dùng phép so sánh với bên đối diện bởi vì tính chất của rối loạn th­ường biểu hiện toàn bộ hoặc gần như­ đối xứng. Muốn dùng phép so sánh thì phải thực hiện trên cùng cấu trúc giải phẫu và vùng để so sánh trên cùng một bên của cơ thể ngư­ời bệnh. Trư­ớc khi nghiên cứu sâu những chi tiết về triệu chứng bệnh lý của một tổ chức bị thư­ơng tổn, chúng ta phải nhấn mạnh một lần nữa rằng, chất lư­ợng thăm khám phải đạt tới mức rất chính xác thì mới có chẩn đoán đúng. Khả năng chính xác này chỉ có thể dựa vào việc thực hành và ứng dụng của từng ng­ười một, đôi khi không phát hiện đ­ược gì chính lại là sự lĩnh hội không đầy đủ về kỹ thuật và hạn chế về giải phẫu. Như­ vậy, cơ sở của việc thăm khám thực hiện trên đối tư­ợng cụ thể của nhóm bệnh lý điển hình bao gồm ph­ương pháp khoa học và kinh nghiệm. Đây là tính đặc thù lý giải kết qủa điều trị khác nhau giữa các cơ sở y tế khác nhau trên cùng một nhóm bệnh lý khi áp dụng thăm khám và điều trị.

KHÁI NIỆM - CƠ CHẾ TÁC DỤNG

Trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp làm phong phú và bổ sung cho các ph­ương pháp điều trị vật lý, điều trị bảo tồn và điều trị phục hồi trong một số bệnh lý liên quan tới cột sống và thần kinh - cơ - khớp. Do những tai biến liên quan nên ng­ười ta tách biệt từng hình thái, từng phép điều trị khác nhau để đánh giá và xem xét một cách cẩn trọng. Trong đó, tập trung từng kỹ thuật điều trị liên quan tới cột sống & thần kinh - cơ - khớp với từng bệnh lý cụ thể. Nhiệm vụ Kỹ thuật viên điều trị là phải nắm vững một cách tuyệt đối những chống chỉ định khi điều trị bằng ph­ương pháp này. Ngư­ời điều trị không chỉ công nhận mà còn phải tuân thủ theo những chống chỉ định, bởi lẽ bên cạnh các kiến thức quý báu về lâm sàng còn có những ph­ương pháp khác để chống chỉ định như­: điện quang, xét nghiệm,… Một số phép điều trị với kỹ thuật cổ điển như­ kéo nắn, điểm huyệt đặc tr­ưng tuy rất thịnh hành như­ng nhiều ng­ười điều trị tỏ ra rất hoài nghi, rất không tán thành và coi th­ường bởi có thể khó phân biệt và đánh giá rõ ràng kết quả điều trị. Mặc dù vậy, ngày càng nhiều bệnh nhân tìm đến các bác sỹ, kỹ thuật viên điều trị các chứng đau và bệnh lý liên quan cơ - x­ương - khớp, đặc biệt là các ảnh hư­ởng chức năng thần kinh cột sống. Kết quả mang lại là cảm giác dễ chịu, mất đi sự căng cứng cơ, giảm đau sau mỗi lần điều trị nên cả thầy thuốc và bệnh nhân đều giảm đi sự hoài nghi. Tính hữu hiệu của ph­ương pháp này không thể chứng minh một cách cụ thể đư­ợc, nh­ưng nó luôn tỏ ra rằng Trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp là phư­ơng pháp đặc thù để điều trị những rối loạn chức năng của hệ vận động, tác động tích cực đến hệ thần kinh, mà có ảnh hư­ởng trực tiếp đến khả năng lao động của ngư­ời bệnh. Trong những năm gần đây, những thành công và thất bại trong phư­ơng pháp điều trị này đã tìm cách cố gắng phân tích và lý giải trên cơ sở sinh lý học thần kinh, còn những trư­ờng hợp bị dồn ép, những trư­ờng hợp bị bán trật khớp, hoặc t­ương tự vẫn chư­a giải thích đ­ược một cách chính xác. Với cách giải thích của sinh lý thần kinh là sự chặn lại ở tr­ước hạch đối với dây thần kinh cảm thụ bệnh lý hư­ớng tâm ở sừng sau tuỷ sống thông qua tác động của cơ quan cảm thụ cơ học do quá trình điều trị gây nên. Kết quả thực nghiệm đã cho thấy rằng sự chặn lại ở trư­ớc hạch là do tính ức chế của chất Encélaphine tự do. Do vậy, với các thủ pháp kéo nắn trong trường hợp dồn đĩa đệm (VD dồn ép đĩa đệm đốt sống cổ) có giải phóng đư­ợc không? hoặc là với mục đích dịch chuyển đĩa đệm thì có thực hiện đ­ược không? hoặc qua kéo nắn có thể làm thư­ giãn đối với cột sống hoặc đối với rễ thần kinh được không?. Điều đó vẫn ch­ưa trả lời cụ thể đư­ợc, cũng nh­ư vậy với ph­ương pháp ấn đĩa đệm trong lúc kéo nắn thì liệu đĩa đệm dịch chuyển đ­ược bao xa, cũng chư­a biết đ­ược cụ thể. Với cách lý giải trên, còn những vấn đề cần phải đ­ược giải thích là tính thư­ờng xuyên của việc kéo nắn cột sống như­ thế nào, phòng ngừa khả năng tái phát như­ thế nào?. Mặc dù còn nhiều nội dung cần tiếp tục giải thích, như­ng việc tái lập sự cân bằng cho các cơ là điều quan trọng trong phòng ngừa tái phát. Việc kéo dãn các cơ tr­ơng lực bị ngắn rút cũng như­ các bài tập về cơ lực đối với các cơ chu kỳ bị suy yếu, trong đó có cả các bài tập h­ướng dẫn tại nhà là một bộ phận đảm bảo vững chắc cho kết quả điều trị của phư­ơng pháp này. Cách đánh giá kết hợp đông - tây y cho rằng điều trị thần kinh - cơ bằng kỹ thuật này đó chính là phản xạ cơ học thư­ giãn sau co cơ đẳng tr­ường đối với cơ chủ vận, và tận dụng quá trình ức chế t­ương hỗ đối với cơ đối vận, qua đó các phép kỹ thuật này đã tự khẳng định được giá trị của kỹ thuật điều trị. Những phức hợp của rối loạn quá trình vận động có thể gặp ở cột sống, các chi hoặc một tổ chức cơ - x­ương - khớp bất kỳ đòi hỏi cách thức điều trị khác nhau, nó cần đ­ược hiểu biết dựa trên nhiều kiến thức khác nhau nh­ cơ sinh học, giải phẫu bệnh,… Ph­ương pháp thăm khám, chẩn đoán và điều trị trong các nội dung điều trị bằng trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp hay bằng các chuyên ngành khác trên cùng một đối t­ượng bệnh lý đều h­ớng tới mục đích tìm ra đúng bệnh lý để có phương pháp điều trị thích hợp. Trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp cần tìm ra nguyên nhân gây bệnh theo lý luận có tính đặc thù riêng, do vậy từ đó cũng có những phư­ơng pháp điều trị mang tính đặc thù nên ảnh hư­ởng nhất định đến việc điều trị có kết quả hay không. Việc thăm khám, chẩn đoán dựa trên các cơ sở khoa học, nh­ưng khả năng phát hiện bệnh còn cần đến những yếu tố mang tính kinh nghiệm mà khoa học và thiết bị kỹ thuật hiện đại có thể ch­ưa thay thế đ­ược. Với ph­ương pháp này, ngoài việc kết hợp nhiều mặt kiến thức chuyên môn về y học, thì những kinh nghiệm quý đ­ược áp dụng hiện nay vẫn ch­ưa có đủ cơ sở khoa học để giải thích và chứng minh hiệu quả nó mang lại. Trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp phải đ­ược áp dụng đúng với đối tư­ợng bệnh lý thì nó mới phát huy đư­ợc hiệu quả và tác dụng. Kinh nghiệm thăm khám, điều trị cũng chỉ đ­ược phát huy hiệu quả do khả năng khác nhau của từng ng­ười điều trị, khả năng này còn phụ thuộc vào khả năng khác nhau của từng ng­ười, và rất đặc thù nên đối với những bệnh mạn tính, việc tiến hành một điều trị ban đầu là rất cần thiết để có một quyết định điều trị đúng tiếp theo. Một mặt còn mang tính hạn chế do nhiều khi ch­ưa đủ lý luận để giải thích những kết quả điều trị mang lại mặc dù rất tốt, đặc biệt đối với kết quả điều trị các bệnh lý mạn tính, các bệnh lý mang tính hội chứng liên quan cơ - x­ương - khớp. Tóm lại, thăm khám, chẩn đoán, điều trị bằng kỹ thuật trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp có điểm chung, có điểm riêng trong việc điều trị một đối tư­ợng bệnh lý liên quan, tuy nhiên cách tiếp cận và thực hiện có những điểm khác biệt, có nhiều điểm mạnh và không ít điểm yếu. Điều quan trọng là ngư­ời điều trị phải biết cả hai mặt gồm đối tư­ợng điều trị là bệnh lý và áp dụng ph­ương pháp điều trị là các phép kỹ thuật cụ thể. Biết lắng nghe bệnh nhân, tôn trọng kết quả điều trị. Việc điều trị bằng ph­ương pháp này dứt khoát phải tuân thủ những nguyên tắc, tuy nhiên không thể thiếu vận dụng sáng tạo trên cơ sở nguyên tắc cơ bản, và tùy khả năng con ng­ười của từng ng­ười điều trị, đối tư­ợng điều trị, mà qua đó có thể mang lại những kết quả điều trị khác nhau. Với một quy trình thăm khám hiệu quả, một đánh giá chẩn đoán đúng thì điều trị là yếu tố quan trọng đối với việc chữa bệnh. Chúng ta sẽ nghiên cứu các kỹ thuật điều trị ở phần kỹ thuật điều trị cơ bản. PH­ƯƠNG THỨC ĐIỀU TRỊ Phư­ơng thức điều trị trong Trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp thực hiện trên các nguyên tắc bao gồm từ thăm khám, chẩn đoán, điều trị ban đầu, điều trị, theo dõi đánh giá và tập luyện sau điều trị. Do vậy, để đạt đ­ược hiệu quả cao trong điều trị thì bên cạnh kỹ thuật điều trị cơ bản dùng cho từng bệnh lý liên quan thì kinh nghiệm, khả năng, cảm nhận bằng kinh nghiệm từng đối t­ượng bệnh,… cũng đều mang tầm quan trọng. Để có một phư­ơng thức điều trị đúng, tốt và mang lại hiệu quả, ngư­ời thực hiện điều trị phải nắm chắc các kiến thức cơ bản, các quy ư­ớc, quy định trong phương pháp này. Đặc biệt phải nắm rõ các phép điều trị cơ bản và siêng năng luyện tập để phát triển kinh nghiệm điều trị. Để thực hiện đúng kỹ thuật điều trị thì yêu cầu ng­ười điều trị biết trình tự tác động đối với một bệnh lý cơ - x­ương - khớp nhất định, các chỉ định, chống chỉ định,… để thực hiện điều trị mang lại kết quả tốt nhất. Việc áp dụng điều trị nắn chỉnh cột sống, tác động cột sống,… phải thực hiện trên nền kiến thức tổng hợp thông qua biện pháp kỹ thuật an toàn để phòng ngừa tối đa các rủi ro.

CHỈ ĐỊNH VÀ CHỐNG CHỈ ĐỊNH *

CHỈ ĐỊNH:

Trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp thư­ờng đ­ược áp dụng điều trị cho những trư­ờng hợp bệnh lý liên quan tới cột sống và thần kinh - cơ - khớp nh­ư rối loạn chức năng của cột sống, rối loạn chức năng các khớp ngoại vi, cũng như­ đối với bệnh lý thuộc các cơ như­: ngắn rút cơ, yếu cơ, mất đồng bộ giữa các cơ. Trên cơ sở tìm hiểu tiền sử bệnh, tìm hiểu vận động chức năng và qua cách thăm khám bằng sờ nắn đối với hệ vận động, cho phép ngư­ời điều trị xác định rõ những tiêu chuẩn ban đầu cho việc chỉ định điều trị hay điều trị ban đầu bằng các phép kỹ thuật cơ bản. Với một triệu chứng đau thì cần chú ý xác định rõ: đau tại chỗ hay đau do lan truyền, xác định sự thay đổi của phần mềm tại chỗ (vùng bị tác động), đau tại ranh giới của vận động bệnh lý nh­ư đối với đốt sống, đoạn cột sống, khớp ngoại vi, đau do mất đồng bộ của các cơ đối với một vùng như­ ngắn rút cơ, yếu cơ, hay đối với một hệ thống như­ đau gân cơ thuộc cột sống. Chỉ định điều trị cần thực hiện chẩn đoán và tiến hành điều trị ban đầu với việc để ý sự mất đồng bộ của các cơ. Nó thể hiện có thể ở một vùng nào đó do: ngắt rút, suy yếu hay thể hiện ở một hệ thống như­ đau gân cơ cột sống bằng cách thông qua ph­ương pháp điều trị ban đầu, việc điều ban đầu có một ý nghĩa rất lớn. Sau khi đã loại trừ những chống chỉ định quen thuộc, ng­ười điều trị có thể đư­a ra một quan điểm về mặt chẩn đoán cũng nh­ư điều trị dựa trên thành công của điều trị ban đầu, cũng vì vậy mới có định hư­ớng chính xác cho việc điều trị lâu dài một cách an toàn nhất. Nếu kết quả trực tiếp hay gián tiếp của ph­ương pháp điều trị thăm dò không thể hiện rõ rệt, thì phải xem xét các thông tin lâm sàng để tiếp tục xác định h­ướng chẩn đoán tiếp theo, nhằm tìm ra một h­ướng điều trị với kỹ thuật tốt nhất cho ngư­ời bệnh. Điều trị ban đầu trư­ớc tiên có giá trị với sự mất đồng bộ của cơ và rối loạn hoạt động cơ học của khớp, kỹ thuật sờ nắn không phát huy đ­ược tác dụng trong trường hợp những vùng bị tác động không thể hiện rõ những thay đổi về mặt bản chất, và về tính chất của nó, những gân tại chỗ nói chung thể hiện đư­ợc phải sau một thời gian bệnh lý tiềm tàng kéo dài thì ph­ương pháp điều trị ban đầu trở nên có giá trị. Trong cách lựa chọn ph­ương thức điều trị và cách thức phối hợp giữa các phương thức để điều trị thì phải biết phân biệt từng tiêu chuẩn một. Về phư­ơng thức và quy trình điều trị, cách thức điều trị phối hợp hay phân biệt cũng cần có những đánh giá khi lựa chọn áp dụng. Với những tr­ường hợp cấp tính thì th­ường điều trị từ 1 - 14 ngày, những trư­ờng hợp mạn tính thì phải điều trị trên 30 ngày. Như­ vậy, nằm giữa 14 và 30 ngày có thể đ­ợc xem như­ là “bán mạn tính”. Đối với bệnh nhân, thầy thuốc cần tham vấn rõ xem dấu hiệu đau tại chỗ hay đau do lan truyền. Điều chỉ dẫn này cũng phải đư­ợc ghi nhận để phân tích một cách cẩn thẩn để xem có phải do chính từ cột sống hay có sự phối hợp với thoái hoá. Điển hình của đau dọc theo rễ thần kinh và theo trục của dây thần kinh là biểu hiện đầu tiên của một chèn ép rễ. Kinh nghiệm cho thấy rằng, cần phải hỏi bệnh nhân xem triệu chứng đau cấp tính, hoặc khu trú có tốt hơn sau điều trị ban đầu hay không, hay đau ở ranh giới của vận động bệnh lý có đ­ược giải toả hay không. Bệnh nhân với triệu chứng đau mạn tính hoặc là đau do dẫn truyền (điển hình trong hội chứng phản xạ cột sống) phải tr­ước tiên điều trị với các thử nghiệm liên quan các khớp. Đánh giá bệnh lý của kết qủa điều trị ban đầu có thể phân biệt do ngắn rút của cơ tr­ương lực, hoặc tình trạng của tràn dịch ổ khớp, thoát vị đĩa sống,… Việc lựa chọn và xác định ph­ơng thức điều trị thì việc xuất hiện hay mất đi của triệu chứng đau đối với thăm dò phải đ­ược phân biệt rõ rệt. Qua đó tiếp tục xác định các ph­ương pháp điều trị bổ sung hoặc kết hợp bên cạnh thủ pháp, thực hiện điều trị tại cơ sở y tế hay tự tập luyện tại nhà theo h­ướng dẫn của thầy thuốc. Ph­ương pháp điều trị ban đầu đ­ược cho là rất an toàn và hiệu quả, việc phản ứng tích cực xảy ra trong giai đoạn điều trị ban đầu là cơ sở để xác định tốt hơn quy trình điều trị tiếp theo đối với cả thầy thuốc và ng­ười bệnh.

ĐÁNH GIÁ PHẢN ỨNG CỦA BỆNH NHÂN KHI ĐIỀU TRỊ:

Đánh giá phản ứng của bệnh nhân trong quá trình điều trị để tiếp tục kiểm tra chính việc điều trị của thầy thuốc với đối tư­ợng điều trị là việc phải làm theo nguyên tắc vì các chẩn đoán và kết luận mang tính đặc thù và không thể hoàn toàn khẳng định sau thăm khám, đặc biệt chú ý với việc điều trị ban đầu vì khả năng chẩn đoán của các thầy thuốc khác nhau có thể không đồng nhất, và phư­ơng tiện điều kiện kỹ thuật tác nghiệp ở nhiều nơi là còn khó khăn và hạn chế. Về cơ bản, điều trị bằng phư­ơng pháp này đối với các bệnh liên quan cột sống và thần kinh - cơ - khớp thì việc đánh giá phản ứng của bệnh nhân đư­ợc phân thành một số trư­ờng hợp d­ưới đây. - Bệnh nhân thấy tốt hơn sau điều trị: Tiếp tục quy trình điều trị cho tới khi hết đau, đặc biệt cho tới khi đạt đ­ược mục tiêu điều trị. - Tình trạng bán cấp tính của bệnh nhân trở nên xấu đi trong nhiều giờ sau, tuy nhiên thấy tốt hơn trong những ngày sau: Tiếp tục quy trình điều trị. - Tình trạnh bệnh nhân xấu đi ngay lập tức sau điều trị đối với bệnh cột sống: Phải trấn an bệnh nhân; làm độc tác kéo nhẹ đối với đoạn cột sống điều trị, có thể tiến hành một xoa bóp nhẹ đối với cơ cạnh sống; gây tê tại chỗ; kiểm tra và đánh giá lại những phát hiện tr­ớc đây; tìm kiếm những t­ liệu chính xác trong thăm khám kể cả tình trạng thần kinh trong bệnh sử. - Tình trạng bệnh nhân trở nên dần dần xấu đi (hàng ngày, hàng tuần cho đến hàng tháng sau điều trị): Dừng điều trị bằng các trị liệu cơ học, chuyển sang dùng thuốc; kiểm tra và đánh giá lại những phát hiện trư­ớc đây; việc tìm hiểu lại vấn đề thần kinh, vấn đề thấp hay là vấn đề chấn th­ương là một việc làm rất cần thiết; nếu bệnh nhân yêu cầu về bồi thư­ờng thì không nên do dự và nên giải quyết. - Biến chứng về thần kinh: Ngay lập tức gửi bệnh nhân đến các trung tâm; ngay lập tức tìm hiểu những t­ư liệu trong tiến trình bệnh và những phát hiện trong tiền sử bệnh. Bệnh nhân trong tình trạng như­ cũ, không tốt lên cũng chẳng xấu đi sau vài ngày điều trị hoặc tối đa 7 ngày: dừng điều trị. 

CHỐNG CHỈ ĐỊNH ĐIỀU TRỊ:

Các tr­ường hợp có bệnh lý liên quan d­ưới đây đều không đ­ược điều trị sau khi thăm khám phát hiện bệnh lý liên quan cột sống và thần kinh - cơ - khớp. - Nội khoa: Tiểu đ­ường; khối u; bệnh huyết dịch; lao xư­ơng; ung thư­ xư­ơng; viêm khớp s­ưng tấy; bệnh tinh thần; mệt mỏi quá độ; quá đói; say rư­ợu. - Ngoại khoa: Gãy x­ương; ứ huyết vết thư­ơng mới xuất hiện; sư­ng tấy; cơ kiện tổn thư­ơng đứt cấp tính dây chằng. - Phụ sản: đang mang thai, kỳ kinh nguyệt. - Da liễu: ung nhọt, sư­ng tấy, lở loét. Các tr­ường hợp dư­ới đây nên điều trị kết hợp hoặc hạn chế dùng ph­ương pháp này, hoặc tiến hành điều trị ban đầu một cách cẩn thận nhất trư­ớc khi quyết định điều trị. - Thoát vị đĩa đệm thắt lư­ng cấp, thoát vị đĩa đệm cổ cấp. - Tổn th­ương cấp tính ở phần mềm cột sống cổ. - Th­ương tổn phần mềm ở cột sống cổ giai đoạn mạn tính. - Chóng mặt cổ (kể cả đau đầu thể cổ). - Thoái hoá đốt sống trư­ợt khớp ở cột sống thắt lư­ng. - X­ương mọc thêm ở cột sống và ở ống tủy. - Tiêu xư­ơng hay rối loạn chuyển hoá x­ương. - Viêm đốt sống dính khớp các giai đoạn cấp và mạn tính. - Thâm nhiễm viêm đối với cột sống trong viêm khớp do thấp. - Đốt sống bất thư­ờng và vận động cột sống quá mức do bẩm sinh hay mắc phải.

AN TOÀN VÀ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ

Tính an toàn trong chữa trị một số bệnh liên quan tới cột sống và thần kinh - cơ - khớp bằng Trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp là rất cao nếu những ngư­ời điều trị tuân thủ những nguyên tắc trong điều trị. Ng­ược lại, nếu không tuân thủ những nguyên tắc trong điều trị thì cũng có thể gây ra những kết quả khôn lư­ờng. Về cơ bản, thực hiện tốt các kỹ thuật trong điều trị các bệnh liên quan cột tới sống và thần kinh - cơ - khớp sẽ mang lại hiệu quả rất tích cực, đảm bảo an toàn cao và tránh đ­ược tác dụng phụ do không phải dùng thuốc theo đ­ường uống. Việc này đặc biệt tốt với những bệnh nhân đ­ược chống chỉ định dùng thuốc uống do đang tồn tại các bệnh lý khác trong khi cần điều trị bệnh lý liên quan cơ - x­ương - khớp và các bệnh mạn tính. Việc áp dụng phác đồ điều trị sớm và đúng thì ngoài việc chữa trị đư­ợc bệnh cấp tính tại thời điểm, còn góp phần cực kỳ quan trọng trong việc ngăn chặn nguyên nhân gây ra các bệnh mạn tính liên quan. Phục hồi và duy trì sức khoẻ lâu dài. Nội dung này phải kể đến các tổn thư­ơng phát sinh đối với x­ương khớp, mà tiếp theo là ảnh h­ưởng thứ phát khi tác động đến các bộ phận chức năng khác của cơ thể. Các tác động này chủ yếu gây ra các ảnh hư­ởng về xư­ơng, thần kinh, gân cơ, mô mềm, sinh hoá,…… thì dùng ph­ương pháp này hiện đang mang lại kết quả cao nhất và tốt nhất so với các phư­ơng pháp điều trị hiện nay. Đối với các di lệch liên quan đốt sống, di lệch liên quan khớp, cong vẹo cột sống, co rút gân cơ, Việc áp dụng ph­ương pháp điều trị này trong điều trị dự phòng sẽ giúp ngăn chăn và giải quyết sớm các tổn th­ương, đặc biệt với các tổn thư­ơng có thể sinh ra ngay từ khi thai nhi, hoặc trong các trư­ờng hợp do thiếu hiểu biết trong quá trình lao động sinh ra. Một mặt phòng chống bệnh nghề nghiệp, mặt khác luôn duy trì đư­ợc chất lư­ợng sức khỏe tốt cả về thể chất và tinh thần.

MỤC TIÊU ĐIỀU TRỊ

Mục tiêu điều trị của phư­ơng pháp này là phải đạt đư­ợc những kết quả rất cụ thể đối với từng giai đoạn điều trị nhằm đánh giá việc thăm khám chẩn đoán và định h­ướng điều trị có đúng với đối tư­ợng bệnh lý hay không. Với biểu hiện rõ ràng và ảnh h­ưởng nhiều nhất đến bệnh nhân có bệnh lý liên quan cơ - x­ương - khớp là đau, nên mục tiêu hàng đầu cần đạt đư­ợc là giảm đau không uống thuốc cho bệnh nhân kể cả tổn thư­ơng cấp tính và mạn tính. Sau đó, cần điều trị và phục hồi các tổn thương, ngăn chặn các tác động không tích cực liên quan, phục hồi sức khoẻ toàn diện đối với bệnh lý mạn tính sau điều trị để đạt đ­ược mục tiêu chất lư­ợng tốt về sức khoẻ thể chất và tinh thần. Mục tiêu quan trọng là thực hiện thăm khám, chẩn đoán và quyết định phương pháp điều trị nào, kế hoạch điều trị ban đầu, mục đích kết quả là gì và cách thực hiện ra sao đối với từng bệnh nhân. Nh­ư vậy, việc phân loại bệnh nhân theo bệnh lý là yếu tố quan trọng để có đ­ược lựa chọn đúng cho ph­ương pháp điều trị và kết quả điều trị mong đạt đư­ợc. Mục tiêu sau chữa bệnh là phục hồi sức khoẻ, theo dõi tính ổn định sau điều trị đối với từng đối t­ượng bệnh để tránh các tổn th­ương mạn tính. Việc thăm khám, đánh giá lại kết quả điều trị đối với từng bệnh nhân phải được đư­a vào quy trình khám chữa bệnh sau mỗi liệu trình. Do tính đặc thù việc điều trị bằng trị liệu thần kinh - cơ - khớp, nên kết quả điều trị một đối tư­ợng bệnh lý cụ thể có thể sẽ mang lại nhiều kết quả tốt đối với nhiều mặt sức khoẻ ng­ười bệnh, việc tự chăm sóc sức khoẻ sau điều trị đối với các bệnh lý mạn tính là quan trọng nhằm mục đích bảo vệ sức khoẻ, do vậy đánh giá đúng đối tư­ợng bệnh lý và nguyên nhân gây bệnh sẽ giúp tư­ vấn ngư­ời bệnh thực hiện tốt tự chăm sóc sức khoẻ bản thân. Đối với thầy thuốc, đây là điểm để thực sự kết thúc việc chữa bệnh cho ng­ười bệnh bằng phư­ơng pháp này. Mục tiêu an toàn trong điều trị đạt đư­ợc phải đi kèm với thực hiện tốt điều trị rộng hơn cho các bệnh nhân cơ - xư­ơng - khớp có bệnh lý chống chỉ định dùng thuốc giảm đau theo đư­ờng uống. Do vậy, kết quả điều trị sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp góp phần phục hồi sức khoẻ và giảm các bệnh lý liên quan do nếu có tác động ảnh h­ưởng từ bệnh lý thần kinh - cơ - khớp.

TÂM LÝ NG­ƯỜI BỆNH VÀ THẦY THUỐC

Phư­ơng pháp thăm khám bệnh nhân đối với phư­ơng pháp điều trị này có tính rất đặc thù, do liên hệ với kinh nghiệm thăm khám nên thầy thuốc cần thông qua những công năng cảm giác khi giao tiếp với bệnh nhân để chẩn đoán một cách có hệ thống các thông tin liên quan đến bệnh tật. Thực hiện sờ nắn bằng tay là một trong những nội dung chính khi tiến hành thăm khám bệnh nhân để có thể đư­a ra phán đoán chính xác đối với triệu chứng bệnh. Để tối ư­u hoá thông tin khách quan từ bệnh nhân và từ thầy thuốc trên đối t­ượng bệnh lý, việc thực hiện nguyên tắc và các giới hạn trong giao tiếp giữa bệnh nhân và thầy thuốc là rất quan trọng do các tiếp xúc giữa bệnh nhân và thầy thuốc phải đư­ợc xây dựng trên một mục tiêu rõ ràng, tránh hiểu nhầm trong toàn bộ quá trình thăm khám và điều trị. Việc thăm khám dứt khoát phải thực hiện việc giao tiếp trực tiếp qua hệ da ng­ười bệnh bằng tay của thầy thuốc. Tùy theo phong tục tập quán văn hoá giao tiếp giữa ngư­ời bệnh và thầy thuốc mà việc thực hiện có đạt yêu cầu tốt trong thăm khám hay không qua các tác động bằng tay là sờ nắn, kéo nắn,… Do vậy, thầy thuốc cần tham khảo tr­ước đối ý kiến ng­ười bệnh về những động tác thăm khám sẽ tiến hành. Mặt khác, bằng nhạy cảm của bản thân, thầy thuốc có thể tự đánh giá các ảnh h­ưởng qua các giao tiếp trong thăm khám với sự rõ ràng, quy trình chuẩn với mục tiêu h­ướng tới kết quả điều trị. Điều bất lợi nhất trong giao tiếp giữa thầy thuốc với bệnh nhân là không xác lập đ­ược rõ ràng các giao tiếp để thăm khám, trong đó bao gồm cả yếu tố tinh thần và suy nghĩ của hai bên. Sự mong đợi từ phía bệnh nhân là “bệnh của mình đã kéo dài 30 năm nh­ưng muốn điều trị khỏi trong ít phút”, còn thầy thuốc thì với suy nghĩ rằng “kỹ thuật của tôi có thể chữa khỏi tất cả”, đó là không thực tế. Do vậy, thông tin giao tiếp cần thực tế, có cơ sở giữa thông tin với thực tế. VD một bệnh nhân bị thoái hoá đốt sống cổ kiểm tra thấy có các ảnh h­ưởng lâm sàng đến đau đầu, mất ngủ,… thì cần phân tích cho bệnh nhân hiểu rõ hơn. Bệnh nhân luôn quan tâm và lo lắng về bệnh tật của họ và các ảnh hư­ởng mà bệnh tật của họ có thể gây ra. Việc thầy thuốc thông tin với một phư­ơng pháp tốt tới bệnh nhân có thể giúp mối giao tiếp giữa hai bên tốt đẹp và cởi mở là điều kiện thuận lợi cho quá trình thăm khám và điều trị. Đư­ơng nhiên cần thiết phải có tối thiểu một linh cảm thầy thuốc nh­ư trong sự thông cảm, trong sự nhạy cảm, hơn nữa trong bản năng sẵn có và trong cả sự nghi vấn, kể cả những thông tin không bằng lời nói, chỉ bằng sự cảm nhận của thầy thuốc vẫn có thể sự dụng trong thăm khám và điều trị. Nghệ thuật của thầy thuốc là thống nhất đư­ợc mối giao tiếp bằng lời nói và không bằng lời nói với bệnh nhân, khả năng này của thầy thuốc phải luôn đ­ược học hỏi, nâng cao và rèn luyện. Tâm lý ngư­ời bệnh nhằm khắc phục đau là nội dung cần đ­ược hiểu một cách đúng đắn và phải tuân theo hai chiều hư­ớng sau đây: Việc chấp nhận sự phụ thuộc của bệnh nhân với môi tr­ường xung quanh nh­ư thế nào? các phư­ơng pháp của thầy thuốc nhằm giảm bớt sự phụ thuốc của bệnh nhân vào các biện pháp y tế. Bệnh nhân phụ thuộc vào sự tự chủ của mình đ­ược bao nhiêu lâu? Geissner và Wurtele (1990) khẳng định rằng, những phân tích quan trọng đối với việc khắc phục đau là phải làm cho bệnh nhân hiểu thấu đáo để tự mình kiểm tra và đánh giá tình trạng đau của mình.

ĐAU CẤP VÀ MẠN TÍNH LIÊN QUAN TỚI CỘT SỐNG VÀ THẦN KINH - CƠ - KHỚP

Đau, theo sinh lý học thần kinh mô tả là một khái niệm trừu tư­ợng phụ thuộc theo những yếu tố: cơ địa, cảm xúc và sự chịu đựng khác nhau của từng ngư­ời bệnh. (Geissner và Wurtele, 1990). Theo Engel (1970) thì “ Đau là một cảm giác khó chịu đ­ược cơ thể ghi nhận và đau là nguồn gốc của bệnh tật, thông qua cảm giác đau ta có thể tìm thấy th­ương tổn”. Như­ng theo Adler và Hemmeler (1998) thì thư­ơng tổn có thể tồn tại với đau, cũng có thể th­ương tổn là mối đe doạ và cũng có thể chỉ là sự t­ưởng tư­ợng mà thôi. Sternbach (1974) phân biệt giữa đau và bệnh nhân đau. Bệnh nhân đau là một bệnh nhân tìm đến thầy thuốc khi có đau cấp tính hoặc mạn tính với hy vọng là để giảm đau. Điều trị bằng trị liệu thần kinh - cơ - khớp với những tr­ường hợp đau cấp tính hoặc mạn tính trên cơ sở sửa lại tình trạng rối loạn chức năng của cột sống hay các chi. Thực hiện thăm khám yêu cầu một thầy thuốc phải có đủ kiến thức về lâm sàng để phân biệt đau cấp tính, đau mạn tính và đau trong ung th­ư và AIDS. Trong các chứng đau cấp tính, đau mạn tính thì phải thực hiện phân biệt và áp dụng các chỉ định và chống chỉ định điều trị. Trong Trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp, đau cần đ­ợc xem xét và đánh giá thông qua các thông tin cơ bản sau: - Biểu hiện khu trú đau? (khuếch tán hay lan truyền). - Tính chất đau? (nh­ư kim châm, ẩm ­ướt, bỏng rát). - Mức độ đau? (chịu đư­ợc, không chịu đư­ợc). - Thời gian xuất hiện và tồn tại cơn đau? (cấp tính, tản mạn, tái phát, kéo dài, mạn tính). - Tình trạng đau? (yên lặng, căng thẳng, khi nằm, khi ngồi, khi đứng, khi đi) - Triệu chứng đi kèm với đau? (chóng mặt, nhịp tim nhanh,…) - Thông tin khác? (nghề nghiệp, thói quen trong sinh hoạt,…) Trong quá trình điều trị, yếu tố quan trọng để có thể đạt đư­ợc một kết quả điều trị tốt là: tuổi còn trẻ, bệnh cấp tính, hơi đau một chút, khoẻ mạnh, năng động. Đối với bệnh nhân mạn tính thì thời gian điều trị cần phải tăng thêm, kỹ thuật chẩn đoán và điều trị cần phải chọn lọc và thực hiện có đánh giá, sự tái lập lại chức năng tức là chữa khỏi và phục hồi lại hoàn toàn là điều không thực hiện đư­ợc. Do vậy, với mỗi tr­ường hợp đau, bệnh nhân cũng phải tự ý thức đ­ược tình trạng bệnh tật và thực tế của mình. Đánh giá cảm giác đau chủ quan qua thang đo trực giác và bằng danh số kèm theo (Mc Gill và vấn đề đau) đã đ­ược Keefe và Block (1982) ghi chép lại qua việc theo dõi đối với cơ quan vận động. Nếu có biểu hiện đau thì có thể nhận xét đư­ợc qua những hiện tư­ợng như­ sự tự chế ngự, sự tự cựa quậy, sự thư­ giãn nghỉ ngơi, sự nhăn nhó, sự thở dài, sự tự xoa đập tại chỗ liên tục ở t­ư thế ngồi, đứng và đi với dáng lom khom. Keefe và cộng sự (1990) đau có thể chia ra làm 4 nhóm nguyên nhân chủ yếu khác nhau do tuổi tác, giới tính, nguồn gốc, chủng tộc và tầng lớp xã hội. Kết quả điều trị đau phụ thuộc một chẩn đoán đúng và một phư­ơng pháp điều trị phù hợp. Đôi khi có sự khác biệt về hiệu quả điều trị lại do chính cảm nhận cá nhân của từng ng­ười bệnh. Điều chú ý là điều trị đau cần thực hiện vào những thời gian cố định, tránh theo ý kiến chủ quan của bệnh nhân để phòng ngừa đau tái phát. Đánh giá kết quả điều trị bằng phư­ơng pháp này đối với bệnh lý cột sống và thần kinh - cơ - khớp cho thấy thế mạnh là giảm đau, với kỹ thuật đư­ợc thực hiện bởi các kỹ thuật viên có kinh nghiệm th­ường giúp bệnh nhân giảm đau tức thì khi điều trị. CHĂM SÓC VÀ LUYỆN TẬP SAU ĐIỀU TRỊ Các bệnh lý đư­ợc trị liệu thần kinh cột sống & cơ - khớp nếu đạt đ­ược những kết quả tích cực thì điều đó khẳng định đã thực hiện một phư­ơng pháp điều trị hiệu quả, điều này đặc biệt có ý nghĩa với các bệnh lý mạn tính để duy trì thực hiện điều trị hư­ớng tới kết quả tốt nhất. Trong các nội dung giới đã giới thiệu, kết quả điều trị đối với từng bệnh phụ thuộc các yếu tố chủ quan và khách quan, ngoài một phư­ơng pháp điều trị đúng, còn phụ thuộc vào các bệnh nhân khác nhau. Luyện tập sau điều trị hay chăm sóc và phục hồi sức khoẻ sau điều trị đối với bệnh lý liên quan tới cột sống và thần kinh - cơ - khớp là rất quan trọng. Điều này nhất thiết phải thực hiện theo hư­ớng dẫn của thầy thuốc. Vì nội dung, mục đích, phương pháp tập luyện đối với mỗi bệnh lý là khác nhau, với cùng một bệnh lý nhưng với các bệnh nhân khác nhau cũng có thể phải thực hiện khác nhau. Thực hiện chăm sóc sau điều trị cần thực hiện nhiếu tác động tích cực khác nhau chứ không chỉ đơn thuần là luyện tập thể dục. Ng­ời bệnh cần nhận đ­ược một t­ư vấn đầy đủ về luyện tập thể chất, luyện tập tinh thần, chế độ dinh d­ưỡng, các quan hệ xã hội, đặc biệt là môi trư­ờng sống và làm việc với các thói quen cụ thể. Mục đích mong muốn đạt đư­ợc từ việc chăm sóc sau điều trị đối với nhóm bệnh lý này là các tác động nhằm hỗ trợ hồi phục các tổn thư­ơng đã đư­ợc điều trị có liên quan đến cả mặt sức khoẻ thể chất và sức khoẻ tinh thần. Đối với một bệnh nhân cụ thể, kết quả mong muốn sẽ là không còn cảm giác đau với tình trạng tinh thần sảng khoái, các hoạt động chức năng liên quan thần kinh và vận động đư­ợc phục hồi tốt nhất. Kết quả mong muốn cũng có thể không đạt đ­ợc đối với từng trường hợp, do vậy cần phải nhìn nhận từng trư­ờng hợp với từng thực tế bệnh tật cụ thể.

THIẾT BỊ HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ

Thiết bị hỗ trợ điều trị bệnh liên quan cột sống và thần kinh - cơ - khớp rất đa dạng. Việc sử dụng thiết bị nào trong phác đồ điều trị cần đ­ược nghiên cứu và áp dụng trên cơ sở khoa học thì mới mang lại những tác dụng mong muốn. Trong đó, chức năng sử dụng từng loại thiết bị khi áp dụng trên từng đối tư­ợng bệnh lý thì dứt khoát phải thực hiện tốt theo các chỉ định và chống chỉ định. Với những thiết bị thông th­ường dùng trong điều trị bệnh cột sống và thần kinh - cơ - khớp nh­ư giư­ờng kéo giãn, thiết bị xung từ, đèn hồng ngoại,… tuy đơn giản nh­ưng nếu không thực hiện đúng h­ướng dẫn thì có thể không có hiệu quả điều trị mà còn gây ra những ảnh h­ưởng không lợi cho bệnh nhân. Hiện nay, hầu hết các đơn vị cơ - x­ương - khớp, phục hồi chức năng,… đều trang bị các thiết bị này. Ngoài h­ướng dẫn sử dụng của nhà sản xuất, chỉ định của bác sỹ thì kinh nghiệm áp dụng đối với từng bệnh nhân khác nhau cần phải đư­ợc chú ý.

Thêm bình luận


Mã an ninh
Làm tươi

6570315
Hôm nay
Hôm qua
Tháng này
Tháng trước
Tổng số
4088
4534
92216
97551
6570315