ẤN QUANG ÐẠI SƯ GIA NGÔN LỤC

SakyAmuniBuddha273


PHẦN I
LỜI TỰA
      Pháp môn Tịnh Ðộ lý cực cao sâu, sự cực giản dị. Do vậy,
ngƣời thiên tƣ thông mẫn, tri kiến cao siêu thƣờng xem Tịnh Ðộ
là pháp tu của bọn ngu phu, ngu phụ, chẳng chịu tu trì. Nào biết
đây là pháp môn rốt ráo để mƣời phƣơng tam thế hết thảy chƣ
Phật, trên thành Phật đạo, dƣới độ chúng sanh, thành thỉ, thành


chung. Họ thấy kẻ ngu phu, ngu phụ tu đƣợc pháp này bèn coi
thƣờng, sao chẳng xét trong hội Hoa Nghiêm, bậc đã chứng
bằng với Phổ Hiền, bằng với chƣ Phật, vẫn phải dùng mƣời đại
nguyện vƣơng hồi hƣớng vãng sanh Tây Phƣơng Cực Lạc ngõ
hầu viên mãn Phật Quả? Miệt thị pháp môn Tịnh Ðộ chẳng chịu
tu là coi những vị trong hội Hoa Nghiêm thuộc hạng ngƣời gì?
Chỗ quy tông cuối cùng của kinh Hoa Nghiêm có đáng nên tôn
trọng hay nên coi thƣờng đây?
      [Có thái độ nhƣ vậy] không có gì khác hơn là do chƣa xét kỹ
nguyên do của từng pháp môn thông thƣờng và đặc biệt, cũng
nhƣ tự lực, Phật lực, đại, tiểu, khó, dễ, nên mới đến nỗi nhƣ thế.
Nếu đã xét kỹ, há chẳng học đòi Hoa Nghiêm Hải Chúng, nhất trí
tiến hành cùng cầu vãng sanh ƣ? Ấn Quang tôi từ lúc búi tóc đọc
sách, nhiễm ngay phải cái độc bài Phật của Hàn, Âu, Trình, Chu,
may là không có đƣợc cái tài nhƣ Hàn, Âu, Trình, Chu. Nếu nhƣ
có đƣợc chút tài nhƣ họ, ắt sẽ tự mình lầm, khiến ngƣời lầm,
thân còn sống mà đã hãm trong địa ngục A Tỳ mất rồi. Từ năm
mƣời bốn, mƣời lăm tuổi về sau, bệnh nặng nhiều năm. Từ đấy
chiêm nghiệm khắp xƣa nay, xem kỹ kinh sách, mới hay những
thuyết do Hàn, Âu, Trình, Chu lập đó đều là những tri kiến quẩn
quanh ngoài cửa ngõ, tuyệt chẳng đạt đến những sự huyền áo
trong nhà.                                                                            2
Nhƣợc quan (1) đƣợc một năm, tôi liền xuất gia làm
Tăng, chuyên tu Tịnh nghiệp. Thề trọn một đời này làm một kẻ tự
tu, chẳng lập môn đình, rộng thâu đồ chúng đến nỗi con cháu đời
sau làm Phật pháp bại hoại, kéo cả Ấn Quang tôi vào trong địa
ngục A Tỳ chịu khổ với chúng. Ðến năm Quang Tự 19 (Quý Tỵ -
1893), hòa thƣợng Hóa Văn chùa Pháp Vũ ở Phổ Ðà Sơn lên
kinh đô thỉnh Ðại Tạng Kinh, nhờ tôi coi sóc việc ấn loát. Xong
việc, Hòa Thƣợng mời tôi cùng về núi. Biết tôi chẳng thích tham
gia Tăng sự, Ngài cho tôi ở riêng một liêu, tùy ý tu trì. Ðến nay đã
hơn ba mƣơi lăm năm rồi. Ở núi lâu ngày, có việc phải dùng đến
bút mực viết lách, tuyệt chẳng dùng đến tên gọi Ấn Quang. Ngay
cả những văn tự cần phải ký tên, cũng chỉ tùy tiện viết hai chữ là
xong. Vì thế trong hai mƣơi năm qua, không có ngƣời khách nào
đến thăm, cũng không có thƣ từ qua lại làm phiền.
      Năm đầu Dân Quốc (1911), cƣ sĩ Cao Hạc Niên đem mấy
thiên văn cảo đăng trên Phật Học Tùng Báo, chẳng dám dùng
tên Ấn Quang, mà dùng tên Ấn Quang thƣờng tự xƣng là
Thƣờng Tàm Quý Tăng. Vì thế, ký tên là Thƣờng Tàm. Cƣ sĩ Từ
Uất Nhƣ và Châu Mạnh Do tƣởng lầm là Kiến Thƣờng, nghe nói
[lầm nhƣ vậy] cả ba bốn năm chẳng hề  biết. Sau Mạnh Do lên
núi bái yết, xin quy y, đem mấy thiên bản cảo tệ hại gởi cho Uất
Nhƣ, đƣa in ở kinh đô, đặt tên là Ấn Quang Pháp Sƣ Văn Sao
khiến cho văn tôi gai mắt khắp mọi ngƣời cao nhã nên càng thêm
hổ thẹn.
Năm Dân Quốc thứ bảy, thứ tám (1918-1919), họ lại lôi ra thêm
mấy thiên nữa, soạn thành sách Tục Biên, in chung với cuốn Sơ
Biên. Năm Dân Quốc thứ chín, giao cho Thƣợng Hải Thƣơng Vụ
Ấn Thƣ Quán sắp chữ thành hai cuốn để làm bản lƣu. Mùa Xuân
năm Dân Quốc thứ 10, sách in xong. Quang tôi lại  qua Dƣơng
Châu, đem bản sắp chữ năm Dân Quốc thứ 9 khắc thành một
bản, chia làm bốn cuốn. Năm Dân Quốc thứ 11, lại giao cho
Thƣơng Vụ Ấn Thƣ Quán in thành bốn cuốn. Khi ấy, các cƣ sĩ
chỉ yêu cầu in hai vạn bộ, nhƣng đến khi Thƣơng Vụ Ấn Thƣ
Quán in xong, gởi ra bán, số ấy vẫn chẳng đủ!                                                                            3
Mùa Ðông năm Dân Quốc thứ 14 (1925), lại giao cho
Trung Hoa Thƣ Cục in bản tăng quảng (bản mở rộng – do thêm
vào những bài mới), cũng chia thành bốn cuốn, dày hơn lần in
trƣớc một trăm tờ. Mùa Hạ năm nay in sách, do phong trào công
nhân đấu tranh, giá in rất cao, chỉ in đƣợc hai ngàn bản. Bản gốc
đã đem đánh máy ra thành bốn bản sao thì nhà in giữ lại hai bản,
trả về cho Quang hai bản. Tôi bèn giao cho Hàng Châu Chiết
Giang Ấn Loát Công Ty in trƣớc một vạn bản, sau đó sẽ in tiếp.
Một nhân duyên tình cờ nữa là cƣ sĩ Viên Tịnh Lý Vinh Tƣờng
trong mấy năm qua, chuyên tâm học Phật, đối với luận Khởi Tín,
kinh Lăng Nghiêm, kinh Viên Giác đều viết sớ giải. Quang bảo:
“Ngƣời thanh niên nên thiết thực dụng công niệm Phật trƣớc đã,
đến khi nghiệp tiêu trí rạng, chƣớng tận, phƣớc dày rồi sẽ lại
phát huy, tự có thể xiển minh Phật ý truyền khắp vũ trụ”. Khi ấy,
ông Lý chẳng chịu là đúng. Sau vì dụng tâm quá độ, tinh thần,
thân thể mỗi ngày một suy, mới hay lời tôi nói chẳng sai.
Ông bèn đọc kỹ Văn Sao, hoan hỷ khôn xiết nên trích lục những
nghĩa trọng yếu, chia thành từng môn, từng loại, soạn thành một
cuốn, tính dùng giấy in báo in một ngàn cuốn để đáp ứng nhu
cầu cần đọc ngay của độc giả. Tháng Năm, ông đến thƣa chuyện
cùng Quang, rồi cùng vợ thọ quy y. Tháng Tám sách in ra, chẳng
lâu sau sách đƣợc thỉnh hết. Thƣ yêu cầu nƣờm nƣợp gởi tới, tôi
bèn bảo giám ngục Tào Hà Kinh sắp đặt việc in sách. Cƣ sĩ Trần
Ðịch Châu xin đảm nhiệm việc trình bày, cũng nhƣ chịu phí tổn
đánh máy bốn bản sao. Ông lại chịu tiền in hai ngàn bản, một lúc
bỏ ra gần hai vạn.
Với xuất xứ của mỗi câu trong bản này, thuộc quyển nào, trang
nào, ông Lý đều ghi kỹ để ngƣời đọc có thể đối chiếu với quyển
Văn Sao. Do chỉ chép lấy những nghĩa trọng yếu trong các bài
văn, xếp vào một loại nên trong mỗi thể loại, ý nghĩa [từng đoạn
trích] khá giống nhau, nhƣng tôi chẳng lƣợc bớt đi, ngõ hầu
ngƣời đọc đƣợc khuyên đi, khuyên lại nhiều lần sẽ đoạn ngay
đƣợc lòng nghi, phát sanh lòng tin. Xuất xứ từ quyển nào, trang                                                                             4
số mấy đều dựa theo cách đánh số trong bản Tăng
Quảng Văn Sao để làm bản lƣu thông vĩnh viễn, sau này không
phải in lại nữa.
      Lại vì Văn Sao ý nhiều, nghĩa lắm, có lẽ kẻ sơ cơ khó lòng
phân biệt, hiểu rõ dễ dàng đƣợc, nên tôi thuận theo cơ nghi,
muốn cho họ  trƣớc hết thấy đƣợc những điều trọng yếu của
pháp môn, từ đấy sẽ thiết thực tấn tu, tự đạt đến chỗ cùng cực,
khỏi phải đến nỗi nhìn biển than dài hoặc đến nỗi lui sụt. Nhân
đây, chép cả mục lục cuốn Văn Sao Tuyển Ðộc Biên vào sau
mục lục cuốn Gia Ngôn Lục  để ngƣời chƣa từng nghiên cứu
Phật học dễ theo dõi. Tôi trình bày duyên do nhƣ thế để mong
ngƣời đọc đều biết rõ.
Nguyện ngƣời thấy, ngƣời nghe đừng cho lời tôi nói là tầm
thƣờng, quê mùa rồi bỏ qua, chỉ toan cầu lấy điều cao thâm,
huyền diệu. Ðạo của Nghiêu Thuấn chỉ là hiếu đễ mà thôi. Ðạo
của Nhƣ Lai chỉ là Giới - Ðịnh - Huệ. Thực hành đƣợc việc tầm
thƣờng, quê mùa, hành đến cùng cực thì lý cao thâm huyền diệu
há còn phải cầu nơi nào khác nữa ƣ? Nếu không thì chỉ cao
thâm huyền diệu nơi đầu môi chót lƣỡi, khi sanh tử xảy đến
chẳng dùng đƣợc mảy may! Xin độc giả hãy lƣu tâm!
Mồng Tám tháng Chạp năm Ðinh Mão, Dân Quốc 16 (1927), Cổ
Tân Thường Tàm Quý Tăng Thích Ấn Quang cẩn soạn.
(*) Gia có nghĩa là tốt, lành, đáng khen ngợi. Gia Ngôn là lời nói
tốt đẹp, tận thiện. Như vậy, Ấn Quang Ðại Sư Gia Ngôn Lục
nghĩa là cuốn sách tập hợp những pháp ngữ tận thiện, tận mỹ
của đại sư Ấn Quang.
(1) Nhược quan: là 20 tuổi. Thời cổ, con trai đến 20 tuổi làm lễ
đội mũ (nhược quan), công nhận là một người trưởng thành.
Theo Ấn Quang Niên Phổ, đại sư trốn nhà đi xuất gia năm 21
tuổi, vào năm Quang Tự thứ 7 (Tân Tỵ - 1881) tại chùa Nam Ngũ                                                                             5
Ðài Liên Hoa Ðộng Tự ở núi Chung Nam, thờ hòa
thượng Ðạo Thuần làm thầy.
DUYÊN KHỞI TÁI BẢN CUỐN
ẤN QUANG ÐẠI SƢ GIA NGÔN LỤC
      Cổ đức nói: “Pháp chẳng thể phát khởi một mình mà cần phải
có nhân duyên”. Rõ ràng là ngƣời có thể hoằng đạo, chứ đạo
chẳng thể hoằng ngƣời, pháp chẳng tự hoằng, đao chẳng thể tự
sát thƣơng, toàn là phải nhờ vào con ngƣời hoằng dƣơng, vận
dụng. Nay muốn in hơn ngàn cuốn ắt cũng phải có nhân duyên.
Vì thế, tôi nay chia ra ba điều duyên khởi để thuật rõ gốc ngọn,
ngõ hầu độc giả biết đƣợc một đôi điều, sanh ý tƣởng khó gặp
gỡ, sanh tâm khánh hạnh (1). Do Văn  - Tƣ  - Tu, khởi Tín  -
Nguyện - Hạnh, nhập Niệm Phật tam muội, ai nấy cùng thấy Di
Ðà, ngƣời ngƣời chứng địa vị Bất Thoái. Ðấy chính là điều tôi
thắp hƣơng cầu khẩn vậy.
      Thứ nhất là thực hiện nguyện cũ: nhớ lúc năm Dân Quốc 57
(1968), tôi đến học tại Trung Quốc Phật Giáo Nghiên Cứu Viện,
có dịp đọc đƣợc trong thƣ viện cuốn Ấn Quang Ðại Sƣ Gia Ngôn
Lục, chẳng ngăn nổi vỗ tay, giậm chân, hớn hở vô lƣợng, nhận
thấy đây là một tác phẩm ngàn đời khó thấy, ngàn kiếp khó gặp,
chẳng gieo trồng cội đức dễ đâu đƣợc gặp mà nay đƣợc gặp gỡ.
Tôi bèn hạ quyết tâm đọc một mạch, không dƣới mấy mƣơi lần,
ngộ đƣợc chẳng ít Phật lý. Trong tác phẩm này có rất nhiều đạo
lý tôi chƣa từng bao giờ biết đến, và có cảm giác phải nghiền
ngẫm phi thƣờng. Tôi nhận ra hết thảy những Phật pháp đƣợc
nhắc đến trong Văn Sao đều là những của báu có sẵn trong nhà
mình, chẳng đến từ bên ngoài, khác nào đếm của gia bảo, vói tay
liền đƣợc.                                                                            6
Nhân đó, tôi đọc đi đọc lại những kinh điển, luận tạng
đƣợc nhắc đến trong Văn Sao nhƣ ba kinh Tịnh Ðộ, Tịnh Ðộ
Thập Yếu, Tịnh Ðộ Thánh Hiền Lục, Long Thƣ Tịnh Ðộ Văn, Tây
Quy Trực Chỉ, Liên Tông Bảo Giám, Niệm Phật Luận, Tịnh
Nghiệp Chỉ Nam v.v... Trong mỗi một cuốn ấy, câu câu đều là lời
vàng, chữ chữ đều quy tông. Tu theo đó thì đều do hữu niệm
chứng nhập vô niệm, chuyển nhiễm niệm thành tịnh niệm, tự
chứng tối thƣợng thừa “tâm này làm Phật, tâm này là Phật”.
Trong cuốn Gia Ngôn Lục, đại sƣ Ấn Quang đã giãi bày trọn vẹn
lẽ sai biệt giữa Tự Lực và Phật Lực, giới hạn của Thiền tông và
Tịnh tông, phân tích rõ ràng, khiến kẻ sơ học đoạn nghi sanh tín,
biết nên lấy bỏ những gì, càng vào càng sâu. Tu theo đó, ngàn
ngƣời tu, ngàn ngƣời đƣợc vãng sanh, vạn ngƣời tu vạn ngƣời
vãng sanh.
Nhất là chữ “Tử” (chết) do đích thân đại sƣ Ấn Quang viết chính
là diệu dƣợc vô thƣợng để tiêu phiền não, trừ khử vọng niệm.
Mọi loài chúng sanh dựa vào chữ Tử ấy, nghĩ đến địa ngục, phát
tâm Bồ Ðề, dùng tín nguyện sâu xa trì danh hiệu Phật, lâm chung
gặp Phật, vãng sanh Tây Phƣơng chẳng biết là bao nhiêu. Bởi
thế, ngay khi ấy, tôi liền phát nguyện rằng: “Trong tƣơng lai, ngày
nào đó, khi có nhân duyên diễn giảng Phật pháp cho đại chúng,
tôi nguyện sẽ đề xƣớng ấn loát và giảng giải cuốn Gia Ngôn Lục
hòng đại chúng hiểu rõ yếu nghĩa tâm này làm Phật, tâm này là
Phật, tự tánh Di Ðà, duy tâm Tịnh Ðộ mới thôi!” Ðây chính là
nhân duyên thứ nhất vậy.
      Thứ hai là kinh nghiệm niệm Phật: kể từ khi đọc đƣợc Văn
Sao Gia Ngôn Lục rồi tôi thƣờng đọc đi, đọc lại, cơ hồ gần chán,
nhƣng vẫn chƣa hiểu hết ý nghĩa. Tiếp đó, đọc hai cuốn Văn Sao
thƣợng hạ, những chỗ chƣa hiểu lại đem  thỉnh vấn lão sƣ. Tƣ
duy, thọ trì đôi ba lƣợt nhƣ thế, đem những chữ Tử do Ðại Sƣ
viết dán đầy cả phòng, giờ giờ tự kinh hãi, khắc khắc tự răn nhắc
mình. Lúc ấy tôi mới mƣời bảy tuổi, suốt ngày chấp trì danh hiệu,
có thể nói là Phật chẳng lìa tâm, tâm chẳng rời Phật. Suốt ngày                                                                             7
hiếm mở miệng nói năng một đôi câu. Nếu ai hỏi đến
cũng chỉ dùng tay ra hiệu mà thôi. Có lúc thậm chí cả hai ba ngày
tôi chẳng mở miệng nói câu nào; bởi thế, những ngƣời thƣờng
gặp mặt tôi bèn hủy báng: “Ðồ bệnh thần kinh, đồ ma dựa”. Tôi
nghe riết thành quen, chẳng lƣu tâm đến nữa, cho rằng đấy là
một đại nhân duyên để tiêu diệt tội nghiệp đời trƣớc của mình,
khiến cho mình càng thêm dũng mãnh, tinh tấn, chẳng lƣời
nhác.
Dụng công nhƣ thế mãi đến khi tôi tốt nghiệp ở Nghiên Cứu Viện
vào năm Dân Quốc 59 (1970). Lúc ấy tôi vừa 19 tuổi, thân thể
yếu đuối, lắm bệnh, nhƣng luôn nhớ kỹ lời Ðại Sƣ khai thị cho
hành giả trong Văn Sao: “Ngƣời niệm Phật chẳng sợ sanh bệnh,
chỉ sợ chẳng thể thấy Phật, niệm Phật. Khi thân thể trở bệnh
thƣờng nghĩ đến cái chết, vạn duyên buông xuống, nhất tâm
niệm Phật. Nhƣ thế thì nếu tuổi thọ chƣa hết sẽ chóng lành
bệnh, nếu hết tuổi thọ sẽ mau đƣợc vãng sanh. Là do tâm hợp
với Phật, tâm hợp với đạo vậy!” Do đấy, tôi lập công khóa nhất
định, trong vòng một ngày, Phật sự phải làm là lễ bái bốn mƣơi
tám nguyện, trì tụng một trăm lẻ tám biến thần chú Ðại Bi, niệm
Phật hiệu vô số. Dụng công nhƣ thế suốt một năm, chẳng những
thân thể không khỏe hơn, lại càng thêm hƣ nhƣợc. Lúc ấy, tôi
đang ở chùa Thập Phổ đƣờng Nam Xƣơng tại Ðài Bắc.
Khéo sao, có một vị pháp sƣ tên là Tánh Quán bị ung thƣ gan
đến thời kỳ thứ ba, phải đƣa vào bệnh viện. Ít lâu sau, bác sĩ bảo
không còn cách nào chữa đƣợc, đƣa sang thiền đƣờng chùa
Lâm Tế chờ chết. Mấy ngày sau, sƣ thƣợng thổ hạ tả (2), ói ra
toàn là máu, đƣợc ít lâu thì chết. Khi đó, tôi mới chỉ 20 tuổi, thân
thể hƣ nhƣợc đến cùng cực, thân nhƣ cây khô, tinh thần yếu
đuối. Ngƣời trong chùa thấy tình cảnh ấy, không ít ngƣời bảo tôi:
“Tôi xem thầy chẳng mấy chốc cũng giống nhƣ pháp sƣ Tánh
Quán, nhất định phải chết thôi!” Hoặc bảo: “Tôi xem thầy chẳng
sống đƣợc bao lâu nữa!” Lúc ấy đúng là đạo cao một thƣớc, ma
cao một trƣợng. Vừa phát tâm dụng công thì ma chƣớng càng                                                                             8
nhiều. Nghe toàn những lời nói nhƣ vậy, vạn phần
hoảng sợ, chẳng sao diễn tả nổi.
Sau cùng bất đắc dĩ chẳng biết làm sao, suốt ngày chỉ nghe băng
xƣớng niệm thánh hiệu A Di Ðà Phật của pháp sƣ Sám Vân mà
niệm theo, nhất tâm đợi Phật tiếp dẫn vãng sanh. Suốt một năm
nhƣ thế, chẳng những chƣa vãng sanh mà tình cờ sao, trong một
lần đang niệm Phật, niệm đến mức tâm không cảnh vắng, tâm
tịnh Phật hiện, đích thân thể hội mùi vị “niệm mà vô niệm, vô
niệm mà niệm”.
Từ đó, thân thể của tôi ngày càng khang kiện, máy cassette tặng
cho ngƣời khác, đem hết thảy tiền bạc mình dành dụm hoặc đồ
cúng dƣờng của tín đồ, mỗi mỗi đều dùng làm phƣơng tiện
khuyên ngƣời khác niệm Phật, phỏng theo cách của Liên Tông
Tứ Tổ Pháp Chiếu Ðại Sƣ và Ngũ Tổ Thiếu Khang Ðại Sƣ, xin
tiền đem cho trẻ, dụ chúng niệm Phật, hoặc mua tự điển, bút chì
tặng cho trƣờng tiểu học, hoặc mua bút máy, sổ nhật ký tặng cho
học trò bậc cao trung trở lên. Trƣớc hết, dạy chúng lễ Phật, niệm
Phật, rồi mới tặng cho chúng thứ này, thứ nọ. Trong vòng
khoảng một cây số, không có trẻ nhỏ nào chƣa từng nhận lãnh
sự giáo hóa, bố thí của tôi. Ai nấy thấy tôi đều kêu lên: “Tiểu sƣ
phụ! A Di Ðà Phật!” Sau hơn một năm nhƣ thế, lớn nhỏ đều biết
niệm Phật.
Một hôm, tôi nhận đƣợc công văn kêu đi nhập ngũ (3), ngày trình
diện là mồng Một tháng Năm năm Dân Quốc sáu mƣơi ba
(1974), trong lòng thầm nghĩ: “Lần này đi quân dịch, chuyện sanh
tử khó lòng đảm bảo, vạn nhất chết trận thì biết làm sao, chẳng
bằng lúc còn sống phải dự bị ổn thỏa mới nên!” Nhân đó, bèn
đem bộ Tịnh Ðộ Tùng Thƣ 20 quyển mới mua chƣa lâu (lúc ấy,
còn đang trong thời kỳ ấn hành, chƣa in xong toàn bộ) tặng cho
Truyền Ðạo học trƣởng, đem các tự điển Từ Hải và Khang Hy
tặng cho pháp sƣ Minh Quảng. Cố lão sƣ có tặng cho tôi một bản
Thánh Giáo Tự của Vƣơng Hy Chi, mang từ Ðại Lục qua, thật là
của báu vô giá, tôi cũng tặng luôn cho bạn đồng học là Ngộ                                                                             9
Khiết. Áo hải thanh và y ca sa tặng luôn cho bạn
đồng học là Ngộ Quán. Còn thì đồ đạc trong ngoài, dù lớn hay
nhỏ đều tặng hết cho đại chúng, chỉ còn mỗi một cái túi da xấu xí
là chƣa tặng ai cả. Lòng nghĩ nếu nhƣ trong quân đội, vạn nhất
mình may mắn bỏ xác cũng là nguyện vọng của mình đã thành
đạt. Vì sao vậy? Vì tôi đã sớm chuẩn bị, nhớ kinh Ðịa Tạng có
dạy: “Hết thảy công đức đã làm khi còn sống, đều thọ đƣợc hết
cả. Nhƣng chết đi, làm hết thảy công đức thì bảy phần chỉ đƣợc
hƣởng một phần”. Cho nên những điều mình có thể làm đƣợc
trong khả năng của mình thì đều làm hết.
Vì thế, một hai ngày trƣớc khi nhập ngũ, tôi đem số tiền tín đồ
cúng dƣờng là bảy ngàn đồng, chia thành ba phần: Một phần là
năm ngàn đồng tặng cho công trình xây dựng Tịnh Giác Dục Ấu
Viện (viện nuôi trẻ Tịnh Giác). Một phần là sáu trăm đồng cúng
dƣờng cho huynh đệ đồng tu. Còn tự mình chỉ mang 1.400 đồng
đi nhập ngũ mà thôi.
Sau đấy, suốt ba tháng tại trung tâm huấn luyện, chịu cam khổ
nhƣ mọi ngƣời. Có tháng, tiền chỉ còn ba trăm năm mƣơi đồng,
lại cần phải mua thức ăn chay. Lúc ấy mới hay tiền chẳng đủ
dùng, tiền là trọng yếu. Xong hai năm quân dịch, chẳng những
không chết, thân thể còn càng thêm cƣờng tráng, khang kiện.
Thế mới biết công đức Niệm Phật chẳng thể nghĩ bàn, quả báo
cũng chẳng thể nghĩ bàn. Hiện tại tôi đã giải ngũ hơn năm năm
rồi, phải làm lại hết thảy từ đầu. Muốn mua kinh sách gì, hoặc là
thành lập đạo tràng và những thứ cần dùng hằng ngày đều hoàn
toàn cậy vào sự nỗ lực của chính mình. Do đó,  đến nay đã ba
mƣơi tuổi đầu rồi mới bắt đầu xây dựng đạo tràng, ngoài việc
giảng kinh, thuyết pháp, chẳng quên đề xƣớng ấn loát bộ Ấn
Quang Ðại Sƣ Gia Ngôn Lục. Ðấy là nhân duyên thứ hai.
      Thứ ba chính là để kết duyên lành. Kinh dạy:  “Lúc chƣa
thành Phật nên rộng kết nhân duyên”. Kinh còn dạy: “Phật đạo
kiến lập trên thân chúng sanh. Nếu không có chúng sanh nào để
độ thì chƣ Phật chẳng thể thành Chánh Giác”. Bởi thế, sau khi                                                                             10
giải ngũ, tôi liền đối trƣớc Phật phát nguyện: “Phàm
là ai có lòng muốn học Phật pháp thì nghĩa vụ của con là phải
dạy dỗ họ cho đến khi họ học hiểu mới thôi!”
      Tiếp đó, duyên khởi in cuốn Gia Ngôn Lục là do cƣ sĩ Kim
Bích Hoa và cƣ sĩ Ngô Cẩm Hoàng giới thiệu nên tôi đƣợc quen
biết cƣ sĩ Khƣu Bính Lân và vợ là cƣ sĩ Khƣu Ngô Sắc. Họ nói
trƣớc đây đã từng học hiểu cuốn Tứ Kinh Hợp Ðính Bổn, hiện tại
muốn học Tam Muội Thủy Sám, xin tôi phát tâm giảng dạy cho
họ. Tôi liền đáp: “Ðƣợc”. Lúc đó Ngô cƣ sĩ và tín đồ của họ đang
có mặt đều phát tâm muốn học, muốn đến chùa tôi, xin tôi mỗi
một tuần chọn một ngày nhất định đến chỗ họ giảng dạy. Tôi nói:
“Trƣớc mắt, Phật Quang Viện chƣa lạc thành, dự định ngày 19
tháng Sáu năm nay, đúng ngày thành đạo của Quán Thế Âm Bồ
Tát sẽ làm lễ khai quang thánh tƣợng (khéo sao, ngày ấy lại
đúng vào Chủ Nhật). Hiện tại trong Phật Tổ Hội đang tích cực
quyên góp. Hội này do hai vị cƣ sĩ Kim Bích Hoa và Ngô Bảo
Ngọc cùng phát khởi. Một hội chọn ra tên hai ngƣời, lần lƣợt chia
phiên nhau xuất ra năm trăm đồng trong một tháng nào đó, định
hạn là hai mƣơi tháng, cho đủ một vạn đồng. Trong ấy có ngƣời
thanh toán trong một lần, có ngƣời chia ra hai lần đóng góp tùy
sức mỗi ngƣời (mục đích là đại chúng hóa, phổ biến hóa, để
ngƣời hữu duyên có cơ hội tham dự công đức đúc kim thân
Phật)”.
      Khƣu cƣ sĩ nghe xong liền phát nguyện đúc tƣợng Tây
Phƣơng Tam Thánh, ngoài ra thì tham gia một hội hoặc hai hội
khác nhau. Kinh nói: “Lục độ vạn hạnh, bố thí làm đầu, trong các
nhiệm vụ cấp bách của việc phát tâm thì hỷ xả là bậc nhất”. Chúa
trời Ðao Lợi xƣa làm cƣ sĩ,  trông thấy tƣợng Phật bị hƣ nát
không chịu nổi, bèn phát tâm rủ rê bè bạn ba mƣơi hai ngƣời, tạo
kim thân Phật. Do nhân duyên ấy, sau khi mạng chung, sanh làm
Ðế Thích Thiên Chúa, tục gọi là Ngọc Hoàng Ðại Ðế. Ba mƣơi
hai ngƣời kia mỗi ngƣời làm chúa một cõi trời, thống trị nhân dân
trong nƣớc mình, phƣớc đức, trí huệ vô lƣợng, đƣợc ngƣời đời
lễ bái.                                                                            11
Bởi vậy, kính mong chƣ vị đại đức đều sanh lòng
hoan hỷ hớn hở, phát lòng tùy hỷ, xuất tiền, xuất lực, tam luân
không tịch (4), vô trụ sanh tâm, công đức vô  lƣợng. Hiện tại
muốn ấn loát hơn một ngàn cuốn Gia Ngôn Lục, riêng Khƣu cƣ
sĩ đã phát tâm xin in một ngàn cuốn. Ðem công đức này hồi
hƣớng pháp giới chúng sanh cùng sanh Tịnh Ðộ. Ðấy là nhân
duyên thứ ba.
      Ba điều duyên khởi vừa lƣợc thuật trên đây  đều nói đúng
theo sự thực, chứ chẳng phải là lời thêu dệt, cốt để bày tỏ những
điều ấp ủ trong lòng tôi, nhằm nói lên nguyện lực Phật Di Ðà rộng
sâu, công đức niệm Phật thù thắng, đọc Văn Sao lợi ích vô tận.
Chỉ nguyện bậc trƣởng bối xem đến, phát lòng từ  bi chỉ dạy,
ngƣời ngang hàng nghe đến, sanh ý niệm tham khảo, tùy hỷ. Kẻ
vãn bối biết đến sẽ sanh lòng hỗ trợ, tăng trƣởng pháp. Từ một
truyền mƣời, mƣời truyền trăm, trăm truyền ngàn, ngàn truyền
vạn, cha mẹ dạy bảo con cái, thầy dạy trò, quan trên dạy bảo cấp
dƣới, từ gần lan ra xa, phổ độ hữu tình, chỉ mong mình lẫn ngƣời
cùng dự trong Liên Trì Hải Hội, chúng u minh cùng nhập Di Ðà
Nguyện Hải, đều thành Chánh Giác, cùng hóa độ chúng sanh.
Con chỉ mong mƣời phƣơng Tam Bảo, hộ pháp long thiên cùng
xét soi tấm lòng thành khẩn của con đỏ, cùng rủ lòng từ mẫn gia
bị. Phổ nguyện thập phƣơng thiện tín, chƣ vị đại đức, đều sanh
tâm từ bi hỷ xả, cùng khởi ý niệm ủng hộ Tam Bảo. Chỉ mong
những ai thấy nghe đều phát Bồ Ðề tâm, hết một báo thân này,
cùng sanh về Cực Lạc. Nếu đƣợc nhƣ thế thì pháp môn may
mắn lắm, chúng sanh may mắn lắm!
Trung Hoa Dân Quốc năm thứ 71 (1982), tháng Giêng âm lịch,
tiết Nguyên Tiêu, Bản Kiều Thường Tàm Quý Tăng Thích Ngộ
Tông kính soạn                                                                            12
(1) Khánh hạnh: mừng rỡ, nhận biết là mình may
mắn mới gặp được việc gì đó.
(2) Thượng thổ hạ tả: trên thì ói, dưới thì tiêu tiện không kiểm
soát được.
(3) Tại Ðài Loan, chư Tăng không được miễn quân dịch. Toàn bộ
tăng sĩ trẻ phải nhập ngũ, thi hành quân dịch một thời gian, trước
khi được trở về chùa tu tiếp.
(4) Tam luân không tịch: Bố thí mà không thấy mình đang cho,
không thấy có người nhận, không thấy có vật được mình bố thí.
ẤN QUANG PHÁP SƢ
GIA NGÔN LỤC
PHẦN I
I. Tịnh Ðộ thù thắng
       * Lớn lao thay! Ðiều đƣợc pháp môn Tịnh Ðộ chỉ dạy là “tâm
này làm Phật, tâm này là Phật”, chỉ thẳng tâm ngƣời. Nếu vẫn
cho là kém kỳ lạ, đặc biệt thì mỗi niệm niệm Phật chính là thành
Phật ngay trong niệm ấy. Ðộ khắp ba căn, thống nhiếp Thiền,
Luật, Giáo. Nhƣ mƣa đúng thời nhuần thấm vạn vật; giống nhƣ
biển cả dung nạp trăm sông.
Hết thảy pháp Thiên, Viên, Ðốn, Tiệm, không pháp nào chẳng
phát xuất từ pháp giới này. Hết thảy hạnh Ðại, Tiểu, Quyền,
Thiệt, không hạnh nào chẳng quy về nơi pháp giới này. Chẳng
đoạn Hoặc nghiệp, liền đƣợc dự vào hàng Bổ Xứ, viên mãn Bồ                                                                             13
Ðề ngay trong một đời này. Chúng sanh trong cửu
giới lìa môn này thì trên là chẳng thể viên thành Phật đạo. Mƣời
phƣơng chƣ Phật bỏ pháp môn này thì dƣới là chẳng thể lợi
khắp quần manh. Bởi đó, trọn Hoa Nghiêm hải chúng cùng tuân
theo mƣời đại nguyện vƣơng; Pháp Hoa vừa xƣng một tiếng liền
chứng Thật Tƣớng các pháp.
[Tịnh Ðộ là] hạnh phƣơng tiện tối thắng nên trong luận Khởi Tín,
ngài Mã Minh bảo là dễ hành mau đến; ngài Long Thọ xiển
dƣơng pháp này trong luận Tỳ Bà Sa. Hậu thân của đức Thích
Ca là ngài Trí Giả nói ra Thập Nghi Luận chuyên chí Tây
Phƣơng. Sƣ Vĩnh Minh là Phật Di Ðà thị hiện, soạn Tứ Liệu
Giản, chung thân niệm Phật dẫn tam thừa ngũ tánh cùng chứng
Chân Thƣờng, đƣa thƣợng thánh hạ phàm cùng lên bờ kia.
Vì thế pháp môn này cả cửu giới cùng hƣớng về, mƣời phƣơng
cùng khen ngợi. Ngàn kinh cùng xiển dƣơng, vạn luận đều tuyên
thuyết. Thật có thể nói là pháp cực đàm của một đời giáo hóa
[của Ðức Phật], là đại giáo Nhất Thừa vô thƣợng. Chẳng trồng
cội đức thì trải bao kiếp khó gặp đƣợc. Ðã đƣợc thấy nghe phải
siêng tu tập.
* Giáo  - Lý  - Hạnh  - Quả là cƣơng tông của Phật pháp. Nhớ
Phật, niệm Phật thực là đƣờng tắt để đắc đạo. Thời xƣa, cứ tu
một pháp thì cả bốn (Giáo - Lý - Hạnh - Quả) đều đủ. Còn đời
này nếu bỏ Tịnh Ðộ thì hoàn toàn chẳng chứng đƣợc đạo quả.
Ấy là vì cách biệt thánh đã xa, căn tánh con ngƣời hèn kém, nếu
chẳng cậy vào Phật lực, quyết khó đƣợc giải thoát.
Nhƣ đã nói: “Pháp môn Tịnh Ðộ nhiếp khắp căn cơ thƣợng,
trung, hạ; cao trỗi hơn Luật, Giáo, Thiền Tông, thực là lòng từ bi
triệt để của chƣ Phật, chỉ bày thể tánh sẵn có của chúng sanh,
dẫn tam thừa ngũ tánh đồng quy cõi tịnh, đƣa thƣợng thánh hạ
phàm cùng chứng Chân Thƣờng. Cửu giới chúng sanh lìa pháp
này thì trên chẳng thể viên thành Phật đạo. Mƣời phƣơng chƣ
Phật bỏ pháp môn này thì dƣới chẳng thể lợi khắp quần manh”.                                                                            14
Thế nên, vãng thánh tiền hiền (thánh hiền đời trƣớc)
ai nấy đều hƣớng về. Ngàn kinh vạn luận đâu đâu cũng chỉ quy.
Từ sau hội Hoa Nghiêm dẫn khởi quy hƣớng, các đại Bồ Tát tận
khắp mƣời phƣơng thế giới không vị nào chẳng cầu sanh Tịnh
Ðộ; kể từ khi diễn thuyết tại Kỳ Viên đến nay, cuối hết thảy các
trƣớc thuật của Tây Thiên, Ðông Ðộ đều quy kết Liên Bang.
* Cổ nhân nói: “Thân ngƣời khó đƣợc, trung quốc (1) khó sanh,
Phật pháp khó nghe, sanh tử khó xong”. Chúng ta may mắn
đƣợc thân ngƣời, sanh ở trung quốc, đƣợc nghe Phật pháp.
Ðiều bất hạnh là tự thẹn nghiệp chƣớng sâu nặng, không sức
đoạn Hoặc để mau thoát khỏi Tam Giới, liễu sanh thoát tử;
nhƣng lại may mắn đƣợc nghe đức Nhƣ Lai ta tâm bi triệt để nói
ra pháp môn Tịnh Ðộ là pháp đại quyền xảo, phƣơng tiện lạ lùng,
khiến hàng phàm phu lè tè sát đất đƣợc đới nghiệp vãng sanh,
thật không còn gì may mắn hơn nữa! Nếu chẳng phải là từ vô
lƣợng kiếp đến nay đã trồng thiện căn sâu dày, làm sao nghe
đƣợc pháp chẳng thể nghĩ bàn này? Chẳng nên gấp sanh lòng
tin chân thành, phát nguyện cầu sanh ƣ?
      * Trộm nghe Tịnh Ðộ chính là pháp tỏ bày rốt ráo bổn hoài
của Phật, cao vƣợt hết thảy Thiền - Giáo - Luật, thống nhiếp hết
thảy Thiền - Giáo - Luật. Nói gọn thì một lời, một câu, một kệ,
một sách đều có thể gồm trọn không còn sót. Nói rộng ra, dù
huyền ngôn của Tam Tạng mƣời hai bộ kinh, diệu nghĩa của chƣ
Tổ năm tông cũng chẳng thể diễn giảng trọn [pháp môn Tịnh Ðộ
này].
Giả sử khắp cả đại địa chúng sanh đều thành Chánh Giác, hiện
tƣớng lƣỡi rộng dài, dùng sức thần thông, sức trí huệ, vi trần nói,
cõi nƣớc nói, nói hăm hở, nói không gián đoạn, vẫn còn chƣa thể
tận nổi! Bởi lẽ Tịnh Ðộ vốn là chẳng thể nghĩ bàn.
Hãy thử nghĩ xem: Hoa Nghiêm đại kinh là vua trong Tam Tạng,
trong phẩm cuối cùng quy trọng nơi nguyện vƣơng. Áo điển                                                                             15
Pháp Hoa mầu nhiệm đứng đầu các kinh, nghe kinh
liền vãng sanh, địa vị ngang với Ðẳng Giác. Vậy thì ngàn kinh
muôn luận đâu đâu đều chỉ quy Tịnh Ðộ là có nguyên do vậy.
Văn Thù phát nguyện, Phổ Hiền khuyến khích. Trong hội Ðại
Tập, đức Nhƣ Lai thọ ký rằng: Trong đời Mạt Pháp, không do
pháp này chẳng thể đắc độ. Trong luận Tỳ Bà Sa, ngài Long Thọ
phán định là pháp dễ hành, mau thoát sanh tử. Thế nên, vãng
thánh tiền hiền ngƣời ngƣời hƣớng đến, nào phải phí công toi!
Thật có thể nói là cả một đời giáo hóa đều chỉ là để đặt cơ sở
cho pháp môn Niệm Phật!
Chẳng phải chỉ có thế! Phàm hết thảy cảnh giới đối ứng sáu căn,
tức là: núi, sông, đại địa, sáng, tối, sắc, không, thấy, nghe, hay,
biết, thanh, hƣơng, vị v.v... không gì chẳng phải là văn tự để phô
diễn, xiển dƣơng Tịnh Ðộ đó sao? Lạnh  - nóng đắp đổi, già  -
bệnh chen nhau, lụt, hạn, chiến tranh, tật dịch, bạn ma, tà kiến,
không gì chẳng phải là để răn nhắc cảnh tỉnh con ngƣời mau cầu
sanh Tịnh Ðộ đó ƣ? Nói rộng ra, há có thể trọn hết đƣợc sao?
Còn nhƣ bảo “một lời đã gộp hết cả” thì lời đó là “Tịnh”. Tịnh đến
cùng cực thì sáng tỏ, thông suốt. Nếu chƣa đạt Diệu Giác, há dễ
đảm đƣơng nổi một lời này ƣ? Nghiên cứu bài tụng Lục  Tức
Thành Phật (2) thì sẽ biết.
      “Một câu” là “Tín, Nguyện, Hạnh”. Với Tín  - Nguyện  -
Hạnh thì không Tín chẳng đủ để khởi Nguyện. Không
Nguyện thì chẳng đủ để dẫn dắt Hạnh. Không có diệu hạnh
Trì Danh thì chẳng đủ để viên mãn điều mình Nguyện, chứng
điều mình tin. Hết thảy kinh luận Tịnh Ðộ đều phát minh ý chỉ
này.
      “Một kệ” là kệ tán Phật (3): Nêu chánh báo để gồm thâu y
báo, thuật Hóa Chủ để bao gồm đồ chúng; tuy chỉ gồm tám câu
nhƣng đã nêu trọn đại cƣơng của cả ba kinh Tịnh Ðộ.                                                                            16
      Một cuốn sách là cuốn Tịnh Ðộ Thập Yếu. Chữ
chữ đều là bến cầu (4) cho đời Mạt Pháp. Lời lời đều là gƣơng
báu của Liên Tông. Buốt lòng trào lệ, phanh tim vẩy máu, xứng
tánh phát huy, chỉ bày cốt tủy. Dù dùng những thí dụ nhƣ cứu
ngƣời chết đuối, cứu ngƣời bị  lửa cháy vẫn chẳng thể diễn tả
lòng thống thiết [của chƣ Tổ] đƣợc. Bỏ qua [sách này] thì chánh
tín không do đâu mà sanh đƣợc, tà kiến không do đâu mà diệt
đƣợc!
      * Nên biết rằng chúng ta từ vô thỉ đến nay đã tạo ác nghiệp
vô lƣợng, vô biên. Kinh Hoa Nghiêm dạy: “Giả sử ác nghiệp có
thể tƣớng thì mƣời phƣơng hƣ không chẳng thể chứa đựng nổi”.
Lẽ đâu tu trì lơ mơ, hời hợt, lại tiêu nổi đƣợc nghiệp ƣ? Bởi vậy,
Thích Ca, Di Ðà, giáo chủ hai cõi, đau đáu nghĩ đến chúng sanh
không sức đoạn Hoặc, riêng mở ra một pháp môn nƣơng vào từ
lực của Phật để đới nghiệp vãng sanh. Lòng hoằng từ đại bi ấy
dù trời đất, cha mẹ cũng chẳng thể bằng đƣợc một phần Hằng
hà sa. Chỉ nên phát lòng thẹn hổ, phát tâm sám hối mới tự có thể
đƣợc Phật gia bị, nghiệp tiêu, thân an thôi!
      * Hòa Thƣợng Thiện Ðạo nói: “Nếu muốn học về Giải thì hết
thảy các pháp từ địa vị phàm phu cho đến địa vị Phật, không
pháp nào chẳng nên học. Nếu muốn học về Hạnh, nên chọn lấy
một pháp khế lý, khế cơ, chuyên tinh tận sức mới mau chứng
đƣợc lợi ích chân thật. Nếu không thì từ kiếp này qua kiếp nọ
vẫn khó xuất ly!” Pháp khế lý, khế cơ Ngài nói đó không gì hơn là
Tín Nguyện Trì Danh Cầu Sanh Tây Phƣơng!
      * Kinh A Di Ðà, kinh Vô Lƣợng Thọ, kinh Quán Vô Lƣợng
Thọ gọi là “Tịnh Ðộ Tam Kinh”, chuyên luận về sự lý duyên khởi
của Tịnh Ðộ. Các kinh Ðại Thừa khác đều nói kèm về Tịnh Ðộ.
Nhƣng kinh Hoa Nghiêm chính là khi đức Nhƣ Lai mới thành
Chánh Giác, vì bốn mƣơi mốt địa vị Pháp Thân Ðại Sĩ mà xứng
tánh giảng thẳng diệu pháp Nhất Thừa. Cuối  kinh, Thiện Tài đi                                                                             17
tham học khắp các thiện tri thức. Sau khi chứng ngộ
nhƣ chƣ Phật, Thiện Tài đồng tử đƣợc Phổ Hiền Bồ Tát giảng
cho nghe mƣời đại nguyện vƣơng. Ngài dạy Thiện Tài và khắp
Hoa Nghiêm hải chúng hồi hƣớng vãng sanh Tây Phƣơng Cực
Lạc thế giới ngõ hầu đƣợc viên mãn Phật Quả.
Trong Quán kinh, phần nói về hạ phẩm hạ sanh, kẻ ngũ
nghịch -thập ác đủ các điều bất thiện, lúc lâm chung tƣớng
địa ngục hiện, có thiện tri thức dạy cho niệm Phật. Kẻ ấy liền
vâng lời dạy, xƣng niệm Phật danh, chƣa đầy mƣời tiếng
liền thấy Hóa Thân Phật đƣa tay tiếp dẫn vãng sanh.
      Kinh Ðại Tập dạy: “Ðời Mạt Pháp ức ức ngƣời tu hành,
hiếm có một ngƣời đắc đạo. Chỉ có nƣơng vào Niệm Phật
mới thoát khỏi sanh tử”. Do đấy, ta biết rằng pháp niệm Phật là
đạo để thƣợng thánh hạ phàm cùng tu, là pháp dù trí hay ngu
đều hành đƣợc. Hạ thủ dễ, thành công cao, dùng sức ít nhƣng
đƣợc hiệu quả nhanh. Do chuyên cậy vào Phật lực nên lợi ích
thù thắng, vƣợt trội những giáo pháp thông thƣờng. Ngƣời xƣa
nói: “Các môn khác học đạo nhƣ kiến bò lên núi cao. Niệm
Phật vãng sanh nhƣ căng buồm thuận gió, nƣớc xuôi”, thật
rất khéo hình dung vậy!
      * Ðại Giác Thế Tôn thƣơng các chúng sanh mê trái tự tâm,
luân hồi lục đạo, trải bao kiếp dài lâu chƣa thể thoát ra. Do vậy,
Ngài hƣng khởi Vô Duyên Từ, vận lòng bi đồng thể, thị hiện sanh
trong thế gian, thành Ðẳng Chánh Giác, tùy thuận cơ nghi nói
rộng các pháp. Nói đại cƣơng, gồm có năm tông. Năm tông gì?
Là Luật, là Giáo, là Thiền, là Mật, là Tịnh.
      Luật là thân Phật, Giáo là lời Phật, Thiền là tâm Phật. Sở
dĩ Phật đƣợc gọi là Phật chỉ là do ba pháp này mà thôi. Sở dĩ
đức Phật độ sanh cũng chỉ là do ba pháp này. Nếu chúng
sanh thật sự có thể nƣơng theo Luật, Giáo, Thiền tu trì thì ba
nghiệp của chúng sanh sẽ chuyển thành ba nghiệp của chƣ                                                                             18
Phật. Ba nghiệp đã chuyển thì phiền não chính là
Bồ Ðề, sanh tử chính là Niết Bàn.
Lại sợ túc nghiệp sâu nặng chẳng thể dễ chuyển nên dùng sức
đà-ra-ni tam mật gia trì để un đúc. Hoặc lại sợ rằng căn khí kém
cỏi, chƣa đƣợc giải thoát, phải thọ sanh  lần nữa sẽ khó tránh
khỏi mê lầm; vì thế đặc biệt mở ra một môn tín nguyện niệm Phật
cầu sanh Tịnh Ðộ, ngõ hầu dù thánh hay phàm đều cùng vãng
sanh Tây Phƣơng ngay trong đời này. Bậc thánh thì mau chứng
Vô Thƣợng Bồ Ðề, kẻ phàm thì vĩnh viễn thoát khỏi sanh tử trói
buộc. Do dựa vào từ lực của Phật nên công đức, lợi ích chẳng
thể nghĩ bàn.
      Nên biết rằng: Luật là nền tảng của Giáo, Thiền, Tịnh,
Mật. Nếu chẳng nghiêm trì giới cấm sẽ chẳng thể đạt đƣợc
lợi ích chân thật nơi Giáo, Thiền, Tịnh, Mật. Nhƣ lầu cao vạn
trƣợng, nếu nền móng chẳng vững thì chƣa cất xong đã
sụp. Tịnh là chỗ quy túc của Giáo, Thiền, Tịnh, Mật, nhƣ trăm
sông, vạn dòng đều đổ vào biển cả.
Bởi lẽ, pháp môn Tịnh Ðộ là pháp môn để mƣời phƣơng chƣ
Phật trên thành Phật đạo, dƣới độ chúng sanh, thành thỉ, thành
chung. Vì thế trong phẩm Nhập Pháp Giới kinh Hoa Nghiêm,
Thiện Tài đƣợc ngài Phổ Hiền gia bị, khai thị, chứng đƣợc Ðẳng
Giác. Ðức Phổ Hiền lại khuyên Thiện Tài nên phát mƣời đại
nguyện vƣơng, hồi hƣớng vãng sanh Tây Phƣơng Cực Lạc thế
giới ngõ hầu mau viên mãn Phật Quả. Ngài lại dùng pháp này
phổ khuyến toàn bộ Hoa Tạng đại chúng [nên tu tập nhƣ thế].
Trong Quán Vô Lƣợng Thọ Phật Kinh, phần nói về Hạ Phẩm Hạ
Sanh, hạng ngƣời ngũ nghịch thập ác, sắp đọa địa ngục A Tỳ,
đƣợc thiện tri thức dạy cho niệm Phật, niệm mƣời tiếng hoặc chỉ
niệm mấy tiếng là mạng chung, cũng vẫn đƣợc Phật tiếp dẫn
vãng sanh Tây Phƣơng.                                                                            19
      Xem đó thì trên từ bậc Ðẳng Giác Bồ Tát chẳng
thể ra khỏi pháp này, dƣới đến kẻ tội ngũ nghịch, thập ác cũng
có thể  chứng nhập pháp này. Công đức, lợi ích của pháp môn
đây vƣợt trỗi hơn [các giáo pháp khác trong] cả một đời giáo hóa
của Ðức Phật. Bởi lẽ, các giáo pháp khác toàn dạy dùng tự lực
để thoát ly sanh tử. Kẻ chƣa đoạn Hoặc, nƣơng vào từ lực của
Phật liền có thể đới nghiệp vãng sanh. Kẻ đã đoạn Hoặc nếu
nƣơng theo từ lực của Phật sẽ chóng chứng đƣợc phẩm vị cao.
Vì thế, đây là một pháp môn đặc biệt nhất trong cả một đời giáo
hóa của Ðức Phật, chẳng thể dùng những giáo pháp thông
thƣờng để bàn luận pháp này đƣợc! Do đó, các kinh Ðại Thừa
nhƣ kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa v.v..., các đại Bồ Tát nhƣ Văn
Thù, Phổ Hiền...; các đại tổ sƣ nhƣ Long Thọ, Mã Minh... đều
hiển thị, xiển dƣơng, khen ngợi, chỉ dạy, phổ khuyến vãng sanh.  
* Ðức Di Ðà, đức Thích Ca trong những kiếp xƣa, phát đại thệ
nguyện độ thoát chúng sanh. Vị này thì thị hiện sanh trong uế độ,
dùng nhơ, dùng khổ chiết phục, hòng đƣa chúng sanh đi. Vị kia
thì an cƣ Tịnh Ðộ, dùng tịnh, dùng vui nhiếp thọ để lôi kéo, uốn
nắn.
Ông chỉ thấy ngu phu, ngu phụ cũng niệm Phật đƣợc bèn coi
thƣờng Tịnh Ðộ; sao chẳng thấy trong phẩm Nhập Pháp Giới của
kinh Hoa Nghiêm, sau khi Thiện Tài đã chứng ngộ ngang với chƣ
Phật thì Phổ Hiền Bồ Tát bèn chỉ dạy phát khởi mƣời đại nguyện
vƣơng, hồi hƣớng vãng sanh Tây Phƣơng Cực Lạc thế giới hòng
viên mãn Phật Quả? Huống hồ Bồ Tát còn đem pháp này khuyên
khắp cả Hoa Tạng hải chúng nữa? Hoa Tạng Hải Chúng không
một ai là phàm phu, nhị thừa, toàn là Pháp Thân Ðại Sĩ thuộc
bốn mƣơi mốt địa vị, cùng phá vô minh, cùng chứng pháp tánh,
đều có thể do bổn nguyện hiện làm Phật trong thế giới không có
Phật.
Hơn nữa, trong biển Hoa Tạng, tịnh độ vô lƣợng, nhƣng ai nấy
đều hồi hƣớng vãng sanh Tây Phƣơng Cực Lạc thế giới, đủ biết                                                                             20
là vãng sanh Cực Lạc chính là huyền môn để thoát
khổ, là đƣờng tắt để thành Phật. Vì thế, từ xƣa tới nay, trong tất
cả tùng lâm Thiền, Giáo, Luật, không đâu chẳng sớm chiều trì
danh hiệu Phật cầu sanh Tây Phƣơng vậy.
* Hết thảy chúng sanh vốn sẵn có trí huệ, đức tƣớng Nhƣ
Lai. Chỉ do mê chân theo vọng, quay lƣng với Giác,  xuôi
theo trần lao, nên toàn thể chuyển thành phiền não, ác
nghiệp. Vì thế phải trải bao kiếp dài lâu, luân hồi sanh tử. Nhƣ
Lai thƣơng xót giảng ra các pháp khiến họ bỏ vọng quy chân,
ngoảnh mặt với trần lao, xuôi theo giác ngộ, khiến cho toàn thể
phiền não ác nghiệp lại trở thành trí huệ, đức tƣớng. Từ đây cho
đến cùng tột đời vị lai, an trụ trong cõi Thƣờng Tịch Quang. Khác
nào nƣớc đóng thành băng, băng lại tan thành nƣớc, thể vốn
chẳng khác, nhƣng công dụng thực khác nhau một trời một vực.
Nhƣng căn cơ chúng sanh có Tiểu, có Ðại, mê có cạn, có sâu;
Phật tùy thuận cơ nghi của mỗi ngƣời khiến ai nấy đều đƣợc lợi
ích. Pháp môn Ngài nói ra mênh mông nhƣ Hằng sa, nhƣng cầu
lấy pháp chí viên, chí đốn, tối diệu, tối huyền, hạ thủ dễ, thành
công cao, dùng sức ít đƣợc hiệu quả nhanh, độ khắp ba căn,
thống nhiếp các pháp, thƣợng thánh hạ phàm cùng chung tu, đại
cơ cùng tiểu căn cùng lãnh thọ đƣợc thì không gì thù thắng, siêu
tuyệt bằng pháp môn Tịnh Ðộ. Vì sao nói thế?
Hết thảy pháp môn tuy đốn - tiệm khác nhau, quyền - thật
đều khác, nhƣng đều phải dụng công tu tập sâu xa mới
hòng đoạn Hoặc, chứng chân, xuất ly sanh tử, siêu phàm
nhập thánh. Ðó gọi là cậy vào tự lực, không nƣơng dựa vào
điều gì khác cả. Nếu nhƣ còn chút Hoặc chƣa tận thì vẫn bị
luân hồi nhƣ cũ. Ðấy đều là các pháp phải thấu đạt lý rất
sâu, chẳng dễ tu tập. Nếu chẳng phải hạng sẵn có linh căn
từ trƣớc, đời này thật khó lòng chứng nhập.
Chỉ có mình pháp môn Tịnh Ðộ, chẳng luận là phú quý hay bần
tiện, già, trẻ, gái, trai, trí, ngu, tăng, tục, sĩ, nông, công, thƣơng,                                                                             21
hết thảy hạng ngƣời đều tu tập đƣợc là do đại bi
nguyện lực của đức A Di Ðà Phật nhiếp thủ chúng sanh khổ não
cõi Sa Bà. Vì thế, so với các pháp môn khác, tu Tịnh Ðộ đắc quả
dễ dàng hơn.
* Một niệm tâm tánh của chúng sanh và một niệm tâm tánh
của Phật chẳng hai. Tuy còn mê chƣa giác, khởi Hoặc tạo
nghiệp, gây đủ các tội, Phật tánh sẵn có vẫn không bị tổn
thất. Ví nhƣ ma-ni bảo châu vứt nhà xí, sánh cùng phẩn uế
trọn chẳng khác gì. Kẻ ngu chẳng biết là báu, coi hệt nhƣ
phẩn uế. Ngƣời trí biết là diệu bảo vô giá, chẳng hiềm ô uế,
vào trong nhà xí nhặt lên, dùng đủ mọi cách gột rửa cho
sạch. Sau đó, treo lên tràng cao, liền phóng đại quang minh,
tùy lòng ngƣời muốn gì đều tuôn khắp các thứ báu. Bởi đó
kẻ ngu mới biết là quý báu.
Ðại Giác Thế Tôn thấy các chúng sanh cũng giống nhƣ vậy:
do hôn mê, đảo, Hoặc, gây đủ ngũ nghịch, thập ác, vĩnh viễn
đọa trong đƣờng ác tam đồ; Phật không hề có tâm niệm vứt
bỏ, luôn tìm kiếm cơ duyên, hiển nhiên hoặc ngầm gia bị
cho, vì họ thuyết pháp, mong họ giũ sạch Hoặc nghiệp
huyễn vọng, ngộ Phật tánh chân thƣờng, mãi cho đến khi
viên chứng Vô Thƣợng Bồ Ðề mới thôi. Ðối với kẻ tội tày
đình, ác cùng cực cũng vẫn nhƣ vậy. Với kẻ tội nghiệp ít,
dạy cho tu Giới và Thiện. Với ngƣời có sức thiền định sâu,
không một ai là chẳng [đƣợc Phật hóa độ] nhƣ vậy.
Phàm là trong tam giới, ngƣời nhiếp đƣợc tâm, chế ngự đƣợc
các phiền hoặc, nhƣng còn chấp thân, tình chủng vẫn còn; một
khi phƣớc báo hết, sanh xuống cõi dƣới, gặp cảnh, đụng duyên,
lại khởi Hoặc tạo nghiệp. Do nghiệp cảm khổ, luân hồi lục đạo
không lúc nào xong. Vì thế kinh Pháp Hoa bảo: “Ba cõi không
an giống nhƣ nhà cháy. Các khổ đầy dẫy, thật đáng sợ hãi”.
Nếu chẳng phải là kẻ nghiệp tận, tình không, đoạn Hoặc
chứng chân thì chẳng có hy vọng thoát khỏi tam giới.                                                                            22
Nay chỉ có mỗi pháp môn Tịnh Ðộ, cốt sao lòng tin
chân thành, nguyện thiết tha, trì danh hiệu Phật, liền có thể
nƣơng Phật từ lực vãng sanh Tây Phƣơng. Ðã đƣợc vãng sanh
liền nhập Phật cảnh giới, thọ dụng nhƣ Phật, phàm tình, thánh
kiến thứ gì cũng  chẳng sanh. Thật là ngàn phần ổn thỏa, vạn
phần thích đáng, là pháp môn vạn phần chẳng thể bỏ sót vậy.
Nay đang lúc Mạt Pháp, bỏ pháp môn này thì không còn có cách
nào khác cả.
* Phật quang chính là trí huệ có sẵn ngay trong tâm của phàm,
thánh, chúng sanh và Phật trong mƣời pháp giới. Tâm ấy thể lộ
quang minh chiếu suốt, trạm tịch, thƣờng hằng, bất sanh, bất
diệt, vô thỉ, vô chung, theo chiều dọc tột cùng ba đời nhƣng ba
đời bởi đó mà mất hết, theo chiều ngang trọn khắp mƣời phƣơng
nhƣng mƣời phƣơng bởi đó tiêu sạch. Nếu bảo là Không thì vạn
đức cùng hiển bày trọn vẹn. Nếu bảo là Có thì một trần chẳng
lập. Chính là hết thảy pháp nhƣng lìa hết thảy tƣớng. Tại phàm
chẳng giảm, nơi thánh chẳng tăng. Dù có ngũ nhãn cũng chẳng
thấy đƣợc, có tứ biện tài cũng chẳng diễn tả đƣợc; nhƣng pháp
nào cũng phải nƣơng vào sức nó, chỗ nào cũng gặp nó cả.
Nhƣng do chúng sanh chƣa triệt ngộ nên chẳng những không
thọ dụng đƣợc, trái lại còn dùng sức chẳng thể nghĩ bàn ấy để
khởi Hoặc tạo nghiệp. Do nghiệp cảm khổ đến nỗi sanh tử, luân
hồi không lúc nào xong, dùng chân tâm thƣờng trụ để lãnh huyễn
báo sanh diệt. Ví nhƣ đang say thấy nhà cửa quay cuồng, nhà
thật sự chẳng quay; mê bảo là phƣơng vị di chuyển, phƣơng vị
thật sự chẳng dời động! Toàn là do vọng nghiệp hóa hiện, trọn
không có pháp nào để đƣợc cả.
Vì thế, Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn thị hiện thành Phật đạo, lúc
Ngài chứng ngộ triệt để Phật quang bèn than: “Lạ thay! Lạ thay!
Hết thảy chúng sanh đều có đủ Nhƣ Lai trí huệ, đức tƣớng,
chỉ do vọng tƣởng, chấp trƣớc nên chẳng thể chứng đắc.
Nếu lìa đƣợc vọng tƣởng thì Nhất Thiết Trí, Tự Nhiên Trí, Vô
Ngại Trí sẽ đƣợc hiện tiền”.                                                                            23
Kinh Lăng Nghiêm chép: “Diệu tánh viên minh lìa
các danh tƣớng, vốn chẳng có thế giới, chúng sanh. Do
vọng mà có sanh, do sanh nên có diệt. Sanh diệt gọi là
Vọng. Diệt vọng gọi là Chân. Ðấy gọi là Nhƣ Lai Vô Thƣợng
Bồ Ðề hay Ðại Niết Bàn, hai danh hiệu sử dụng lẫn nhau”.
Ngài Bàn Sơn nói: “Một mảnh trăng tâm lƣỡi liềm, nuốt mất
ánh sáng muôn vật. Tâm chẳng chiếu cảnh, cảnh cũng
chẳng còn. Tâm, cảnh cùng mất, còn là vật gì?”
Ngài Quy Sơn nói: “Linh quang riêng chiếu, thoát khỏi căn -
trần. Thể lộ chân thƣờng, chẳng phiền văn tự. Tâm tánh
chẳng nhiễm, vốn tự viên thành. Chỉ lìa vọng niệm tức Nhƣ
Nhƣ Phật”.
Do đấy, biết rằng mọi ngôn giáo của Phật,  Tổ, không lời nào
chẳng phải là nhằm chỉ bày tâm tánh sẵn có của chúng sanh,
khiến họ bỏ mê quy ngộ, phản bổn hoàn nguyên (trở về nguồn
gốc) đó thôi! Nhƣng chúng sanh căn cơ có sâu cạn, mê có dày,
mỏng, nếu chẳng nhọc nhằn dùng mọi thứ ngôn giáo để khai thị,
chỉ dẫn, dùng các thứ pháp môn để đối trị thì mỗi ngƣời nhờ đâu
mới nhìn xuyên đƣợc mây mê che lấp tánh không, thấy đƣợc
vầng tâm nguyệt?
Bởi thế, lúc Nhƣ Lai mới thành đạo, trƣớc hết ngài diễn giảng
Ðại Hoa Nghiêm, luận thẳng vào đại pháp vƣợt ngoài  cửu giới,
chẳng xen lẫn với pháp Quyền - Tiểu, hòng những hàng đại cơ
túc căn thành thục đều chứng Chân Thƣờng, vƣợt lên bến Giác.
Lại do độn căn chúng sanh chƣa đƣợc hƣởng lợi ích, Phật liền
khéo dẫn dụ dần dần, tùy cơ diễn thuyết: hoặc dùng Ngũ Giới,
Thập Thiện để nhiếp phục hai thừa nhân  - thiên khiến họ gieo
nhân Phật đạo thù thắng; hoặc là dùng Tứ Ðế, Thập Nhị Nhân
Duyên, Lục Ðộ Vạn Hạnh nhiếp phục ba thừa Thanh Văn, Duyên
Giác, Bồ Tát khiến họ chứng đƣợc cận duyên của Phật đạo.                                                                            24
Bắt đầu từ thời A Hàm cho đến thời Bát Nhã, không
kinh nào là chẳng tuyên thuyết thuận theo căn tánh của chúng
sanh, khiến họ lần lƣợt tiến dần trên đƣờng về nhà. Bổn hoài của
Phật vẫn giữ kín chƣa nói. Mãi đến thời Pháp Hoa, Phật mới khai
Quyền hiển Thật, khai Tích hiển Bổn (5), nhân - thiên - quyền -
tiểu đều là Nhất Thừa, khách làm thuê thật là con ông trƣởng giả!
Ba căn đều đƣợc thọ ký, diễn bày trọn vẹn bổn hoài xuất thế,
cùng hội Hoa Nghiêm ban sơ, đầu cuối chiếu rọi lẫn nhau. Có thể
nói là một đại sự nhân duyên đem giao phó trọn vẹn, không còn
giấu diếm chút gì.
Lại vì chúng sanh đời Mạt căn cơ hèn kém, thật chẳng ai có thể
đoạn Hoặc chứng chân. Vì thế, Phật đặc biệt mở ra một môn
Tịnh Ðộ hòng thƣợng, trung, hạ căn, dù phàm hay thánh cùng lìa
khỏi Sa Bà, sanh về Cực Lạc ngay trong đời này, chứng dần dần
vô lƣợng quang  - thọ. Lòng thâm từ đại bi ấy thật là chí cực
không còn gì hơn đƣợc nữa!
* Phật pháp rộng sâu nhƣ biển cả. Kẻ phàm phu sát đất nào lại
có thể một hơi hút sạch tận nguồn, cạn đáy đƣợc? Tuy nhiên,
nếu có thể sanh tâm chánh tín sẽ tự có thể tùy theo sức mình
đƣợc hƣởng lợi ích. Ví nhƣ Tu La, hƣơng tƣợng và các loài muỗi
mòng uống nƣớc biển cả; loài nào, loài nấy uống no mới thôi.
Ðức Nhƣ Lai xuất thế tùy thuận chúng sanh thuyết pháp khiến
mỗi loài đƣợc lợi ích cũng giống nhƣ thế. Chúng sanh đời mạt
nghiệp chƣớng sâu dày, thiện căn cạn mỏng, tâm trí hẹp kém,
thọ mạng ngắn ngủi. Ðã thế, tri thức ít ỏi, ma tà, ngoại đạo tung
hoành. Tu các pháp môn khác muốn ngay trong hiện đời đoạn
Hoặc chứng chân, liễu sanh thoát tử thật là một việc hy hữu cực
khó.
Chỉ mỗi mình pháp Tịnh Ðộ chuyên cậy vào Phật lực. Thế nên
chẳng cần biết đến Ðoạn, Chứng, chỉ trọng Tín - Nguyện. Nếu có
đủ tín - nguyện, dẫu là hạng tội ác cực đại sắp đọa A Tỳ địa ngục
vẫn có thể nƣơng vào sức thập niệm, mau chóng đƣợc Phật từ                                                                             25
tiếp dẫn vãng sanh. Ôi! Nhƣ Lai đại từ phổ độ chẳng
bỏ sót một ai. Chỉ mình pháp này thật là tóm thâu trọn khắp.
* Pháp môn Niệm Phật nguyên lai ra sao? Do một niệm tâm tánh
của chúng ta giống nhƣ hƣ không thƣờng hằng, bất biến. Tuy
thƣờng chẳng biến, nhƣng lại niệm niệm tùy duyên. Nếu chẳng
duyên theo Phật giới sẽ duyên theo cửu giới. Chẳng duyên theo
tam thừa sẽ duyên theo lục đạo. Chẳng duyên theo nhân thiên,
ắt sẽ duyên theo tam đồ. Do duyên theo nhiễm  - tịnh sai khác
thành ra quả báo sƣớng - khổ khác xa.
Dù bản thể trọn chẳng biến đổi, nhƣng Tƣớng và Dụng dĩ nhiên
khác biệt một trời, một vực! Ví nhƣ hƣ không, mặt trời chiếu thì
sáng, mây đùn thì tối. Tuy bản thể của hƣ không chẳng vì mặt
trời hay mây mà tăng, giảm, nhƣng tƣớng trạng hiện rõ hay ngăn
che cố nhiên chẳng thể nói là cá mè một lứa. Do nghĩa này, Nhƣ
Lai dạy mọi chúng sanh duyên niệm nơi Phật.
Vì thế mới nói: “Nếu tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật
thì hiện tại, tƣơng lai nhất định thấy Phật, cách Phật chẳng
xa”.
Lại nói: “Chƣ Phật Nhƣ Lai là pháp giới thân vào trong tâm
tƣởng của hết thảy chúng sanh. Vì thế, lúc tâm các ngƣơi
tƣởng Phật thì tâm ấy chính là ba mƣơi hai tƣớng, tám mƣơi
vẻ đẹp phụ. Tâm này làm Phật, tâm này là Phật. Biển Chánh
Biến Tri của chƣ Phật từ tâm tƣởng sanh”.
Hễ duyên theo Phật giới thì tâm này làm Phật, tâm này là
Phật. Nếu duyên theo các giới chúng sanh thì tâm này làm
chúng sanh, tâm này là chúng sanh. Ðã hiểu vậy rồi mà vẫn
chẳng niệm Phật, thật là chuyện chƣa từng có! Một pháp  Niệm
Phật lấy vạn đức hồng danh của Nhƣ Lai làm duyên, mà vạn đức
hồng danh ấy chính là Vô Thƣợng Giác Ðạo do đức Nhƣ Lai đã
chứng khi Ngài đắc quả. Do lấy Quả Ðịa Giác (sự giác ngộ khi đã
chứng quả) làm Nhân Ðịa Tâm (cái tâm dùng để tu nhân), cho                                                                             26
nên Nhân trùm biển Quả, Quả thấu tột nguồn Nhân.
Nhƣ ngƣời nhiễm hƣơng, thân có mùi thơm; nhƣ tò vò nuôi
nhện, lâu ngày hóa tò vò con (3). Thành Phật ngay trong đời này,
chuyển phàm thành thánh; công năng, lực dụng của pháp này
vƣợt xa hết thảy các pháp môn khác trong cả một đời giáo hóa
của Ðức Phật. Bởi lẽ, các pháp môn khác đều cậy vào Tự Lực,
phải đoạn Hoặc chứng chân mới hòng liễu sanh thoát tử.
Pháp môn Niệm Phật: Tự Lực và Phật Lực cả hai cùng đủ. Bởi
thế, ngƣời đã đoạn Hoặc Nghiệp sẽ mau chứng Pháp Thân.
Ngƣời đầy dẫy Hoặc Nghiệp thì đới nghiệp vãng sanh. Pháp này
cực kỳ bình thƣờng, dù là kẻ ngu phu, ngu phụ cũng đƣợc
hƣởng lợi ích; nhƣng lại cực kỳ huyền diệu, dẫu là Ðẳng Giác Bồ
Tát cũng chẳng thoát khỏi phạm vi của pháp này. Vì thế, không
một ai là chẳng tu đƣợc. Hạ thủ dễ, thành công cao. Dùng sức ít,
hiệu quả nhanh chóng. Thật là pháp môn đặc biệt trong cả một
đời giáo hóa của Nhƣ Lai. Vì thế, chẳng thể dùng những giáo lý
thông thƣờng để bình luận, phán đoán đƣợc! Mạt Pháp chúng
sanh phƣớc mỏng, huệ cạn, chƣớng dày, nghiệp sâu, chẳng tu
pháp này, toan cậy Tự Lực để đoạn Hoặc chứng chân hòng liễu
sanh tử thật là vạn nan, vạn nan!
* Kể từ Ðại Giáo truyền sang Ðông (ý nói: Phật giáo truyền sang
Trung Hoa), Lô Sơn hƣng khởi Liên Xã, một xƣớng trăm hòa,
không đâu chẳng thuận theo. Nhƣng những vị có đại công làm
rạng rỡ Tịnh tông thì đời Bắc Ngụy có ngài Ðàm Loan. Ngài Ðàm
Loan là bậc chẳng thể suy lƣờng nổi. Do có việc, ngài phải xuống
Nam gặp Lƣơng Vũ Ðế; sau trở về Bắc, Vũ Ðế thƣờng hƣớng về
Bắc cúi lạy, nói: “Loan Pháp Sƣ là bậc nhục thân Bồ Tát!”.
Ðời Trần - Tùy có ngài Trí Giả. Ðời Ðƣờng có ngài Ðạo Xƣớc,
noi theo giáo pháp của ngài Ðàm Loan, chuyên tu Tịnh nghiệp,
cả đời giảng ba kinh Tịnh Ðộ hơn hai trăm lƣợt. Từ cửa ngài Ðạo
Xƣớc, có ngài Thiện Ðạo. Cho đến các vị Thừa Viễn, Pháp
Chiếu, Thiếu Khang, Ðại Hạnh thì liên phong đã thổi khắp cả
trung ngoại (trong và ngoài Trung Hoa). Do vậy, tri thức các tông                                                                             27
không ai là chẳng dùng đạo này để mật tu hoặc hiển
hóa, tự lợi, lợi tha.
Với nhà Thiền, nếu chỉ đề cao hƣớng thƣợng thì một pháp chẳng
lập, Phật còn chẳng thèm bận tâm tới, huống là niệm Phật cầu
sanh Tịnh Ðộ? Ðấy là Chân Ðế: một pháp đã mất thì hết thảy đều
mất. Nói: “Thật Tế Lý Ðịa chẳng nhận một mảy trần” là nói về
Tánh thể. Nếu luận đích xác về mặt tu trì thì lại chẳng bỏ một
pháp nào, chẳng làm việc thì chẳng ăn, huống hồ niệm Phật cầu
sanh Tịnh Ðộ! Ðấy là Tục Ðế: một pháp đã lập thì hết thảy đều
lập.
Nói: “Trong cửa Phật sự chẳng bỏ một pháp” là nói về Tánh sẵn
đủ vậy. Nếu toan bỏ Tục Ðế để luận Chân Ðế thì chẳng phải là
Chân Ðế, khác nào bỏ tứ đại, ngũ uẩn đi tìm tâm tánh. Thân đã
chẳng còn, tâm gởi vào đâu? Nếu dùng Tục Ðế để hiển Chân Ðế
thì đích thực là Chân Ðế. Nhƣ ở nơi mắt thì bảo là thấy, ở tai gọi
là nghe; tức là dùng tứ đại, ngũ uẩn để hiển tâm tánh.
Những điều vừa nói trên đây chính là ý chỉ lớn lao của việc chƣ
Tổ ngầm tu Tịnh Ðộ; nhƣng các ngài chẳng giảng rộng, thuật rõ,
nên nếu chẳng hiểu sâu xa ý Tổ sẽ chẳng biết đƣợc. Cứ nhƣ quy
chế kỳ đảo cho những vị Tăng mắc bệnh và quy cách thiêu hóa,
tống táng những vị đã mất do ngài Bách Trƣợng xác lập, ta thấy
đều quy về Tịnh Ðộ.
Có vị nói: “Tu hành dùng niệm Phật là ổn thỏa, thích đáng”. Ngài
Chân Hiệt Liễu bảo: “Pháp môn Tịnh Ðộ chính là để tiếp dẫn căn
khí thƣợng thƣợng, chỉ kiêm tiếp dẫn căn khí trung hạ”. Ngài còn
bảo: “Trong cả tông Tào Ðộng hết thảy đều ngầm tu. Do vì tu
Tịnh Ðộ thấy Phật giản dị hơn Tông môn rất nhiều”. Ngài cũng
bảo: “Dù Phật hay Tổ, dù Giáo hay Thiền đều tu Tịnh Ðộ, đồng
quy một nguồn”. [Những lời ấy] đủ cho ta thấy đƣợc đại khái
[quan điểm của các thiền sƣ thời ấy].                                                                            28
Kịp đến ngài Vĩnh Minh đại sƣ, bản thân là Cổ Phật,
do nguyện xuất thế mới lƣu lại ngôn giáo rõ ràng, soạn sách lƣu
truyền, hoằng dƣơng. Ngài lại sợ ngƣời học chẳng rõ đƣờng
nẻo, lẫn lộn lợi hại, nên cực lực xƣớng ra bài kệ Tứ Liệu Giản, có
thể nói là cƣơng tông của cả Ðại Tạng. Ngài làm bậc hƣớng đạo
nơi đƣờng rẽ, khiến cho ngƣời học chỉ trong tám mƣơi chữ đốn
ngộ yếu đạo xuất sanh tử, chứng Niết Bàn. Tấm lòng đau đáu
cứu thế của ngài thật là thiên cổ chƣa từng có.
Sau đấy, các tông sƣ đều lƣu lại ngôn giáo rõ ràng, chuyên khen
ngợi pháp này nhƣ các đại tổ sƣ: Trƣờng Lô Trách, Thiên Y
Hoài, Viên Chiếu Bổn, Ðại Thông Bổn, Trung Phong Bổn, Thiên
Nhƣ Tắc, Sở Thạch Kỳ, Không Cốc Long v.v... tuy hoằng dƣơng
Thiền Tông, vẫn chú trọng khen ngợi Tịnh Ðộ.
Ðến khi Liên Trì đại sƣ tham học với Tiếu Nham Ðại Ngộ xong,
cân nhắc mọi bề, đề xƣớng: “Nếu Tịnh nghiệp đã thành, Thiền
Tông sẽ tự chứng. Giống nhƣ tắm nơi biển cả là đã dùng nƣớc
của cả trăm sông. Thân đã đến điện Hàm Nguyên, cần gì hỏi
Trƣờng An đâu nữa!” Sau đấy, các đại tổ sƣ: Ngẫu Ích, Triệt
Lƣu, Tỉnh Am, Mộng Ðông v.v... không vị nào chẳng xƣớng nhƣ
vậy. Bởi lẽ, lập cách hóa độ theo thời, pháp phải phù hợp căn
cơ. Nếu không nhƣ thế, chúng sanh chẳng thể đắc độ!
Từ đấy về sau, Phật pháp suy dần, lại thêm quốc gia lắm biến cố,
pháp luân cơ hồ ngừng chuyển. Dù có bậc trí thức ra sức chống
chọi, nhƣng chẳng đủ sức, đến nỗi chẳng ai hỏi đến đạo này.
Nếu có ai bàn đến pháp này, ngƣời nghe cứ nhƣ đang bị làm
phiền. May còn có một hai vị Tăng, Tục đại tâm, in khắc lƣu
truyền, khiến cho những lời giáo huấn của chƣ Tổ chẳng bị diệt,
khiến cho ngƣời ta đƣợc tạm nghe đến thì thật không còn gì may
mắn hơn!
* Cho đến khi đại giáo truyền sang Ðông, Viễn công đại sƣ (tổ
Huệ Viễn) bèn dùng pháp này lập tông. Lúc đầu, ngài muốn cùng
đồng học là Huệ Vĩnh qua La Phù, nhƣng bị pháp sƣ Ðạo An lƣu                                                                             29
lại. Ngài Huệ Vĩnh bèn một mình đi trƣớc qua Tầm
Dƣơng. Thứ sử Ðào Phạm ngƣỡng mộ đạo phong của Sƣ, bèn
lập chùa Tây Lâm cho Ngài ở. Ðấy là năm Ðinh Sửu niên hiệu
Thái Nguyên thứ hai (377) đời Hiếu Vũ Ðế nhà Ðông Tấn. Ðến
năm Thái Nguyên thứ 9 (Giáp Thân - 384), Viễn công mới đến Lô
Sơn.
Thoạt đầu, Ngài trụ tại Tây Lâm, nhƣng bạn tu tìm đến quá đông,
chùa Tây Lâm chật hẹp không chứa nổi. Thứ sử Hoàn Y bèn bắt
đầu dựng chùa tại phía Ðông núi, đặt tên là Ðông Lâm. Ðến ngày
28 tháng Bảy năm Canh Dần (390 - Thái Nguyên thứ 15), Viễn
công bèn cùng tăng, tục 123 ngƣời, kết Liên Xã niệm Phật, cầu
sanh Tây Phƣơng, sai ông Lƣu Di Dân soạn bài văn khắc vào đá
để minh thệ.
Pháp Sƣ Huệ Vĩnh cũng dự vào Liên Xã. Vĩnh công sống tại Tây
Lâm, trong gian nhà tranh biệt lập trên đảnh núi. Khi ấy có ngƣời
đi Thiền hành, đến bên thất ngài, liền ngửi thấy mùi hƣơng lạ,
nhân đó đặt tên là Hƣơng Cốc (hang thơm) để ngƣời khác suy ra
thì biết.
Lúc Viễn công mới kết xã, có một trăm hai mƣơi ba ngƣời đều là
bậc long tƣợng trong pháp môn, Thái Sơn - Bắc Ðẩu trong làng
Nho. Do đạo phong của Viễn công lan tỏa nên đều rủ nhau tìm
tới. Nếu tính suốt cả hơn ba mƣơi năm trong đời Ngài thì số
ngƣời dự vào Liên Xã tu Tịnh nghiệp, đƣợc tiếp dẫn vãng sanh
rất nhiều không thể tính nổi.
Sau này, các vị Ðàm Loan, Trí Giả, Ðạo Xƣớc, Thiện Ðạo, Thanh
Lƣơng, Vĩnh Minh... không vị nào chẳng nhƣ thế cả: tự hành, dạy
ngƣời. Ngài Ðàm Loan soạn Vãng Sanh Luận Chú diệu tuyệt cổ
kim. Ngài Trí Giả viết Thập Nghi Luận diễn giải đến tột cùng lẽ
đƣợc mất. Ngài soạn Quán Kinh Sớ giảng sâu xa cách quán
tƣởng đúng đắn. Ngài Ðạo Xƣớc giảng ba kinh Tịnh Ðộ gần hai
trăm lƣợt. Ngài Thiện Ðạo sớ giải ba kinh Tịnh Ðộ, cực lực
khuyên chuyên tu. Ngài Thanh Lƣơng sớ giải Phổ Hiền Hạnh                                                                             30
Nguyện Phẩm phát huy đạo rốt ráo thành Phật. Ngài
Vĩnh Minh nói Tứ Liệu Giản chỉ thẳng pháp liễu thoát ngay trong
đời này.
Từ xƣa, các bậc cao nhân trong các tông, không vị nào lại chẳng
hƣớng lòng về Tịnh Ðộ, chỉ có các tông sƣ nhà Thiền lại chuyên
ngầm tu nên không xiển dƣơng rõ rệt. Từ sau khi ngài Vĩnh Minh
xƣớng xuất, các vị mới lƣu lại ngôn giáo rõ rệt, thiết tha khuyên
tu trì. Vì thế, bài Khuyến Tu Tịnh Ðộ Văn của Tử Tâm Tân Thiền
Sƣ có câu: “Di Ðà rất dễ niệm, Tịnh Ðộ thật dễ sanh”. Còn viết:
“Ngƣời tham thiền rất nên niệm Phật. Nếu căn cơ độn, chỉ e đời
này chƣa thể đại ngộ, phải nhờ Di Ðà nguyện lực tiếp dẫn vãng
sanh”. Ngài còn viết: “Nếu ông niệm Phật mà chẳng sanh Tịnh
Ðộ thì lão tăng sẽ đọa trong địa ngục kéo lƣỡi”.
Tác phẩm Tịnh Ðộ Thuyết của Chân Hiết Liễu thiền sƣ có câu:
“Cả một tông Tào Ðộng thảy đều chú trọng ngầm tu. Là vì sao
vậy? Là vì pháp môn Niệm Phật là đƣờng tắt tu hành, thật dựa
vào Ðại Tạng, tiếp dẫn căn khí thƣợng thƣợng kiêm tiếp dẫn căn
cơ trung, hạ”.
Ngài còn viết: “Bậc đại tƣợng trong Tông môn đã ngộ pháp bất
hữu bất không bèn quyết chí khăng khăng nơi Tịnh nghiệp. Do
Tịnh nghiệp thấy đƣợc Phật giản dị hơn Tông môn rất nhiều”.
Ngài còn nói: “Dù Phật hay Tổ, dù Giáo hay Thiền đồng quy một
nguồn. Nhập đƣợc pháp môn này thì vô lƣợng pháp môn thảy
đều chứng nhập”.
Trƣờng Lô Trách thiền sƣ kết Liên Hoa Thắng Hội phổ khuyến
đạo, tục niệm Phật cầu vãng sanh, cảm hai vị Bồ Tát Phổ Hiền,
Phổ Huệ trong mộng đến xin dự hội. Sƣ liền để tên hai vị Bồ Tát
đứng đầu hội. Ðủ thấy pháp này khế lý, khế cơ, chƣ thánh ngầm
khen ngợi.                                                                            31
Trong hai triều Tống Thái Tông và Tống Chân Tông,
pháp sƣ Tỉnh Thƣờng trụ trì chùa Chiêu Khánh ở Chiết Giang,
hâm mộ đạo phong của tổ Lô Sơn Huệ Viễn, lập Tịnh Hạnh Xã.
Ông Vƣơng Văn Chánh Công Ðán quy y đầu tiên, làm ngƣời chủ
xƣớng. Những bậc tể quan, châu mục, học sĩ, đại phu đều xƣng
là đệ tử, tham dự Tịnh Hạnh Xã đến hơn một trăm hai mƣơi
ngƣời. Hàng sa môn tham dự đến hơn ngàn ngƣời, còn hàng sĩ
thứ chẳng thể tính nổi số.
Sau lại có Lộ Công Văn Ngạn Bác làm quan suốt bốn triều Nhân
Tông, Anh Tông, Thần Tông, Triết Tông, xuất tƣớng nhập tƣớng
hơn năm mƣơi năm, quan phẩm đến chức Thái Sƣ, đƣợc phong
là Lộ Quốc Công. Ông bình sinh dốc lòng tin Phật pháp, tuổi già
càng tận lực hỗ trợ đạo pháp, chuyên niệm A Di Ðà Phật. Sáng,
chiều, đi, đứng, chƣa từng thiếu lƣời. Ông cùng với pháp sƣ Tịnh
Nghiêm kết xã 10 vạn ngƣời ở kinh đô để cầu sanh Tịnh Ðộ.
Phần lớn các sĩ đại phu thời ấy đều đƣợc ông giáo hóa. Ông có
bài tụng nhƣ sau:
Tri quân khí đảm đại nhƣ thiên,
Nguyện kết Tây Phƣơng thập vạn duyên,
Bất vị tự thân cầu kế hoạt,
Ðại gia tề thƣợng độ đầu thuyền.
(Tạm dịch:
Biết ngài lớn mật bằng trời,
Xin cùng Tịnh Ðộ kết mƣời vạn duyên
Cứu thân nào tính kế riêng,
Ai ai đều đã bƣớc lên thuyền rồi!)                                                                            32
Ông thọ đến chín mƣơi hai tuổi, niệm Phật qua đời.
Ðời Nguyên - Minh thì có các ngài Trung Phong, Thiên Nhƣ, Sở
Thạch, Diệu Hiệp. Mỗi vị để lại thi ca, hoặc tạo luận giải thích,
không vị nào là chẳng cực lực xiển dƣơng pháp khế lý, khế cơ,
suốt trên, tột dƣới này. Nhƣng các vị Liên Trì, U Khê, Ngẫu Ích là
những ngƣời thành khẩn, thiết tha tột bực nhất.
Ðời Thanh có ngài Phạm Thiên Tƣ Tề, Hồng Loa Triệt Ngộ đều
tận lực hoằng dƣơng đạo này. Các tác phẩm Khuyến Phát Bồ Ðề
Tâm Văn của ngài Phạm Thiên, Thị Chúng Pháp Ngữ của ngài
Hồng Loa có thể nói là những tác phẩm tiếp nối chí nguyện cổ
thánh, khai phát kẻ học hậu lai, kinh thiên địa, động quỷ thần.
Nếu ngƣời học thật có thể hành theo đó thì không ai là chẳng giã
biệt Sa Bà, cao đăng Cực Lạc, làm đệ tử của Phật Di Ðà, làm
bạn hiền trong Hải Hội.
* Cho đến khi nào căn cơ của chúng sanh hết sạch, đức Nhƣ Lai
mới nghỉ ngơi, nhƣng lòng đại bi lợi sanh của Phật chẳng bao
giờ cùng tận. Do đó, các vị đại đệ tử phân phát xá lợi, kết tập
Kinh Tạng mong đƣợc lƣu thông khắp mọi cõi, ngõ hầu tất cả
đều đƣợc Phật pháp thấm nhuần. Mãi đến đời Ðông Hán, đại
giáo mới bắt đầu truyền đến [Trung Quốc]. Nhƣng do phong khí
chƣa mở nên chỉ lƣu thông ở phƣơng Bắc. Ðến đời Tôn Ngô,
vào năm Xích Ô thứ tƣ (241), tôn giả Khang Tăng Khải sang giáo
hóa tại Kiến Nghiệp, cảm đƣợc xá lợi của Nhƣ Lai giáng lâm
khiến cho Tôn Quyền sanh lòng tin tƣởng tột bậc. Họ Tôn bèn
sửa chùa, dựng tháp để hoằng dƣơng pháp hóa. Nam phƣơng
bắt đầu đƣợc thọ hƣởng giáo pháp từ đấy.
Ðến đời Tấn, giáo pháp lan khắp các nƣớc Cao Ly, Nhật Bản,
Miến Ðiện, An Nam, Tây Tạng, Mông Cổ. Từ đấy về sau, ngày
càng hƣng thịnh. Ðến đời Ðƣờng, các tông đã thành lập đầy đủ,
có thể nói là cực thịnh. Các tông Thiên Thai, Hiền Thủ, Từ Ân
hoằng Giáo. Lâm Tế, Tào Ðộng, Quy Ngƣỡng, Vân Môn, Pháp
Nhãn hoằng Tông. Nam Sơn thì nghiêm tịnh Tỳ Ni (Luật). Liên                                                                             33
Tông thì chuyên tu Tịnh Ðộ. Giống nhƣ các bộ chia
nhau coi sóc công việc, hệt nhƣ sáu căn hỗ trợ nhau. Ấy là vì
Giáo là lời Phật, Tông là tâm Phật, Luật là hạnh Phật. Tâm, ngữ,
hạnh ba thứ khó thể tách rời, chỉ là ƣớc trên phƣơng diện chú
trọng vào mặt nào mà lập danh.
Chỉ mỗi mình pháp Tịnh Ðộ mới nhìn thì là phƣơng tiện để phàm
phu nhập đạo, nhƣng thực ra nó là chỗ quy túc rốt ráo của các
tông. Bởi thế, kẻ sắp đọa A Tỳ đƣợc dự vào phẩm chót, bậc đã
chứng ngộ ngang với chƣ Phật vẫn cầu vãng sanh. Lúc đức Nhƣ
Lai còn tại thế, ngàn căn cơ cùng đƣợc nuôi dƣỡng, vạn mạch
đều quy hƣớng. Phật diệt độ rồi, bậc đại sĩ hoằng pháp ai nấy chỉ
hoằng dƣơng một pháp để mong thâm nhập đƣợc một môn.
Chƣ pháp dung thông, ví nhƣ ngàn hạt châu nơi cái lƣới của
Ðế Thích, mỗi hạt châu chẳng lẫn vào nhau, nhƣng ánh sáng
mỗi châu lại chiếu vào hàng  ngàn hạt châu  khác, ánh sáng
của ngàn hạt châu chiếu vào một hạt châu. Soi rọi lẫn nhau
nhƣng chẳng tạp, riêng biệt nhƣng chẳng thể phân khai. Kẻ câu
nệ vào Tích thì bảo: “Hết thảy pháp, mỗi pháp đều sai khác”. Kẻ
khéo hiểu sẽ nói: “Hết thảy pháp, các pháp viên thông”. Nhƣ bốn
cửa thành, gần cửa nào theo cửa đó mà vào. Cửa tuy khác
nhau, nhƣng vào thành chẳng khác. Nếu biết ý này thì chẳng
phải chỉ có những giáo lý rất sâu do chƣ Phật, chƣ Tổ đã nói mới
là pháp để “quy chân đạt bổn” (thấu hiểu một cách chân thật,
thông đạt tận nguồn cội), minh tâm kiến tánh, mà hết thảy Ấm,
Nhập, Xứ, Giới, Ðại v.v... trong khắp thế gian cũng đều là pháp
để quy chân đạt bổn, minh tâm kiến tánh! Mà mỗi một pháp cũng
chính là chân, là bổn, là tâm, là tánh!
Bởi vậy, kinh Lăng Nghiêm coi Ngũ Ấm, Lục Nhập, Thập Nhị Xứ,
Thập Bát Giới, Thất Ðại đều là Nhƣ Lai Tạng Diệu Chân Nhƣ
Tánh. Vì thế bảo rằng: Hết thảy pháp không một pháp nào chẳng
phải là Phật pháp, cũng nhƣ không một ai chẳng phải là Phật.
Tiếc thay chúng sanh châu đeo trong vạt áo trọn chẳng biết hay,
ôm của báu đi ăn xin, chịu khốn cùng oan uổng. Dùng tâm Nhƣ                                                                             34
Lai tạo nghiệp chúng sanh, dùng pháp giải thoát chịu
khổ luân hồi, đáng thƣơng lắm thay! Vì thế, bậc đại sĩ hoằng
pháp chẳng nề gian nan, cay đắng, dùng đủ mọi phƣơng tiện để
khai ngộ, dẫn dắt khiến chúng sanh hiểu đúng sự lý, nhân quả
của mƣời pháp giới, triệt ngộ tự tánh của tâm, ngõ hầu viên
chứng rốt ráo.
Từ Ðƣờng, sang Tống, sang Nguyên, sang Minh, đến Thanh, cả
một ngàn năm, thanh giáo chẳng khuất lấp. Dẫu chẳng hƣng
thịnh bằng thời Ðƣờng, nhƣng cũng có thể nói là suýt soát. Từ
đời Hàm Phong, Ðồng Trị trở đi, binh hỏa liên miên, đói kém liên
tiếp, cao nhân ngày một hiếm hoi, kẻ dung tục ngày càng nhiều,
quốc gia chẳng bận tâm đề xƣớng, tăng lữ không sức chấn
hƣng. Do đó, hàng cao nhân tại gia vì chƣa từng nghiên cứu
Phật pháp, chuộng lầm khuôn sáo cũ của Âu - Hàn (Âu Dƣơng
Tu, Hàn Dũ), đến nỗi đạo pháp suy sụp sát đất. Mãi đến cuối đời
Thanh, học vấn phát triển, những ngƣời thiên tƣ cao tìm đọc kinh
Phật mới hay  gốc đạo chính là đây, mới bèn quyết chí nghiên
cứu.
II.  KHUYÊN TÍN HẠNH NGUYỆN NÊN CHÂN
THÀNH, THA THIẾT
1.  Giảng về lòng tin chân thành, tâm nguyện tha thiết
* Nói đến Tín là nói phải tin Sa Bà thật là khổ, Cực Lạc thật là vui.
Sa Bà khổ vô lƣợng, vô biên. Nói chung, chẳng ngoài tám nỗi
khổ, tức là: sanh, già, bệnh, chết, ân ái biệt ly, oán ghét nhƣng
vẫn phải gặp mặt, cầu chẳng đƣợc thỏa ý, năm ấm lừng lẫy. Tám
nỗi khổ này dù ngƣời cả đời giàu sang tột bực hay kẻ nghèo đến
nỗi phải ăn mày, ai nấy đều có. Bảy thứ đầu là quả báo do đời                                                                             35
quá khứ cảm thành, cứ suy nghĩ kỹ ắt tự biết, chẳng
cần phải nói rõ. Nói rõ sẽ phải tốn nhiều giấy mực.
Nỗi khổ thứ tám (năm ấm lẫy lừng) là do hiện tại khởi tâm động
niệm cũng nhƣ những hành động, nói năng. Ðây chính là nhân
thọ khổ trong đời sau. Nhân quả vấn vít lôi kéo liên tục từ kiếp
này sang kiếp khác chẳng thể giải thoát.
Ngũ Ấm là Sắc, Thọ, Tƣởng, Hành, Thức. Sắc chính là cái thân
do nghiệp báo cảm thành. Thọ, Tƣởng, Hành, Thức là những thứ
do tâm huyễn vọng khởi lên khi tiếp xúc với cảnh. Do các pháp
thân tâm huyễn vọng này bèn đối với sáu trần cảnh khởi Hoặc
tạo nghiệp nhƣ lửa cháy hừng hực chẳng thể dập tắt, nên bảo là
“xí thạnh” (lừng lẫy).
Thêm nữa, Ấm có nghĩa là ngăn che. Do năm pháp này ngăn che
nên chân tánh chẳng thể hiển hiện, nhƣ mây dầy che khuất mặt
trời. Tuy vầng thái dƣơng rực rỡ trọn chẳng bị tổn giảm, nhƣng vì
mây che lấp nên chẳng soi thấu đƣợc. Cũng giống nhƣ thế,
phàm phu chƣa đoạn Hoặc nghiệp bị năm pháp này che phủ,
bầu trời chân tánh và vầng mặt trời trí huệ chẳng thể hiển hiện
đƣợc. Ðấy là nỗi khổ thứ tám, chính là cội gốc của hết thảy các
khổ.
Ngƣời tu đạo sức Thiền Ðịnh sâu, đối với cảnh giới sáu trần trọn
không chấp trƣớc, chẳng khởi oán ghét. Từ đây lại gia công
dụng hạnh, tiến lên chứng đắc Vô Sanh thì Hoặc nghiệp hết
sạch, cắt đứt căn bản sanh tử. Nhƣng công phu này thật chẳng
dễ dàng gì, trong đời mạt thật khó có ai đạt đƣợc. Vì thế phải
chuyên tu Tịnh nghiệp cầu sanh Cực Lạc, nƣơng Phật từ lực
vãng sanh Tây phƣơng.
Ðã đƣợc vãng sanh thì liên hoa hóa sanh, chẳng còn các nỗi
khổ, thuần mang hình dáng bé trai, thọ ngang hƣ không, thân
không tai biến. Những danh từ lão, khổ, bệnh v.v... còn chẳng
nghe đến, huống là thật có! Kề cận thánh chúng, chầu hầu Di Ðà.                                                                             36
Chim, nƣớc, rừng cây đều diễn pháp âm. Tùy theo
căn tánh nghe xong liền chứng, ngƣời thân còn chẳng thấy,
huống là oán thù? Mong áo đƣợc áo, tƣởng ăn liền ăn. Lầu các,
đền đài đều do bảy báu tạo thành, chẳng nhọc sức ngƣời, chỉ là
hóa hiện. Vậy thì bảy nỗi khổ cõi Sa Bà biến thành bảy điều vui.
Nơi thân có đại thần thông, có đại oai lực, chẳng rời chỗ mình
đang ở mà ngay trong một niệm ở khắp các thế giới của chƣ
Phật trong mƣời phƣơng, làm các Phật sự, thƣợng cầu, hạ hóa.
Tâm có đại trí huệ, đại biện tài; nơi một pháp biết Thật Tƣớng
của hết thảy pháp. Tùy cơ thuyết pháp chẳng hề lầm lạc. Tuy nói
những lời thuộc về Thế Ðế nhƣng đều khế hợp diệu lý Thật
Tƣớng. Không có nỗi khổ Ngũ Ấm Xí Thạnh, hƣởng niềm vui
thân tâm tịch diệt. Bởi thế kinh dạy: “Không có các nỗi khổ,  chỉ
hƣởng các sự vui, nên gọi là Cực Lạc”.
Sa Bà khổ, khổ chẳng thể nói. Cực Lạc vui, vui chẳng gì ví nổi.
Tin sâu lời Phật, trọn chẳng nghi hoặc mới gọi là Chân Tín. Ðừng
nên dùng tri kiến ngoại đạo, phàm phu để so lƣờng lầm lạc, cho
rằng mọi thứ trang  nghiêm thắng diệu chẳng thể nghĩ bàn của
Tịnh Ðộ đều là chuyện ngụ ngôn, là thí dụ, là tâm pháp, chẳng
phải cảnh thật. Nếu có các thứ tà kiến, hiểu biết sai lạc nhƣ vậy
sẽ đánh mất điều lợi ích thực sự là đƣợc vãng sanh Tịnh Ðộ. Cái
hại ấy rất lớn, chẳng thể chẳng biết.
* Ðã biết Sa Bà là khổ, Cực Lạc là vui thì hãy nên phát thệ
nguyện thiết thực, nguyện lìa khổ Sa Bà, nguyện hƣởng vui Cực
Lạc. Nguyện ấy phải tha thiết nhƣ bị rớt xuống hầm xí, cầu đƣợc
thoát ra gấp. Lại nhƣ bị giam cầm trong ngục, đau đáu nghĩ đến
quê nhà. Sức mình chẳng thể tự thoát, ắt phải cầu ngƣời có đại
thế lực cứu cho thoát khỏi.
Hết thảy chúng sanh trong thế giới Sa Bà đối với cảnh thuận  -
nghịch, khởi tham, sân, si, tạo giết, trộm, dâm, ô uế diệu giác
minh tâm sẵn có. Ðấy chính là hầm xí không đáy. Ðã tạo nghiệp
ác, ắt phải chịu ác báo, qua nhiều kiếp dài lâu luân hồi sáu nẻo.                                                                             37
Ðấy chính là chốn lao ngục chẳng hề phóng thích tội
nhân. A Di Ðà Phật trong nhiều kiếp quá khứ, phát bốn mƣơi tám
nguyện độ thoát chúng sanh. Có một nguyện là: “Nếu có chúng
sanh nghe danh hiệu ta, cầu sanh về nƣớc ta, dẫu chỉ mƣời niệm
mà nếu chẳng sanh, chẳng lấy Chánh Giác”. A Di Ðà Phật thệ
nguyện độ sanh; nhƣng nếu chúng sanh chẳng cầu tiếp dẫn,
Phật cũng chẳng biết làm cách nào! Nếu nhƣ chí tâm xƣng danh,
thề cầu xuất ly Sa Bà thì không một ai chẳng đƣợc Phật rủ lòng
từ nhiếp thọ. A Di Ðà Phật có đại thế lực, cứu đƣợc ngƣời đang
ở trong hầm phân không đáy, trong lao ngục chẳng hề phóng
thích, khiến họ thoát ngay những chốn ấy, đặt yên họ nơi quê
nhà sẵn có là cõi Cực Lạc, khiến họ nhập cảnh giới Phật, đƣợc
thọ dụng giống nhƣ Phật.
* Phật Di Ðà vì chúng ta phát nguyện, lập hạnh để mong chúng
ta thành Phật. Chúng ta bội nghịch hạnh nguyện của đức Di Ðà
nên bao kiếp dài lâu ngụp lặn mãi trong lục đạo, vĩnh viễn làm
chúng sanh. Hiểu rõ Di Ðà chính là đức Phật ở ngay trong tâm
chúng ta, ta chính là chúng sanh trong tâm Phật Di Ðà. Tâm đã là
một, nhƣng phàm và thánh cách nhau một trời một vực là do ta
cứ một bề mê muội, trái nghịch nên mới đến nỗi thế. Tín tâm nhƣ
vậy mới đáng là Chân Tín. Dùng tín tâm này phát nguyện quyết
định vãng sanh, hành hạnh quyết định niệm Phật mới hòng thâm
nhập Tịnh tông pháp giới, thành tựu ngay trong một đời, một
phen siêu thăng liền vào thẳng ngay địa vị Nhƣ Lai nhƣ mẹ con
gặp gỡ, vui sƣớng vĩnh viễn thƣờng hằng vậy!
* Trong sự niệm Phật, điều trọng yếu nhất là để liễu sanh thoát
tử. Ðã vì liễu sanh tử thì với nỗi khổ sanh tử, tự sanh tâm chán
nhàm; với sự vui Tây phƣơng, tự sanh tâm ƣa thích. Nhƣ thế thì
hai pháp Tín  - Nguyện sẽ đƣợc đầy đủ, trọn vẹn ngay trong
khoảnh khắc ấy. Rồi lại thêm chí thành, khẩn thiết nhƣ con nhớ
mẹ mà niệm thì Phật lực, tự lực, tự tâm tín nguyện công đức lực,
cả ba pháp cùng hiển hiện trọn vẹn, khác nào mặt trời rực rỡ trên
không. Dù cho mây đùn, băng đóng tầng tầng, không lâu cũng sẽ
tan hết cả.                                                                            38
* Hãy thử hỏi: Ngoài tâm không Phật, ngoài Phật
không tâm. Chẳng khẩn thiết thì có đạt đƣợc nhƣ thế chăng?
Không Tín - Nguyện có đạt đƣợc nhƣ thế chăng?
* Phàm là bọn hữu tình chúng ta hễ nghe nói đến pháp môn Tịnh
Ðộ thì phải tin Sa Bà cực khổ, Tây Phƣơng cực vui, phải tin rằng
từ nhiều đời đến nay, nghiệp chƣớng sâu nặng, chẳng cậy vào
Phật lực, khó thể xuất ly. Phải nên tin rằng cầu đƣợc vãng sanh
thì ngay trong đời này sẽ đƣợc vãng sanh. Phải tin niệm Phật
nhất định đƣợc Ngài từ bi nhiếp thọ. Dùng một lòng kiên định
này, nguyện lìa Sa Bà nhƣ kẻ tù muốn thoát khỏi lao ngục, trọn
chẳng có tâm lƣu luyến. Nguyện sanh Tây Phƣơng nhƣ lữ khách
mong quay về cố hƣơng, chẳng hề có ý niệm do dự. Từ đó, tùy
phận, tùy lực, chí tâm trì niệm thánh hiệu A Di Ðà Phật, chẳng
luận là nói năng, im lặng, động, tịnh, đi, đứng, nằm, ngồi, đón tiếp
khách khứa, mặc áo, ăn cơm, giữ sao Phật hiệu chẳng lìa tâm,
tâm chẳng lìa Phật.
* Kinh A Di Ðà nói: “Từ đây đi qua Tây Phƣơng khỏi mƣời vạn ức
cõi có thế giới tên là Cực Lạc. Cõi ấy có Phật hiệu A Di Ðà, nay
hiện đang thuyết pháp”. Kinh còn dạy: “Cõi ấy vì sao tên là Cực
Lạc? Chúng sanh cõi ấy không có các điều khổ, chỉ hƣởng
những điều vui, nên gọi là Cực Lạc”. Không có các điều khổ, chỉ
hƣởng những điều vui là do đƣợc trang nghiêm bởi phƣớc đức,
trí huệ, thần thông đạo lực của A Di Ðà Phật.
Thế giới chúng ta đang sống có đủ cả ba khổ, tám khổ, vô biên
các nỗi khổ, hoàn toàn chẳng vui. Vì thế gọi là Sa Bà. Tiếng
Phạn Sa Bà, Hán dịch là Kham Nhẫn, ý nói: chúng sanh trong thế
giới này có thể kham chịu đƣợc các thứ khổ. Trong thế giới này
chẳng phải là không có điều vui, nhƣng những điều đƣợc coi là
vui ấy lại đều là khổ. Chúng sanh mê muội lại coi đấy là vui, nhƣ
mê rƣợu đắm sắc, săn bắn, bẫy rập, có gì là vui? Một lũ ngu phu
đắm đuối chẳng bỏ đƣợc, thích đến quên mệt, thật đáng xót
thƣơng!                                                                            39
Những điều dù thật sự là vui cũng khó lâu bền.
Chẳng hạn nhƣ cha mẹ cùng còn sống, anh em không xảy ra
chuyện gì; chuyện nhƣ vậy làm sao thƣờng hằng đƣợc mãi? Vì
thế cảnh vui vừa thoáng qua, tâm buồn liền tiếp theo ngay, nên
bảo là “trọn chẳng có gì vui”, chẳng cần phải bàn nữa! Sự khổ
trong thế giới chẳng thể nói hết, nhƣng có thể dùng tam khổ, bát
khổ để bao quát không sót.
Ba khổ là:
- Khổ Khổ.
- Vui (lạc) là Hoại Khổ.
- Chẳng khổ chẳng vui là Hành Khổ.
1) Khổ Khổ là nói thân tâm ngũ ấm này thể tánh bức bách nên
gọi là Khổ. Lại còn phải luôn chịu đựng các nỗi khổ: sanh, già,
bệnh, chết v.v... nên gọi là Khổ Khổ.
2) Hoại Khổ là bất cứ sự gì trong thế gian cũng chẳng đƣợc bền
lâu. Mặt trời giữa Ngọ phải chếch về Tây. Trăng đầy rồi khuyết,
đạo trời còn phải nhƣ thế, huống là việc ngƣời? Cảnh vui vừa
chớm, cảnh khổ đã đến ngay. Nỗi khổ ấy chẳng diễn tả đƣợc nổi!
Vì thế gọi Lạc là Hoại Khổ.
3) Hành Khổ là tuy chẳng khổ, chẳng vui, tựa hồ phải chăng,
nhƣng tánh nó dời đổi, có gì là thƣờng trụ? Vì thế gọi là Hành
Khổ.
Nêu lên ba thứ khổ ấy (Khổ Khổ, Hoại Khổ, Hành Khổ) thì không
có nỗi khổ nào chẳng gộp trong ấy. Ý nghĩa tám khổ trong các
sách đã thuật rõ. Nếu biết cõi này là là khổ thì tâm chán nhàm Sa
Bà sẽ bừng bừng phát sanh. Nếu biết cõi kia là vui thì ý niệm ƣa
thích, mong cầu Cực Lạc sẽ hừng hực phát khởi. Do vậy, chẳng
làm các điều ác, vâng làm các điều lành để bồi đắp nền tảng. Lại                                                                             40
dùng tâm chí thành, khẩn thiết trì danh hiệu Phật,
cầu sanh Tây Phƣơng thì thoát đƣợc cõi Sa Bà này, sanh về cõi
Cực Lạc kia, làm con đích thực của đấng Di Ðà, làm bạn hiền
trong Hải Hội vậy!
* Xem cõi Sa Bà này nhơ xấu còn hơn nhà xí. Tin cõi Cực Lạc
kia chính là quê nhà mình vốn sẵn có. Chẳng cầu phƣớc lạc cõi
trời, cõi ngƣời trong đời này hay đời sau, chỉ nguyện khi báo
chung mạng tận, đƣợc Phật tiếp dẫn vãng sanh. Sáng tối nhƣ
thế, niệm đâu chú trọng đấy, niệm cực công thuần, cảm ứng đạo
giao, lúc lâm chung, ắt đƣợc thỏa nguyện. Ðã sanh về Tịnh Ðộ
sẽ đốn ngộ Vô Sanh, nhìn lại phú quý thế gian khác nào ánh
dƣơng diệm (7), hoa đốm trên không, thật đúng là nhà ngục, biển
độc mà thôi!
2. Khuyên trừ nghi sanh tín
      * Pháp môn Tịnh Ðộ nếu tin cho tới, còn gì tốt lành hơn! Nếu
trí mình chƣa quyết thì phải nên tin tƣởng lời chân thành của chƣ
Phật, chƣ Tổ, trọn chẳng đƣợc một niệm nghi tâm. Nghi sẽ
chẳng tƣơng ứng chƣ Phật, lâm chung nhất định khó thể cảm
thông. Cổ nhân bảo: “Pháp môn Tịnh Ðộ chỉ có Phật với Phật
mới có thể hiểu trọn vẹn. Hàng Ðăng Ðịa Bồ Tát (8) chẳng biết
đƣợc ít phần”. Hàng Ðăng Ðịa Ðại Sĩ còn chẳng thể biết hết,
huống hồ là hạng phàm phu lè tè sát đất lại vọng sanh ức đoán
ƣ?
* Nếu tâm sanh tử thật sự thiết tha, tin tới nơi, tâm chẳng sanh
một niệm ngờ vực thì dù chƣa ra khỏi Sa Bà, đã chẳng còn là
khách trọ lâu ngày trong chốn Sa Bà; chƣa sanh Cực Lạc, nhƣng
đã là khách quý cõi Cực Lạc. Thấy ngƣời hiền mong mình đƣợc
bằng, gặp điều nhân đừng để lỡ. Há có nên do dự, lƣời nhác,
sao nhãng, để đến nỗi một phen lầm lỡ khiến mình bị lỡ làng mãi
mãi ƣ? Là trang nam nhi có huyết tánh, dứt khoát chẳng chịu                                                                             41
sống làm thây đi, thịt chạy, chết mục nát nhƣ cỏ cây.
Hãy gắng lên, cố lên!
     * Trong các pháp môn khác, tiểu pháp thì đại căn chẳng cần
tu, đại pháp thì tiểu căn chẳng tu nổi. Chỉ có một pháp Tịnh Ðộ
này thích ứng khắp ba căn, gồm thâu lợi độn. Trên thì Quán Âm,
Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền, không vị nào vƣợt ra ngoài pháp
này; dƣới thì ngũ nghịch, thập ác, chủng tánh A Tỳ  cũng đƣợc
dự vào. Nếu Nhƣ Lai chẳng mở ra pháp này thì chúng sanh đời
mạt muốn liễu sanh thoát tử ngay trong đời này tuyệt chẳng có
chút hy vọng gì!
Tuy pháp môn này rộng lớn nhƣ thế, nhƣng cách tu lại cực giản
dị. Bởi lẽ đó, chẳng phải là ngƣời kiếp trƣớc có thiện căn Tịnh Ðộ
sẽ khó thể tin chắc chẳng nghi. Chẳng riêng phàm phu không tin,
phần nhiều hàng Nhị Thừa cũng nghi. Chẳng những Nhị Thừa
chẳng tin, quyền vị Bồ Tát vẫn có ngƣời còn nghi. Chỉ có các vị
Bồ Tát Ðại Thừa địa vị cao sâu mới có thể triệt để tin tƣởng
không nghi.
Ngƣời sanh lòng tin sâu xa nơi pháp này, dù là phàm phu đầy
dẫy triền phƣợc nhƣng chủng tánh đã vƣợt qua Nhị Thừa, khác
nào Thái Tử ngã xuống đất vẫn quý hơn quần thần. Tuy tài đức
chƣa lập, nhƣng cậy vào thế lực của cha, cảm đƣợc báo nhƣ
thế. Ngƣời tu Tịnh Ðộ cũng giống nhƣ vậy. Do dùng tín nguyện
trì danh hiệu Phật nên có thể đem tâm phàm phu gieo vào biển
giác của Phật. Bởi thế, ngầm đƣợc Phật trí, ám hợp đạo mầu.
Muốn bàn về pháp tu trong Tịnh Ðộ mà chẳng nói lƣợc qua sự
khó khăn của các pháp cậy vào tự lực để liễu thoát và sự dễ
dàng của pháp cậy vào Phật lực này thì [ngƣời nghe] nếu chẳng
nghi pháp cũng sẽ nghi chính mình. Nếu tâm có chút mảy may
nào nghi ngờ, sẽ do nghi thành chƣớng; đừng nói là không tu, dù
tu cũng chẳng đƣợc lợi ích thật sự. Do vậy phải nói rằng Tín là
một pháp chẳng thể không gấp gáp giảng giải để mong gây dựng
sâu xa đến cùng cực vậy!                                                                            42
      * Pháp môn Tịnh Ðộ do Phật Thích Ca và Di Ðà kiến lập, do
Văn Thù, Phổ Hiền chỉ quy, do Mã Minh, Long Thọ hoằng dƣơng,
do các vị Khuông Lƣ (Huệ Viễn), Thiên Thai (Trí Khải), Thanh
Lƣơng, Vĩnh Minh, Liên Trì, Ngẫu Ích phát huy, xƣớng suất để
khuyên khắp dù phàm hay thánh, dù ngu hay trí. Các vị Bồ Tát
đại sĩ ấy trăm ngàn năm trƣớc, sớm đã vì ta nghiên cứu khắp
các giáo pháp trong Ðại Tạng, đặc biệt chọn ra pháp chẳng cần
đoạn Hoặc mà đƣợc dự ngôi Bổ Xứ này, ngay trong một đời này
quyết định xổ lồng, chí viên, chí đốn, cực kỳ giản dị, thống nhiếp
Thiền - Giáo - Luật, lại vƣợt xa Thiền Giáo Luật cho dù căn cơ
cạn hay sâu, dù Quyền hay Thật. Thật là một diệu pháp thật đặc
biệt, siêu việt lẽ thƣờng.
      Chúng ta chẳng tin tƣởng Phật, Tổ là những bực thầy từ xƣa
bằng những vị tri thức cận thời hay sao? Kinh Hoa Nghiêm là vua
trong Tam Tạng, cuối kinh quy kết chú trọng nguyện vƣơng. Hoa
Tạng hải chúng đều đã chứng Pháp Thân, đều cầu vãng sanh
hòng viên mãn Phật Quả. Bọn ta là hạng gì mà lại dám chẳng bắt
chƣớc theo? Hãy bỏ tâm cuồng ấy, tận lực thực hành đạo này.
Công đức lợi ích sẽ tự chứng biết. Nào đợi phải tham học khắp
cả rồi mới thành hạng biết pháp ƣ?
      * Luận bàn xác thực thì pháp môn Ðại Thừa, pháp nào cũng
viên diệu. Nhƣng căn cơ có sống, chín, duyên có cạn, sâu. Bởi
thế, xét về mặt lợi ích thì có “khó đƣợc” và “dễ đƣợc”. Tổ Thiện
Ðạo, hóa thân của Phật Di Ðà, đã dạy chuyên tu. Ngài chỉ e hành
nhân tâm chí bất định, bị các thầy trong những pháp môn khác
lung lạc, nên bảo: Cho dù thánh nhân Sơ Quả, Nhị Quả, Tam
Quả, Tứ Quả, và Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hƣớng, Ðẳng
Giác Bồ Tát cho đến thập phƣơng chƣ Phật tận hƣ không, trọn
pháp giới hiện thân, phóng quang, khuyên ta bỏ pháp Tịnh Ðộ,
giảng cho pháp thù thắng nhiệm mầu nào khác, ta cũng chẳng
chịu nhận. Thƣa là do lúc ban đầu đã phát tâm chuyên tu Tịnh
Ðộ, chẳng dám trái nghịch nguyện ấy.                                                                            43
Hòa Thƣợng Thiện Ðạo đã sớm thấy ngƣời đời sau
đứng núi này trông núi nọ, chẳng có kiến giải nhất định. Vì thế
Ngài nói nhƣ vậy để kiệt lực xoay chuyển cái tâm ngấm nghé
cuồng vọng, ƣa ham cầu. Ai đã biết ngài Thiện Ðạo là thầy mà lại
chẳng tuân theo? Thế mà ngƣời tuân theo lời Ngài thật chẳng
đƣợc mấy! Có phải là do túc thế ác nghiệp sai khiến đến nỗi
ngoảnh mặt bỏ lỡ pháp khế lý, khế cơ bậc nhất này, không
Thiền, không Tịnh Ðộ, nghiệp thức mang mang, làm kẻ không cội
rễ trong nẻo luân hồi đó chăng? Áo não thay!
      * Tu hành Tịnh Ðộ có cái lẽ quyết định chẳng nghi. Chẳng
cần phải hỏi han ngƣời khác hiệu nghiệm hay không! Dù khắp cả
ngƣời đời không ai đƣợc hiệu nghiệm, cũng chẳng sanh nhất
niệm nghi tâm, cứ lấy lời lẽ chân thành của Phật, Tổ làm căn cứ.
Nếu hỏi ngƣời khác về sự hiệu nghiệm, chính là tin Phật chƣa
đến mức cùng cực, tâm vẫn còn so đo, chƣa thể trọn vẹn mọi
sự. Nam nhi anh liệt quyết chẳng đến nỗi bỏ lời Phật để tin lời
ngƣời, trong tâm không chủ ý, chỉ muốn cậy vào lời ngƣời khác
khoe hiệu nghiệm để hƣớng dẫn tiền đồ của chính mình. Thật
chẳng đáng buồn ƣ?
     * Do tập khí, mỗi chúng sanh có điểm riêng thiên trọng. Kẻ
ngu thiên về cái tầm thƣờng, hèn kém. Ngƣời trí thiên về điều
cao thƣợng. Nếu kẻ ngu cam phận ngu, chẳng tạp dụng tâm,
chuyên tu Tịnh nghiệp sẽ ngay trong đời này quyết định đƣợc
vãng sanh. Nhƣ vậy dù ngu nhƣng chẳng ai bằng đƣợc. Nếu là
ngƣời trí, nhƣng chẳng tự đắc, vẫn từ Sự hƣớng đến pháp môn
cậy vào Phật từ lực, cầu sanh Tịnh Ðộ thì có thể nói là bậc đại trí.
Còn nhƣ cậy vào kiến giải của mình, miệt thị Tịnh Ðộ; sẽ thấy kẻ
đó từ kiếp này đến kiếp khác, trầm luân ác đạo, muốn học đòi
theo kiểu ngu phu ngày hôm nay cũng trọn chẳng thể đƣợc!
      Những ngƣời thông hiểu Tánh Tƣớng Tông Giáo, tôi thực sự
ái mộ, nhƣng chẳng dám học theo. Vì sao? Là vì dây ngắn chẳng
kéo đƣợc nƣớc sâu, túi nhỏ chẳng thể chứa vật lớn. Tôi chẳng
bảo là hết thảy mọi ngƣời đều nên phỏng theo việc tôi làm.                                                                             44
Nhƣng nếu cũng hèn kém nhƣ tôi mà lại toan học
theo hành vi của bậc đại thông gia, toan thẳng vào diệu ngộ tự
tâm, vẫy vùng biển giáo, tôi chỉ e chẳng thành bậc đại thông gia,
trái lại còn bị hàng ngu phu, ngu phụ già giặn, chắc thật niệm
vãng sanh Tây Phƣơng thƣơng xót! Há có phải là biến khéo
thành vụng to, toan bay lên không nhƣng lại bị rớt xuống vực sâu
thăm thẳm đó chăng? Một lời đủ để bao quát hết: Hãy tự xét kỹ
căn cơ của chính mình mà thôi!
      * Ông La Ðài Sơn chẳng đƣợc vãng sanh, lại bị đọa vào nơi
phƣớc báo là do tập khí văn chƣơng quá nặng. Tập khí ấy đã
nặng, dù nói là niệm Phật, nhƣng thực ra niệm niệm đặt nơi công
phu sáng tác văn chƣơng. Công phu niệm Phật chỉ là chống đỡ
mặt ngoài đó thôi. Ðấy là bệnh chung của văn nhân, chẳng phải
chỉ riêng Ðài Sơn thôi đâu! Phật bảo thế trí biện thông là một
trong tám nạn, chính là vì lẽ này.
      * Ngƣời sống trong cõi đời, nhất nhất phải theo đúng bổn
phận của mình, chẳng thể vọng tƣởng tính toán ra ngoài bổn
phận. Tức là nhƣ thƣờng nói: “Quân tử chẳng vƣợt ngoài phận vị
của mình”. Cũng nhƣ nói: “Quân tử chỉ làm đúng theo phận vị
của mình”. Tuy đối với pháp môn Tịnh Ðộ đã sanh tín tâm, nhƣng
ý niệm ƣa cao, chuộng trội vẫn còn chƣa buông xuống đƣợc,
chƣa chịu đặt mình vào hàng ngu phu, ngu phụ. Phải biết rằng
ngu phu, ngu phụ dễ liễu thoát sanh tử bởi tâm họ chẳng có dị
kiến.
Nếu hiểu Tông, thông Giáo, toàn thân có thể buông xuống hết,
thực hành công phu của hạng ngu phu, ngu phụ thì cũng dễ [liễu
thoát sanh tử]. Nếu không thì bậc cao nhân thông Tông, thông
Giáo lại chẳng bằng ngu phu, ngu phụ đới nghiệp vãng sanh!
Pháp môn Tịnh Ðộ lấy vãng sanh làm chủ, tùy duyên tùy phận
chuyên tinh chí mình, Phật quyết chẳng dối ngƣời. Nếu không,
mong bay lên hóa ra lại rớt xuống; đấy là tự mình lầm lẫn, nào
phải lỗi của Phật đâu!                                                                            45
* Một pháp Tịnh Ðộ chính là pháp môn tối huyền, tối
diệu, chí viên, chí đốn trong giáo pháp của cả một đời Ðức Phật
(một pháp có đủ hết thảy pháp là Viên, ngay trong đời này tu sẽ
chứng đắc ngay trong đời này nên bảo là Ðốn). Hạng phàm phu
lè tè sát đất cũng vào đƣợc pháp này, bậc Ðẳng Giác Bồ Tát
cũng chẳng ra khỏi pháp này. Thực là  một con đƣờng tắt để
thƣợng thánh hạ phàm chóng thành Phật đạo, là một chiếc
thuyền từ phổ độ chúng sanh của chƣ Phật, chƣ Tổ.
Chẳng sanh tín tâm nơi pháp này, hoặc tin chẳng chân thành,
thiết tha, chính là do nghiệp chƣớng sâu nặng, chẳng kham liễu
sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh, đời đời kiếp kiếp vĩnh viễn
thƣờng luân hồi lục đạo trong thế giới này, chẳng có kỳ ra. Dẫu
đƣợc làm thân trời, ngƣời, thời gian ấy rất ít, nhƣ khách chỉ ở trọ.
Một phen đọa trong tam đồ, thời gian ấy dài lâu nhƣ ở yên nơi
quê nhà. Mỗi lần nghĩ đến tâm kinh sợ, dựng đứng lông tóc,
chẳng nề rát miệng khẩn cáo đồng nhân.
      * Xem kỹ thơ ngài gởi đến, bàn luận nhiều điều, nhƣng có thể
nói gọn một lời là “chỉ dùng tri kiến phàm phu để suy lƣờng xằng
bậy Phật trí mà thôi”! Vả nhƣ chúng ta từ sống đến chết, trong là
thân tâm, ngoài là cảnh giới, có một ai biết rõ đƣợc nguyên do
mọi sự chăng? Từ khi mình có hiểu biết đến nay, thấy tiền nhân
làm sao mình cũng bắt chƣớc làm đúng nhƣ thế thì thân thể mới
đƣợc thành lập, mọi sự mới thuận tiện, thích đáng, thân tâm an
lạc, từ sống đến chết hƣởng thọ tự tại. Ðối với những lời khuyên
dụ của đức Nhƣ Lai, các hạ cho rằng vì chẳng biết ngọn ngành
Phật trí và ngọn ngành Tịnh Ðộ nhƣ thế nào, nên dù Phật, Tổ nói
lời thành thực, cũng chẳng thể nhân đó sanh lòng tin.
Xin lấy chuyện này để xét: Các hạ suốt ngày ăn cơm, suốt ngày
mặc áo, thì có biết hay là không biết nguồn gốc của việc chống
đói, ngăn lạnh chăng? Nếu nói là biết thì ai là ngƣời biết, xin chỉ
đích xác ra. Nếu chỉ không đƣợc, vẫn  là theo quy củ của tiền
nhân đã lập mà ăn cơm, mặc áo! Sao lại đối với diệu pháp liễu
sanh thoát tử bậc nhất, cứ đòi phải biết trƣớc cội nguồn rồi mới                                                                             46
sanh lòng tin, trọn chẳng chịu do lời thành thực của
chƣ Phật, chƣ Tổ mà sanh lòng tin vậy?
      Hơn nữa, nếu các hạ có bệnh cần phải uống thuốc thì trƣớc
hết sẽ mở sách Bản Thảo, Mạch Quyết ra xem để biết dƣợc
tánh, nguồn gốc căn bệnh rồi căn cứ trên bệnh chứng mà kê toa,
sau đấy mới uống thuốc; hay là lập tức mời thầy lang chẩn mạch,
lập tức uống thuốc? Nếu lập tức uống thuốc thì việc trị bệnh và
học Phật mâu thuẫn nhau quá!
Dù cho có mở sách Bản Thảo, Mạch Quyết ra xem để biết dƣợc
tánh, gốc bệnh, cũng vẫn mâu thuẫn với việc học Phật. Vì sao
vậy? Bản Thảo, Mạch Quyết đều là lời để đời của tiền nhân. Ông
chƣa thể tận mắt thấy, làm sao tin đƣợc? Nếu bảo những câu
trong Bản Thảo, Mạch Quyết chẳng thể không tin thì lời của
Phật, Tổ, thiện tri thức sao lại đều chẳng tin, cứ phải chính mình
thấy mới tin?
Với tri kiến của ông, nếu cứ thực tình mà luận thì trƣớc hết phải
thấy thuốc ấy chạy vào kinh lạc nào, trị đƣợc bệnh nào, rồi mới
kê toa, uống thuốc; quyết chẳng chịu dựa theo những điều nói
trong Bản Thảo, Mạch Quyết để lập toa, uống thuốc. Vì sao vậy?
Vì chƣa từng thấy.
Nay nguồn gốc của việc chống đói, ngăn lạnh, trị bệnh chƣa từng
thấy nhƣng vẫn cứ ăn cơm, mặc áo, uống thuốc; thế thì ngọn
nguồn của Phật và Tịnh Ðộ chƣa từng thấy, dù có lời thành thực
của Phật, của Tổ cũng chẳng tin là vì lẽ gì? Với điều này thì coi là
chuyện liên quan đến tánh mạng, tuy không biết vẫn chẳng dám
không làm đúng nhƣ thế. Còn với chuyện kia lại cậy mình cao
minh, đòi phải thấy tột cùng mới chịu tu trì pháp ấy. Xƣa nay
đƣợc mấy kẻ hào kiệt phi thƣờng nhƣ thế? Do tri kiến đó, rốt cục
chẳng hƣởng lợi ích thật sự của Phật pháp.
Những kẻ bị coi là ngu phu, ngu phụ kia, thoạt đầu cũng chẳng
biết gì, nhƣng y theo quy củ của tiền nhân, cắm đầu niệm Phật.                                                                             47
Bởi đó, ngầm thông Phật trí, thầm hợp đạo mầu, liền
đƣợc đới nghiệp vãng sanh, cùng kẻ đoạn Hoặc vãng sanh đều
chứng Phật Quả, có hơn kẻ chỉ biết xuông rồi thôi chăng? Loại
ngƣời tự dán nhãn mình là hạng xuất cách, do nghi sanh báng,
sẽ từ kiếp này sang kiếp khác, đọa mãi trong ác đạo, dù hàng
ngu phu, ngu phụ niệm Phật vãng sanh thƣơng xót muốn cứu
vớt giùm cũng chẳng biết làm sao! Vì sao? Vì hạng này bị ác
nghiệp bất tín đời trƣớc chƣớng ngại.
      Trí của các hạ nhƣ [bảo kiếm] Can Tƣơng, Mạc Gia, chặt
ngọc nhƣ chém bùn. Do chẳng khéo dùng trí ấy, khác nào dùng
thanh Can Tƣơng, Mạc Gia để chém bùn, bùn không việc gì,
uổng phí kiếm sắc, chẳng đáng buồn sao?
      * Phật pháp là tâm pháp. Hết thảy pháp thế gian chẳng sánh
ví đƣợc. Có sánh ví chẳng qua là để khiến ngƣời ta lãnh hội
đƣợc ý nghĩa. Chẳng đƣợc chấp chết vào sự để bàn ngang.
Dùng cái quạt để ví cho mặt trăng, rung cây dạy gió. Nếu cứ do
cái quạt tìm lấy quang minh, từ nơi cây tìm ra sự phất phơ thì có
còn gọi đƣợc là trí hay chăng? Tuy mộng cảnh là giả, nhân quả
là chân, cũng chẳng ngại dùng mộng cảnh để ví dụ nhân quả, cốt
sao chúng phù hợp nhau.
Là sao? Vọng tâm là Nhân, mộng cảnh là Quả. Nếu không vọng
tâm chắc chắn chẳng có mộng cảnh. Ðiều này nhất định chẳng
dễ luận. Tâm thiện ác và việc tu trì là Nhân, đƣợc quả báo thiện
ác và quả báo tu trì là Quả. Các hạ phải tin; nếu không, do vọng
tâm là nhân của mộng sẽ đƣợc mộng cảnh. Tâm niệm Phật là
nhân thành Phật, gần là đƣợc vãng sanh Tây Phƣơng, xa là rốt
ráo viên thành Phật đạo. Ðấy chính là điều ngài đang nghi, ngăn
trở ngài phát khởi lòng tin vậy!
    * Hãy để chuyện Phật rốt ráo là có hay không lại đó. Các hạ cứ
muốn cật vấn Phật là có hay là không thì hãy tự hỏi chính các hạ
rốt ráo là có hay là không? Nếu bảo là không thì mối ràng buộc
này đây, ai là ngƣời thuật nói? Nếu bảo là có, xin hãy chỉ đích                                                                             48
xác! Lời lẽ của ngƣời nói chỉ là do yết hầu và thức
tâm hợp lại mà có. Văn tự cũng do thức tâm, tay, bút vận động
mà hiện. Mỗi mỗi đều chẳng ngoài Ngũ Uẩn: Sắc, Thọ, Tƣởng,
Hành, Thức, đều chẳng phải là các hạ! Rời ngoài năm pháp này
có chỉ đƣợc ai là các hạ để hỏi Phật rốt ráo là có hay không, mà
cho đó là câu hỏi đại trí huệ?
Nếu chẳng chỉ ra đƣợc chính mình là có hay không, nhƣng lại
muốn biết Phật là có hay không trƣớc đã thì đấy chỉ là câu hỏi
cuồng vọng, không đáng luận tới, chẳng phải câu hỏi thấu đạt lý
đến cùng tận! Phật rốt ráo là có. Vì phàm tình của ông chƣa
sạch, nên Phật chẳng thể hiện. Chính các hạ cũng là có. Do Ngũ
Uẩn của ông chƣa là không nên cũng chẳng thể chỉ ra ngoài Sắc,
Thọ, Tƣởng, Hành, Thức đƣợc!
* Kinh Kim Cang dạy hàng Bồ Tát phát tâm Bồ Ðề, phát tâm độ
hết thảy chúng sanh khiến họ đều chứng Vô Dƣ Niết Bàn, nhƣng
chẳng thấy có một chúng sanh đƣợc diệt độ. Chẳng trụ vào Sắc,
Thanh, Hƣơng, Vị, Xúc, Pháp để hành bố thí. Bố thí đứng đầu
trong lục độ vạn hạnh. Nêu lên bố thí thì trì giới, nhẫn nhục, tinh
tấn, thiền định, trí huệ, cho đến vạn hạnh cũng đều chẳng trụ vào
Sắc, Thanh, Hƣơng, Vị, Xúc, Pháp để tu. Văn kinh này giản lƣợc,
chỉ nêu bố thí để nói chung tất cả các pháp kia.
Hãy nên không trụ vào đâu để sanh tâm. Không có các tƣớng
ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả mà tu hết thảy thiện pháp. Nói
nhƣ vậy thì bảo là hữu tƣớng hay vô tƣớng?
Tƣớng quang minh rộng lớn nhƣ thế chật kín thái hƣ mà bảo là
không thì khác gì mù lòa từ lúc mới sanh? Nói “không có một
chúng sanh đƣợc độ” là chẳng trụ vào tƣớng, vô tƣớng. “Vô sở
trụ” là muốn cho con ngƣời chẳng vƣớng mắc trong phàm tình,
thánh kiến, rồi chấp trƣớc tƣớng.
Nói “độ tận chúng sanh, hành bố thí, sanh tâm, tu thiện pháp” là
muốn cho con ngƣời xứng tánh tu tập pháp tự lợi, lợi tha, ngõ                                                                             49
hầu mình lẫn ngƣời cùng đƣợc viên mãn Bồ Ðề mới
thôi, đừng vƣớng vào đó, vọng chấp vô tƣớng là rốt ráo, chia xẻ
cùng một tri kiến với kẻ nhai bã hèm, có đáng gọi là ngƣời có trí
huệ chăng? Tín có gì là khó khởi, nghi có gì là khó trừ? Ông
quyết định chẳng chịu khởi, quyết định chẳng chịu trừ. Dù Phật
có đích thân  thuyết pháp cho ông, cũng chẳng làm sao đƣợc!
Huống hồ tôi đây chỉ là kẻ phàm phu đầy dẫy triền phƣợc?
* Muốn biết Phật là thật hay giả, sao chẳng đối với những lý
đƣợc bàn trong Tịnh Ðộ Văn, Tây Quy Trực Chỉ và những
chuyện đƣợc chép trong ấy mà phát khởi lòng tin, dứt lòng nghi,
lại cho những ngôn luận, sự tích ấy chỉ là chuyện bịa đặt, lời đồn,
chẳng đáng để vào mắt vậy? Nếu nghĩ nhƣ vậy thì nhất định linh
hồn chẳng đọa trong năm đƣờng nào khác, chỉ ở ngay trong địa
ngục A Tỳ đến hết đời vị lai. Cứ mãi mãi hƣởng thọ vạc sôi, lò
than, rừng gƣơm, núi đao do tâm hiển hiện, cứ coi chúng nhƣ
các thứ lạc cảnh tự tại thọ dụng. Coi đó là vui thì chẳng thể
khuyên dụ đƣợc nữa!
Ông cứ muốn biết Phật là thật hay giả, dù Tịnh Ðộ Văn, Tây Quy
Trực Chỉ nói gì đi nữa đều coi là chẳng thật; chỉ khi tự mình thấy,
đích thân chứng, mới nhận là thật; nay tôi lấy một sự tƣớng để
hỏi, ông nên thẳng thắn đáp lời, chẳng đƣợc hàm hồ, thoái thác.
Bắc Thông Châu Vƣơng là Tiền San, thời nhà Thanh từng giữ
chức Phiên Ðài ở Quảng Tây. Khi ấy, Quảng Tây thổ phỉ rất
nhiều. Lúc ông Tiền coi việc binh bị bèn bày kế diệt hết phỉ đảng,
bắt giết rất nhiều. Bốn năm trƣớc đây, ông mắc bệnh rất nặng.
Cứ chợp mắt liền thấy mình ở trong căn nhà tối. Nhà đó rất lớn,
lại rất tối, bọn quỷ vô số đều đến bức bách ông, sợ quá tỉnh dậy.
Một lát sau, chợp mắt lại thấy y nhƣ cảnh cũ, lại hoảng sợ tỉnh
dậy. Suốt ba ngày đêm chẳng dám chợp mắt. Ông ta chỉ còn thở
thoi thóp, vợ bèn khuyên dụ: “Ông cứ nhƣ thế chẳng tốt đâu!
Ông niệm nam mô A Di Ðà Phật đi, niệm Phật sẽ ổn ngay!” Tiền                                                                             50
San nghe vậy liền gắng niệm. Ðƣợc một chốc liền
ngủ, ngủ đẫy một giấc không mộng mị gì, mà bệnh cũng dần dần
thuyên giảm. Nhân đó, ông trƣờng trai niệm Phật. Năm ngoái,
Tiền San và Trần Tích Chu lên núi, có trò chuyện cùng Quang.
Nếu các hạ lâm vào cảnh ấy, thì cứ phải biết trƣớc là Phật là thật
hay giả rồi sau mới niệm chăng? Hay là nghe xong liền niệm?
Nếu lúc ấy chẳng nhọc công xét thật, giả, cứ niệm ngay, thì hiện
tại sao lại cùng ngƣời đời này bàn bạc ngôn luận, sự tích ngƣời
đời trƣớc là thật hay hƣ? Cứ nhất loạt cho là vọng, chỉ cầu lấy
chỗ đúng; cứ vin vào đó khiến tâm cảnh mơ màng, mờ mịt, còn
toan nhỏ lệ khóc cầu nữa ƣ? Ðã có thể coi phú quý nhƣ chiếc
dép rách, sao không thể coi chấp trƣớc giống nhƣ chiếc dép rách
để bỏ sạch cả đi? Ông tính dùng tri kiến ấy để làm cửa nhập đạo
đấy ƣ? Chẳng biết nó chính là đƣờng để đạt địa ngục A Tỳ đấy!
Lấy mộng để ví cho Phật thì vọng tâm là Nhân, mộng cảnh là
Quả. Ví nhƣ niệm Phật là Nhân, vãng sanh gặp Phật là Quả. Vì
sao có thể lấy sáu thí dụ trong kinh Kim Cang làm chứng? Ngôn
ngữ, văn tự thế gian, một chữ, một sự, chẳng ngại gì diễn tả cả
sang lẫn hèn, giảng giải cả tốt lẫn xấu. Chẳng hạn nhƣ chữ “Tử”,
dùng để chỉ mình đức Phu Tử cũng đƣợc, mà chỉ ngƣời bình
thƣờng cũng đƣợc, dùng để gọi con cái cũng tốt. Ðều phải dựa
vào văn mạch để xác định ý nghĩa, quyết chẳng thể đối với chữ
Tử có nghĩa là Phu Tử, lại giảng là “nhi tử” (con cái) đƣợc. Cõi
Phật là mộng cảnh, đâu cần chờ các hạ thành Phật rồi mới nói
sau. Nói nhƣ vậy chỉ tự tổn hại, vô ích mà thôi!
* Sự, Lý, Tánh, Tƣớng, Không, Hữu, Nhân, Quả lẫn lộn chẳng
phân, chi bằng học theo ngu phu, ngu phụ, cắm cúi niệm Phật,
cứ chí cung, chí kính, một mực thành khẩn. Lâu ngày chầy
tháng, nghiệp tiêu, trí rạng, chƣớng tận, phƣớc dày, mối nghi tâm
ấy triệt để rơi rụng hết, thì những chuyện Phật có hay là không,
chính mình là có hay là không, đƣờng nẻo “vào cửa Phật, lên bờ
kia” đã có xác cứ, nào phải đợi hỏi ai nữa!                                                                            51
Nếu chẳng chuyên tâm, dốc chí niệm Phật, cứ cùng
ngƣời khác bàn xuông những hiểu biết chỉ mới đƣợc một phần
thì cũng giống nhƣ xem kinh Kim Cang nhƣng chẳng biết Thật
Tƣớng. Xem Tịnh Ðộ Văn, Tây Quy Trực Chỉ nhƣng chẳng sanh
tín tâm là do nghiệp ngăn chƣớng tâm, chẳng thể lãnh hội. Nhƣ
kẻ mù nhìn mặt trời, mặt trời ở ngay trên không, mắt nhìn ngay
vào mặt trời nhƣng chẳng thấy đƣợc tƣớng sáng, nào khác lúc
chẳng thấy. Nếu mắt đƣợc sáng lại, vừa nhìn liền thấy ngay
tƣớng sáng.
Một pháp Niệm Phật chính là một pháp tối thiết yếu để mắt đƣợc
sáng lại. Muốn thấy tƣớng trạng Thật Tƣớng, hãy nên dốc trọn
lòng thành nơi pháp này, ắt mau có ngày đƣợc thỏa nguyện lắm.
Muốn tự thấy Chân Ngã, nếu chẳng phải là bậc đại triệt đại ngộ
sẽ chẳng thể làm đƣợc. Muốn chứng ngộ mà chẳng đoạn Hoặc
chứng chân sẽ không thể đƣợc. Muốn viên chứng, nếu ba Hoặc
chƣa đoạn sạch, hai tử (phần đoạn sanh tử và biến dịch sanh tử)
chƣa vĩnh viễn mất, sẽ chẳng thể đƣợc!
Luận trên thực tại, các hạ luân hồi bao kiếp dài lâu và nay đang
cật vấn những điều trái với giáo lý đều là do sức tác dụng của
Chân Ngã. Do các hạ quay lƣng với giác, xuôi theo trần lao, nên
chẳng thể thọ dụng chân thật. Khác nào cái đầu của gã Diễn Nhã
(9), hạt châu trong áo, từ đầu đến cuối chƣa hề mất, lầm sanh sợ
hãi, lầm chịu khốn cùng vậy!
* Tất cả thế gian dù là căn thân hay là thế giới đều là do đồng
nghiệp, biệt nghiệp trong tâm của chúng sanh cảm thành, đều có
thành hoại, đều chẳng trƣờng cửu. Thân có sanh, già, bệnh,
chết; thế giới có thành, trụ, hoại không. Câu nói: “Vật cực tắc
phản, cực lạc sanh bi” (mọi sự đến chỗ cùng cực sẽ chuyển biến
theo chiều ngƣợc lại, vui quá hóa buồn) là nói về ý này. Do Nhân
đã là sanh diệt, Quả cũng chẳng thể không sanh diệt.
Thế giới Cực Lạc là thế giới do Phật A Di Ðà đã chứng ngộ triệt
để Phật tánh sẵn có trong tự tâm, tùy tâm biến hiện, xứng tánh                                                                             52
trang nghiêm. Vì thế, sự vui trong cõi ấy chẳng có lúc
cùng tận. Ví nhƣ hƣ không rộng rãi to lớn, bao hàm hết thảy sâm
la vạn tƣợng. Dù thế giới nhiều lần thành, nhiều lần hoại, hƣ
không rốt ráo chẳng bị tăng giảm.
Ông đem sự vui thế gian để nạn sự vui Cực Lạc, nhƣng sự vui
Cực Lạc ông chƣa thể thấy. Dẫu ông chƣa thể thấy toàn bộ hƣ
không, nhƣng với khoảng hƣ không trong vòng trời đất đây, ông
có bao giờ thấy nó bị biến cải hay chƣa?
Phải biết rằng hết thảy chúng sanh đều có Phật Tánh. Vì thế Ðức
Phật dạy con ngƣời niệm Phật cầu sanh Tây Phƣơng để nhờ
vào nguyện lực đại từ bi của Phật Di Ðà sẽ cũng đƣợc thọ dụng
niềm vui bất sanh bất diệt ấy. Do căn thân là liên hoa hóa sanh
nên không có nỗi khổ sanh, già, bệnh, chết. Thế giới là do công
đức xứng tánh hóa hiện nên không có biến chuyển Thành, Trụ,
Hoại, Diệt. Dù là thánh nhân vẫn có những điều không biết, há
nên vì những pháp sanh diệt trong thế gian mà khởi nghi ƣ?
* Pháp môn Tịnh Ðộ là bi tâm triệt để của đức Nhƣ Lai, là pháp
môn phổ độ chúng sanh khiến cho những kẻ phàm phu đầy dẫy
triền phƣợc, không có sức đoạn Hoặc, nhờ tín nguyện trì danh
sẽ đƣợc liễu thoát ngay trong đời này, cùng làm bè bạn với Quán
Âm, Thế Chí. Trên đến bậc Ðẳng Giác Bồ Tát, địa vị gần kề Phật
Quả vẫn còn phải vãng sanh mới thành Chánh Giác. Chí viên,
chí đốn, thông trên, suốt dƣới, vƣợt trội hết thảy các pháp môn
đã đƣợc giảng trong cả một đời giáo hóa. Vì thế, trong khi Ðức
Phật giảng kinh A Di Ðà, sáu phƣơng chƣ Phật hiện tƣớng lƣỡi
rộng dài đồng thanh tán thán, khen là kinh Công Ðức Chẳng Thể
Nghĩ Bàn Ðƣợc Hết Thảy Chƣ Phật Hộ Niệm.
Phật lại nói: Ta là Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn làm đƣợc chuyện rất
khó, hiếm có. Ðức Thế Tôn ta tự phô bày túc nhân, bảo: “Ta
trong đời ác ngũ trƣợc, làm đƣợc chuyện khó làm sau đây:
chứng đắc Bồ Ðề, vì hết thảy thế gian nói pháp khó tin này. Thật                                                                             53
là rất khó” khiến cho ngƣời nghe tin nhận, phụng
hành, chỉ nhằm bày trọn bổn hoài xuất thế mà thôi.
Nhƣng pháp môn này rất sâu, khó lƣờng, tuy đã đƣợc Bổn Sƣ và
chƣ Phật Thế Tôn cùng khuyên nên tin tƣởng, nhƣng đời vẫn
còn rất nhiều kẻ nghi. Chẳng những hạng thế trí phàm tình chẳng
tin, ngay cả hạng tri thức thông hiểu Tông, Giáo sâu xa cũng còn
ngờ vực. Chẳng những hạng tri thức chẳng tin, mà bậc Thanh
Văn, Duyên Giác đã chứng Chân Ðế, nghiệp tận tình không hãy
còn nghi ngờ. Chẳng những bậc tiểu thánh chẳng tin, ngay cả
Quyền Vị Bồ Tát cũng hãy còn ngờ. Ngay đến bậc Pháp Thân
Ðại Sĩ dù đã tin chắc, nhƣng vẫn chẳng thể thấu hiểu tận cùng
nguồn cội.
Ấy là vì pháp môn này lấy Quả Giác làm Nhân Tâm, toàn thể là
cảnh giới Phật, chỉ mình Phật với Phật mới có thể hiểu trọn,
chẳng phải trí con ngƣời thấu hiểu đƣợc nổi! Bọn phàm phu ta
ngửa tin lời Phật, y giáo phụng hành sẽ tự đƣợc lợi ích thật sự.
Nếu đƣợc nghe pháp môn chẳng thể nghĩ bàn này thì phải là
trong nhiều kiếp đã gieo sâu căn lành, huống hồ là tin nhận,
phụng hành ƣ?
      * Kinh Hoa Nghiêm vua của Tam Tạng, là do đức Nhƣ Lai lúc
tối sơ thành Chánh Giác, vì các bậc Pháp Thân Ðại Sĩ thuộc bốn
mƣơi địa vị đã vƣợt ngoài cửu giới, giảng ra pháp một đời thành
Phật. Chỗ quy tông kết đảnh của Thật Nghĩa rốt ráo là “dùng
mƣời đại nguyện vƣơng, hồi hƣớng vãng sanh Tây Phƣơng Cực
Lạc thế giới để mong viên mãn Phật Quả”.
Cảnh sở chứng của Thiện Tài đã bằng với Phổ Hiền, bằng với
chƣ Phật, đƣợc gọi là bậc Ðẳng Giác Bồ Tát. Ðẳng Giác chỉ kém
Phật một chút vẫn còn phải hồi hƣớng vãng sanh. Toàn bộ các
Bồ Tát trong Hoa Tạng thế giới hải đều bẩm thọ giáo pháp này,
cùng tu pháp này. Huống nay kẻ thông Tông, thông Giáo, mức
căn tánh thông lợi, mức chứng nhập  sâu xa có hơn nổi các vị
Ðẳng Giác Bồ Tát kia chăng? Ngàn kinh, vạn luận, đâu đâu cũng                                                                             54
dạy quy hƣớng. Vãng thánh tiền hiền ai nấy đều
hƣớng về, những kinh luận ấy há chẳng đáng để tuân thủ, hành
theo ƣ? Các vị thánh hiền ấy đều là hạng ngu phu, ngu phụ ƣ?
Nói gọn một lời: Nghiệp sâu chƣớng nặng, chƣa đƣợc giải thoát
nên đến nỗi đối với việc hằng ngày còn chẳng biết, cứ quen thói
chẳng suy xét đó thôi.
      * Nếu bảo: “A Di Ðà Phật an cƣ Cực Lạc. Mƣời phƣơng thế
giới vô lƣợng, vô biên. Trong một thế giới, chúng sanh niệm Phật
đã nhiều vô lƣợng, vô biên, A Di Ðà Phật một thân làm sao tiếp
dẫn khắp hết thảy những chúng sanh niệm Phật trong mƣời
phƣơng vô lƣợng vô biên thế giới đƣợc?”
Ðáp: Sao ông lại dùng tri kiến phàm phu để suy lƣờng Phật
cảnh? Tôi mƣợn thí dụ nói rõ cho ông khỏi lầm. Một vầng trăng
sáng rực trên không, hiện bóng trong vạn con sông, trăng có tâm
chăng? Trên trời chỉ có một vầng trăng, nhƣng biển cả, sông
ngòi, sông to, suối nhỏ, đều hiện trọn vẹn khuôn trăng. Dù nhỏ
nhƣ một chƣớc (10), một giọt nƣớc, không nơi nào chẳng hiện
toàn thể bóng trăng.
Vả nữa, vầng trăng hiện nơi sông, rạch, một ngƣời nhìn thì có
một vầng trăng ở ngay trƣớc ngƣời ấy. Trăm ngàn vạn ức ngƣời
trong trăm ngàn vạn ức chỗ cùng nhìn, không một ai là chẳng có
một vầng trăng ở ngay trƣớc mặt. Nếu trăm ngàn vạn ức ngƣời
ai nấy đi qua Ðông, Tây, Nam, Bắc; mỗi ngƣời đi đến đâu, luôn
thấy trăng cũng đi theo đấy, chẳng hề gần xa! Nếu trăm ngàn vạn
ức ngƣời đứng yên chẳng động, trăng cũng đứng yên chẳng
động, thƣờng ở bên ngƣời. Chỉ là nƣớc trong lặng, trăng sẽ hiện;
nƣớc đục chao động, trăng ẩn mất. Trăng vốn chẳng lấy bỏ,
trăng chẳng hiện là do nƣớc đục ngầu, lay động, chẳng phản
chiếu đƣợc bóng trăng.
Tâm chúng sanh nhƣ nƣớc, A Di Ðà Phật nhƣ trăng. Chúng sanh
đầy đủ tín nguyện hạnh, chí thành cảm Phật thì Phật sẽ ứng nhƣ                                                                             55
nƣớc trong trăng hiện. Nếu tâm chẳng thanh tịnh,
chẳng chí thành, ứng với tham, sân, si, trái nghịch Phật nhƣ
nƣớc vừa đục vừa xao động dù trăng vẫn chiếu xuống nhƣng
chẳng thể hiện bóng rõ ràng.
Trăng là sắc pháp thế gian, còn diệu dụng nhƣ thế, huống hồ
Phật A Di Ðà đã hết sạch phiền hoặc, phƣớc huệ đầy đủ, tâm
trùm thái hƣ, lƣợng trọn pháp giới ƣ? Vì thế kinh Hoa Nghiêm
bảo: “Phật thân đầy khắp pháp giới, hiện trƣớc khắp hết thảy
chúng sanh. Tùy duyên cảm ứng không đâu là chẳng trọn khắp,
nhƣng luôn ngồi nơi tòa Bồ Ðề này”.
Do đó, biết rằng Phật cảm khắp pháp giới, Phật ứng khắp pháp
giới. Phật thật sự chƣa từng khởi tâm động niệm, có ý tƣởng đến
đi, nhƣng có thể khiến cho chúng sanh duyên đã thành thục thấy
Ngài đến đây tiếp dẫn vãng sanh Tây Phƣơng. Cho nên Phật
chẳng phải là một, chẳng phải là hai. Chỉ nêu đại ý để sanh
chánh tín mà thôi.
      * Phải biết rằng pháp môn Tịnh Ðộ chính là để nhiếp phục
ngƣời thƣợng thƣợng căn. Vì thế, Thiện Tài đã chứng Ðẳng
Giác, Phổ Hiền Bồ Tát vẫn dạy dùng mƣời đại nguyện vƣơng hồi
hƣớng vãng sanh ngõ hầu viên mãn Phật Quả; nhân đó, khuyên
khắp Hoa Tạng hải chúng. Do vậy, ta biết rằng một pháp hồi
hƣớng vãng sanh Tịnh Ðộ chính là pháp tối hậu để viên mãn
Phật Quả.
Ðời có kẻ cuồng chẳng hiểu kỹ giáo lý, thấy ngu phu, ngu phụ
đều tu đƣợc pháp này bèn khinh rẻ, cho là pháp Tiểu Thừa,
chẳng biết rằng đây chính là pháp môn đệ nhất một đời thành
Phật, thành thỉ, thành chung của Hoa Nghiêm.
Cũng có kẻ ngu tri kiến hẹp kém, nghĩ mình công phu cạn mỏng,
nghiệp lực sâu dày, làm sao sanh ngay đƣợc; chẳng biết rằng
tâm tánh chúng sanh và tâm tánh của Phật chẳng hai. Ngũ
nghịch, thập ác sắp đọa địa ngục, gặp thiện tri thức dạy cho niệm                                                                             56
Phật đủ cả mƣời tiếng hoặc chỉ mấy tiếng rồi liền
chết đi, còn đƣợc vãng sanh. Lời Quán kinh dạy cớ sao chẳng
tin?
Bọn họ còn vãng sanh, huống hồ chúng ta dù còn tội nghiệp, dù
ít công phu, sánh với kẻ thập ác ngũ nghịch kia [chỉ niệm] mƣời
tiếng hay là mấy tiếng, còn vƣợt trội hơn rất nhiều, lẽ nào tự vội
vàng bỏ qua đến nỗi đánh mất lợi ích vô thƣợng này?
Nhƣ Lai gọi pháp môn Tịnh Ðộ này là pháp khó tin là vì hạ thủ dễ
lại thành công cao, dùng công ít đƣợc hiệu quả nhanh. Chí viên,
chí đốn, thẳng tắt, rộng lớn, giản dị, vƣợt trội hết thảy giáo lý
thông thƣờng. Chẳng phải xƣa vốn đã có thiện căn, quyết sẽ khó
tin nhận, phụng hành. Tôi thƣờng nói: “Cửu giới chúng sanh lìa
khỏi pháp môn này thì trên chẳng thể viên thành Phật đạo. Mƣời
phƣơng chƣ Phật bỏ pháp môn này thì dƣới chẳng thể lợi khắp
quần manh” là chuyện thực vậy.
      * Pháp môn Tịnh Ðộ độ khắp ba căn, chính là để tiếp độ căn
khí thƣợng thƣợng, kiêm tiếp dẫn hạng trung hạ căn. Kẻ ngu
thƣờng hay chê là pháp thiển cận, Tiểu Thừa; nói chung là vì
chẳng xem kinh luận Ðại Thừa, chƣa phải là ngƣời thông suốt có
đủ con mắt. Chỉ dùng cái tâm điên đảo, chấp trƣớc của mình để
suy lƣờng đạo nguyên thủy trọng yếu, chung cục của Nhƣ Lai.
Nhƣ kẻ mù ngó mặt trời, nhƣ ngƣời điếc nghe sấm, đƣơng nhiên
chẳng thấy, chẳng nghe, chỉ đành suy luận vọng tƣởng!
Phải biết một pháp tín nguyện niệm Phật là do Nhƣ Lai vì bi tâm
triệt để phổ độ chúng sanh mà tuyên thuyết. Chỉ có các vị Bồ Tát
nhƣ Quán Âm, Thế Chí, Văn Thù, Phổ Hiền mới có thể rốt ráo
đảm đƣơng. Bọn họ thấy ngu phu, ngu phụ đều niệm Phật đƣợc
bèn coi là pháp Tiểu Thừa thiển cận, khác nào ngôi sao bé chỉ
chiếm lãnh đƣợc khoảng trời nhỏ, con trùng bé chỉ bò đƣợc
khoảng đất hẹp!                                                                            57
Nếu tin tƣởng đƣợc pháp này thì là nhiều kiếp đã
trồng sâu thiện căn. Nếu có thể dùng tín nguyện sâu trì danh hiệu
Phật, nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối thì cái tâm phàm phu
đó biến thành Nhƣ Lai Tạng, nhƣ ngƣời nhiễm hƣơng, thân có
mùi thơm. Hiện tại đã tiếp xúc với khí phận của Phật thì lúc lâm
chung lại chẳng cảm ứng đạo giao, đƣợc Phật tiếp dẫn hay sao?
      3. Khuyên đầy đủ tín nguyện
      * Dù kính cẩn tu trì Ngũ Giới, Thập Thiện, đƣợc thân trời
ngƣời, nhƣng phƣớc lạc nhân gian lại chính là cội rễ đọa lạc. Dù
trên trời phiền hoặc chẳng mãnh liệt nhƣ trong nhân gian, nhƣng
một khi phƣớc trời đã tận, nhất định sẽ đọa xuống. Do túc phƣớc
chƣa tận, nên đƣợc hƣởng phƣớc. Do hƣởng phƣớc nên tạo
nghiệp. Ðã tạo nghiệp rồi thì đọa lạc ác đạo chỉ trong khoảng
nháy mắt, một hơi thở thôi! Huống hồ có kẻ khi mạng trời đã hết,
vì sức ác nghiệp đời trƣớc đã chín, liền đọa ngay vào ác đạo!
Vì thế, cổ đức bảo ngƣời tu hành nhƣng không có chánh niệm tu
trì Tịnh nghiệp, chỉ đƣợc phƣớc báo trời ngƣời thì gọi là oán thù
đời thứ ba. Kinh Pháp Hoa nói: “Tam giới không yên, giống nhƣ
nhà lửa. Thật đáng sợ hãi”. Ngƣời biết tốt xấu phải gấp cầu xuất
ly để đƣợc yên ổn mới là kế sách bậc thƣợng vậy.
      * Một pháp Niệm Phật là cậy vào Phật lực để thoát tam giới,
sanh về Tịnh Ðộ. Nay đã chẳng phát nguyện thì có tín chăng?
(Ngƣời tin thật sự ắt sẽ phát nguyện tha thiết). Tín nguyện đều
không, chỉ niệm Phật danh thì thuộc về Tự Lực. Vì không tín
nguyện nên chẳng thể cảm ứng đạo giao cùng hoằng thệ của
đức Di Ðà. Nếu đã hết Kiến Tƣ Hoặc, có lẽ đƣợc vãng sanh. Còn
nếu hoàn toàn chƣa đoạn hay chƣa đoạn hết sạch thì nghiệp căn
vẫn còn, làm sao thoát ngay khỏi luân hồi cho đƣợc? Ngũ Tổ
Giới Diễn, Thảo Ðƣờng Thanh v.v... chính là những chứng cớ
xác thực.                                                                            58
Phải biết rằng không có tín nguyện mà niệm Phật sẽ
chẳng khác gì tham cứu bên Tông, bên Giáo. Dù có đƣợc vãng
sanh nhƣng nhân quả chẳng phù hợp với nhau! Ngài Ngẫu Ích
nói: “Ðƣợc vãng sanh hay không toàn là do có tín nguyện hay
không. Phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”.
Ðấy chính là phán định chắc nhƣ sắt vậy.
* Bình sinh tuyệt chẳng có tín nguyện thì khi lâm chung nhất định
khó cậy vào Phật lực. Ðã bảo là “thiện ác đồng thời cùng hiện
ngay” thì chẳng luận là bốn chữ A Di Ðà Phật chẳng hiện nên
chẳng đƣợc vãng sanh, mà dù có hiện cũng chẳng đƣợc vãng
sanh! Vì sao vậy? Do chẳng nguyện vãng sanh, do chẳng cầu
Phật, nên chẳng đƣợc Phật tiếp dẫn. Kinh Hoa Nghiêm nói: “Giả
sử ác nghiệp có thể tƣớng thì mƣời phƣơng hƣ không chẳng thể
chứa đựng nổi”. Cổ đức nói: “Nhƣ ngƣời mắc nợ, chủ nợ nào
mạnh sẽ kéo đi trƣớc”. Tâm tình đa đoan, đặt nặng nơi nào sẽ
rơi về đó. Nay thiện ác đều hiện, do không có tín nguyện, chẳng
thể làm gì ác nghiệp đƣợc! Phải biết rằng: Cậy vào tự lực thì nếu
còn một mảy ác nghiệp sẽ chẳng thể xuất ly sanh tử, huống là
nhiều ác nghiệp?
      Lại nếu không tín nguyện, dù niệm đến Nhất Tâm thì trong vô
lƣợng vô biên ngƣời nhƣ thế, may ra có một hai ngƣời đƣợc
vãng sanh. Quyết chẳng thể lấy đó làm gƣơng để cắt đứt thiện
căn của hết thảy ngƣời vãng sanh Tịnh Ðộ trong đời sau.
Vì cớ sao? Ngƣời có thể cậy vào tự lực, niệm đến mức nghiệp
tận tình không, chứng Vô Sanh Nhẫn, trong cả cõi đời ít có đƣợc
một, hai. Nếu ai nấy tu hành theo cách đó, bỏ Tín Nguyện chẳng
theo, thì những chúng sanh bình thƣờng sẽ ở mãi trong biển khổ,
không cách nào xuất ly, đều là do bị một lời này chèn ép cả. Thế
mà kẻ ấy vẫn dƣơng dƣơng đắc ý, cho mình là thật cao, chẳng
biết mình bị đoạn Phật huệ mạng, là chúng sanh ngu si nói
cuồng. Buồn thay!                                                                            59
Với pháp Tịnh Ðộ, phải tránh nhìn bằng một mắt,
chẳng đƣợc đem những giáo nghĩa thông thƣờng để so bì. Nếu
Nhƣ Lai chẳng mở ra pháp  này thì sự liễu sanh thoát tử của
chúng sanh đời mạt sẽ chẳng thể thấy đƣợc.
      * Hãy thƣờng nên phát tâm quyết định, lâm chung quyết định
muốn đƣợc sanh về Tây Phƣơng. Ðừng nói là chẳng muốn thọ
lại thân ngƣời tầm thƣờng, ngay cả thân vua trong cõi trời ngƣời
và xuất gia làm Tăng, nghe một ngộ cả ngàn, đắc đại tổng trì,
hoằng hóa đại pháp, làm thân cao tăng lợi khắp chúng sanh cũng
coi nhƣ chỗ chất chứa tội lỗi, độc hại, tâm quyết định chẳng sanh
một niệm muốn thọ. Quyết định nhƣ thế thì tín nguyện hạnh của
mình mới cảm đƣợc thệ nguyện của Phật, mới đƣợc Phật nhiếp
thọ. Cảm ứng đạo giao, đƣợc Phật tiếp dẫn, thẳng lên cửu phẩm,
vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi.
      * Phải biết rằng: Tây phƣơng Cực Lạc thế giới, đừng nói là
phàm phu chẳng đến đƣợc, ngay cả thánh nhân Tiểu Thừa cũng
chẳng đến đƣợc vì nơi ấy thuộc về cảnh giới Ðại Thừa chẳng thể
nghĩ bàn. Tiểu thánh hồi tâm hƣớng đại thì liền đến đƣợc. Phàm
phu nếu không có tín nguyện để cảm Phật, dù tu hết thảy các
hạnh thù thắng khác lẫn hạnh trì danh thù thắng cũng chẳng thể
vãng sanh. Vì thế, Tín - Nguyện là tối khẩn yếu. Ngài Ngẫu Ích
nói: “Ðƣợc vãng sanh hay chăng toàn là do có tín nguyện hay
không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì danh sâu hay cạn”. Dù
ngàn đức Phật xuất thế cũng chẳng thay đổi đƣợc lời phán định
chắc nhƣ sắt này. Hễ tin cho tới, dám chắc Tây Phƣơng ông phải
có phần.
* Nếu luận về pháp môn Niệm Phật thì chỉ có ba pháp Tín  -
Nguyện  - Hạnh là tông yếu. Ðầy đủ ba pháp, quyết định vãng
sanh. Nếu không có tín thật, nguyện thiết, dù có chân hạnh cũng
chẳng thể vãng sanh, huống là kẻ tu hành hời hợt, qua loa ƣ?
Ngài Ngẫu Ích từng bảo: “Ðƣợc vãng sanh hay chăng toàn là do
có tín nguyện hay không, phẩm vị cao hay thấp toàn là do trì
danh sâu hay cạn”. Bởi lẽ, pháp này cả ba đời chẳng dễ thƣờng                                                                             60
bàn, là đạo mầu độ khắp ba căn. Hãy nên dốc trọn
toàn thân nƣơng về tu tập, mới hòng chứng đƣợc lợi ích thật sự.
Ba thứ Tín - Nguyện - Hạnh sách Thập Yếu đã giảng rõ từng thứ.
Nhƣng trọng yếu nhất là trong phần giảng về Ngũ Trùng Huyền
Nghĩa của sách Yếu Giải, phần thứ ba là Minh Tông (minh định
tông thú của kinh) đã phát huy ba pháp này tinh tƣờng bậc nhất.
Tiếp đó, trong mỗi một đoạn văn, Tổ đều giảng giải về Tín  -
Nguyện - Hạnh. Hãy nên đọc thật kỹ cuốn sách chẳng thể thiếu
này.
* Muốn sanh Tây Phƣơng, trƣớc hết phải có tín thật, nguyện
thiết. Nếu không có lòng tin chân thật, nguyện thiết tha, dù cho tu
hành vẫn chẳng thể cảm ứng đạo giao cùng Phật, chỉ đƣợc
phƣớc báo nhân thiên và tạo thành cái nhân đắc độ trong đời vị
lai mà thôi. Nếu đầy đủ Tín - Nguyện thì [đƣợc vãng sanh] vạn
ngƣời chẳng sót một ai. Tổ Vĩnh Minh bảo: “Vạn ngƣời tu, vạn
ngƣời đến” là nói về Tín Nguyện Hạnh đấy!
      * Phàm lễ bái, đọc tụng kinh điển Ðại Thừa và làm hết những
việc lợi ích ngƣời đời thảy đều đem hồi hƣớng Tây Phƣơng,
chẳng cứ gì niệm Phật mới hồi hƣớng Tây Phƣơng đƣợc. Nếu
đem các công đức khác hồi hƣớng về phƣớc báo thế gian thì
niệm chẳng quy một mối, càng khó vãng sanh. Phải biết rằng nếu
thật sự niệm Phật sẽ chẳng cầu phƣớc báo thế gian, nhƣng tự
đƣợc hƣởng phƣớc báo thế gian. Nếu cầu phƣớc báo thế gian,
chẳng chịu hồi hƣớng vãng sanh thì phƣớc báo thế gian đạt
đƣợc đó sẽ trở thành tệ kém. Tâm chẳng chuyên nhất nên càng
khó quyết định vãng sanh!
      * Ngƣời niệm Phật chỉ nên chân thành, thiết tha niệm Phật, tự
có thể nƣơng vào Phật tự lực tránh khỏi nạn đao binh, lửa, nƣớc.
Chỉ khi nào vì túc nghiệp lôi kéo hoặc do trọng báo địa ngục
chuyển thành báo nhẹ trong hiện đời thì mới mắc phải những
nạn ấy. Nhƣng do thƣờng ngày lòng tin chân thành, nguyện thiết
tha, nên ngay khi ấy đƣợc Phật tiếp dẫn. Dù hiện tại chƣa chứng                                                                             61
tam muội nhƣng đã dự vào dòng thánh. Tự thân nhƣ
hình bóng, đao binh thủy hỏa chẳng trở ngại chi. Dù hiện tại gặp
phải tai ƣơng, thật chẳng bị khổ. Cả thế giới mênh mông, mấy ai
đƣợc nhƣ vậy chăng?
      * Nguyện lìa Sa Bà nhƣ tù nhân mong thoát lao ngục.
Nguyện sanh Cực Lạc nhƣ cùng tử mong về lại cố hƣơng. Nếu
trƣớc khi chƣa sanh về Tịnh Ðộ mà phải nhận lấy ngôi vua trong
cõi trời ngƣời thì cũng phải coi đó là nhân duyên đọa lạc, trọn
không có một niệm mong cầu, hâm mộ. Dẫu đời sau chuyển nữ
thành nam, xuất gia từ thơ ấu, nghe một ngộ cả ngàn, đắc đại
tổng trì, cũng phải coi đó là đƣờng quanh nẻo rẽ, trọn không có
tâm niệm nào mong mỏi cả. Chỉ mong lúc lâm chung, đƣợc Phật
tiếp dẫn, vãng sanh Tây Phƣơng.
Ðã đƣợc vãng sanh sẽ liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh,
ở vào địa vị Bổ Xứ, chứng Vô Sanh Nhẫn, nhìn lại những sự nhƣ
làm vua trong cõi trời ngƣời, xuất gia làm Tăng v.v... nào bằng
Tịnh Ðộ. Tu các pháp môn khác trải bao kiếp khó nhọc, chuyên
cần, nào đƣợc giải thoát! Nhƣ lửa đóm sánh với vầng mặt trời
rạng rỡ, nhƣ gò mối sánh cùng Thái Sơn, khó ngăn buồn
thƣơng, khó kìm run rẩy! Bởi vậy, ngƣời tu Tịnh Ðộ trọn chẳng
thể cầu những sự nhƣ hƣởng phƣớc lạc nhân thiên trong đời
sau và đời sau xuất gia làm Tăng!
Nếu có chút mảy may mong cầu đời sau thì là chẳng có lòng tin
chân thành, nguyện thiết tha, đối với thệ nguyện của đức Di Ðà
sẽ bị cách trở, chẳng thể cảm ứng đạo giao, đƣợc Phật tiếp dẫn!
Nhƣ vậy là đã dùng diệu hạnh thù thắng chẳng thể nghĩ bàn tạo
thành phƣớc nhân hữu lậu trong cõi nhân thiên.
Vả nữa, lúc hƣởng phƣớc ắt sẽ tạo nghiệp. Ðã tạo ác nghiệp ắt
khó tránh ác báo. Nhƣ bỏ chất độc vào đề hồ khiến ngƣời uống
vào phải chết. Kẻ chẳng khéo dụng tâm, mắc họa nhƣ thế. Phải
nên triệt để cắt đứt ý niệm ấy mới hòng đƣợc lợi ích hoàn toàn
nơi Tịnh Ðộ, toàn thân thọ dụng vậy!                                                                            62
    * Dù thọ cả trăm năm, chỉ trong khoảng khảy ngón
tay, thở hắt ra một hơi là chẳng còn nữa! Hãy tìm đƣờng thoát;
chớ để đến lúc lâm chung, hối cũng chẳng kịp! Thƣờng nhớ kinh
dạy: “Thân ngƣời khó đƣợc, trung quốc khó sanh, Phật pháp khó
nghe, tín tâm khó khởi”. Nay may đủ cả bốn điều, càng phải nên
nỗ lực nhƣ đã lên đƣợc núi báu, phải tìm cho đƣợc ngọc Ma Ni.
Chúng sanh vì còn trong địa vị phàm phu, chƣa đoạn Hoặc
Nghiệp, sanh tử giải quyết chƣa xong, khó tránh đọa lạc; cho
nên, đức Nhƣ Lai cực lực khuyên chúng sanh phát tâm chân tín
và nguyện tâm thiết tha, trì danh hiệu Phật cầu sanh Tịnh Ðộ.
Ðem hết thảy công đức đã tạo: cúng dƣờng Tam Bảo, giữ giới cả
đời... chẳng cầu phƣớc báo đời sau trong cõi nhân thiên, chẳng
cầu đời này trƣờng thọ, khỏe mạnh, yên vui, chỉ cầu lâm chung
vãng sanh Tịnh Ðộ thì phù hợp với thệ nguyện của Phật, cảm
ứng đạo giao, chắc chắn đƣợc mãn nguyện. Nhƣ ngƣời rớt
xuống biển, có thuyền đến cứu, nếu chịu lên thuyền sẽ lên đƣợc
bờ kia.
Cầu phƣớc nhân thiên, chẳng cầu vãng sanh nhƣ chẳng lên
thuyền, khó khỏi chết chìm. Phật muốn ông siêu phàm nhập
thánh, ông lại chỉ nguyện đƣợc phƣớc hữu lậu. Một khi phƣớc
báo đã hết, vĩnh viễn đọa trong đồ. Khác nào dùng ngọc Ma Ni
để ném chim sẻ, đƣợc thì ít, mất quá nhiều. Chẳng tiếc lắm ƣ?
Hãy nên tự cảnh tỉnh!
      * Nếu muốn trong đời này đƣợc hƣởng lợi ích chân thật, hãy
nên nƣơng vào pháp môn Tịnh Ðộ, tín nguyện niệm Phật cầu
sanh Tây Phƣơng thì quyết định đƣợc liễu sanh thoát tử. Nếu
chẳng y vào pháp môn Niệm Phật, đừng kể chi kẻ chƣa đƣợc
chân truyền Phật giáo, ngay cả kẻ đã đƣợc chân truyền cũng
chẳng thể liễu sanh thoát tử. Vì sao thế? Dù đƣợc chân truyền,
đại triệt, đại ngộ, nhƣng vẫn chƣa thật chứng. Có chứng mới liễu
sanh thoát tử đƣợc, chứ chỉ ngộ thì chẳng thể liễu!                                                                            63
Tu các pháp môn khác đều phải đoạn Hoặc chứng
chân mới có thể liễu sanh thoát tử. Tu pháp môn Tịnh Ðộ chỉ cần
đủ tín thật, nguyện thiết, trì danh hiệu Phật, đừng làm các điều
ác, vâng làm các điều lành, Chánh -Trợ cùng hành, chẳng những
đƣợc vãng sanh mà phẩm vị còn ƣu thắng nữa. Chẳng riêng kẻ
tin tƣởng thuần thành, siêng tu đƣợc vãng sanh, mà hạng ngũ
nghịch thập ác sanh lòng hổ thẹn lớn lao, chí tâm niệm Phật mấy
tiếng thì ngay lúc mạng chung nhất định đƣợc vãng sanh. Do
lòng từ rộng lớn của Phật, chuyên vì sự nghiệp độ sanh, nhất
niệm hồi quang liền đƣợc nhiếp thọ. Nhƣ thế gọi là “nƣơng Phật
từ lực, đới nghiệp vãng sanh”.
Chúng sanh đời mạt chẳng nƣơng theo Tịnh Ðộ, tu các pháp
môn khác chỉ đƣợc phƣớc báo nhân thiên và tạo nhân duyên đắc
độ cho đời vị lai mà thôi. Do không sức đoạn Hoặc, gốc sanh tử
vẫn còn, dễ hồ chẳng nảy mầm mộng sanh tử nữa ƣ?
      * Pháp Niệm Phật trọng tại tín - nguyện. Tín nguyện chân
thiết, dù trong tâm chƣa thanh tịnh cũng đƣợc vãng sanh. Vì sao
vậy? Do chí tâm niệm Phật là năng cảm, nên A Di Ðà Phật liền
năng ứng. Nhƣ nƣớc trong sông, biển, chƣa thể dứt sạch tƣớng
động; nhƣng nếu không gió cuồng, sóng to thì vầng trăng rạng
ngời trên không sẽ hiện bóng lồ lộ. Cảm ứng đạo giao nhƣ mẹ
con nhớ nhau. Pháp khác chuyên trọng tự lực, chẳng nhờ vào
Phật lực. Cứ do đấy mà hiểu đƣợc nghĩa này vậy.
* Ƣớc theo những cách giảng dạy thông thƣờng thì còn trong
địa vị phàm phu muốn liễu sanh thoát tử thật chẳng phải chuyện
dễ. Nếu ƣớc theo pháp môn đặc biệt tín nguyện niệm Phật cầu
sanh Tịnh Ðộ thì ngay trong hiện đời ắt đƣợc liễu thoát. Nếu nhƣ
đầy đủ tín thật, nguyện thiết thì trong vạn ngƣời nhất định chẳng
sót một ai. Chúng sanh đời mạt chỉ có mỗi một pháp này đáng để
nƣơng cậy. Bởi thế, khi vận mạng đạo pháp ngày càng suy giảm
thì pháp này càng thích đáng căn cơ, thiện tri thức càng đề                                                                             64
xƣớng thiết tha. Chân thật tu trì liền đƣợc vãng sanh,
là điều chứng nghiệm từng thấy.
     * Pháp môn Tịnh Ðộ lấy ba pháp Tín - Nguyện - Hạnh làm
tông. Có tín nguyện thì chẳng luận tu hành nhiều - ít, cạn - sâu
đều đƣợc vãng sanh. Không tín nguyện dẫu đạt đến địa vị cả
Năng lẫn Sở cùng mất, hồi thoát căn trần thì cũng khó đƣợc
vãng sanh.
Nếu nhƣ thật sự đạt đƣợc Thật Lý Năng lẫn Sở cùng mất, hồi
thoát căn trần, có thể cậy vào tự lực để liễu sanh thoát tử thì
chẳng phải bàn đến nữa. Nhƣng nếu công phu chƣa thấy đƣợc
lý này, vẫn còn chƣa thật chứng, nếu không có tín nguyện, cũng
khó vãng sanh.
Thiền gia giảng Tịnh Ðộ quy về Thiền tông, bỏ qua tín nguyện.
Nếu thật sự y theo đó mà tu, họa may đƣợc khai ngộ, nhƣng
chƣa đoạn Hoặc nghiệp, muốn liễu sanh tử thì có mơ cũng mơ
chẳng đƣợc. Bởi phàm phu vãng sanh là do tín nguyện cảm
Phật, nên có thể nƣơng vào Phật từ lực đới nghiệp vãng sanh.
Nay đã chẳng sanh tín nguyện, lại toan đem Phật lẫn cõi nƣớc
quy hết vào tự tâm, làm sao cảm Phật đƣợc? Cảm ứng chẳng
phù hợp thì chúng sanh là chúng sanh, Phật là Phật, biến pháp
Hoành Siêu (siêu việt tam giới theo chiều ngang) thành pháp Thụ
Xuất (thoát tam giới theo chiều dọc), đƣợc lợi thì ít nhƣng lại bị
tổn hại rất sâu! Chẳng thể không biết điều này!
Ðƣợc lợi là do tuân theo thuyết ấy, họa chăng đƣợc khai ngộ.
Còn bị tổn hại là do bỏ đi tín nguyện sẽ không cách chi nhờ vào
Phật từ lực đƣợc. Bởi vậy, tôi bảo: “Ngƣời thực sự tu Tịnh Ðộ
chẳng đƣợc dùng đến lời khai thị của nhà Thiền, vì tông chỉ của
pháp môn bất đồng vậy”.
ẤN QUANG ÐẠI SƢ GIA NGÔN LỤC, HẾT PHẦN I
(dịch xong ngày 13 tháng 12 năm 2003)                                                                            65
(1)    Trung quốc: ở chính giữa đất nƣớc, hoặc những vùng văn
minh, không sanh nơi biên cƣơng, mọi rợ.
(2)    Lục tức thành Phật: Lục tức là xứng lý, danh tự, tƣơng tự,
phần chứng, cứu cánh, quán hạnh. Tức là thành Phật đi từ mặt
lý đến thực chứng. Chẳng hạn nhƣ: Xứng lý  tức thành Phật
nghĩa là chúng sanh ai cũng sẵn Phật tánh, nên về mặt lý, chúng
sanh đều là Phật. Khi nhận hiểu rằng ai cũng có Phật tánh, tin
chắc không nghi nhƣng chƣa đoạn đƣợc phiền não, chƣa chứng
đạo quả, thì chỉ là danh tự tức thành Phật. Khi khởi công tu tập,
đoạn dần phiền não thì gọi là quán hạnh tức thành Phật...
(3)    Tức là kệ tán Phật A Di Ðà: A Di Ðà Phật thân kim sắc....
(4)    Nguyên văn là “tân lƣơng” (bến và cầu), nghĩa bóng là
những hƣớng dẫn chỉ nam.
(5)    Khai Tích hiển Bổn: Bổn là bản thể, Tích là hình tƣớng thị
hiện. Ví nhƣ mặt trăng là Bổn, bóng trăng hiện trong các chỗ có
nƣớc là Tích. Khai Tích hiển Bổn là chỉ dạy về Pháp Thân, chỉ rõ
Ứng Thân. Chẳng hạn trong hội Pháp Hoa, phẩm Nhƣ Lai Thọ
Lƣợng, Ðức Phật chỉ rõ thân thuyết  pháp trong cõi Sa Bà, thọ
tám mƣơi tuổi là ứng thân thị hiện để dẫn dụ chúng sanh về đạo
Nhất Thừa, chứ pháp thân của Phật thƣờng trụ bất hoại. Cũng
nhƣ không riêng trong cõi Sa Bà, Phật còn thị hiện trong nhiều
thế giới khác nhau, dùng nhiều danh hiệu khác nhau để hóa độ
chúng sanh.
(6)    Nguyên văn là “minh linh” (một loại sâu cắn lúa). Dịch là
nhện để thuận theo câu ca dao “tò vò mà nuôi con nhện...”. Thật
ra, tò vò bắt các loài sâu hay nhện, tiêm nọc cho chúng mê đi,
nhƣng vẫn sống, rồi bỏ vào ổ có chứa trứng tò vò con để làm
mồi cho con. Ở đây, Tổ dùng ví dụ này để thuận theo cách hiểu
của thế gian.                                                                            66
(7)    Dƣơng diệm (mirage): ảo ảnh do sức nóng hay
ánh nắng soi lên các lớp không khó lạnh và nóng khác nhau tạo
thành.
(8)    Ðăng Ðịa Bồ Tát: còn gọi là Ðịa Thƣợng Bồ Tát, bậc Bồ Tát
đã chứng từ Sơ Ðịa trở lên.
(9)    Ðầu gã Diễn Nhã: trong kinh Lăng Nghiêm có nhắc đến một
ngƣời tên là Diễn Nhã, soi gƣơng thấy mặt mình, bèn sanh vọng
tƣởng là đầu của ai đây, đầu của mình ở đâu, rồi đâm ra phát
cuồng.
(10)Chƣớc: một phần trăm của thăng (ta thƣờng dịch là thƣng),
đơn vị đo dung lƣợng rất nhỏ. Mƣời chƣớc là một cáp (ta thƣờng
dịch là một “lẻ”). Một thƣng gần bằng một lít (Tàu gọi litre là
“công thăng”). Nhƣ vậy, có thể tạm hiểu một chƣớc gần bằng
một centilitre.                                                                            67
ẤN QUANG ÐẠI SƢ
GIA NGÔN LỤC
PHẦN 2
III. CHỈ DẠY PHƢƠNG PHÁP TU TRÌ
1. Giảng về phƣơng pháp Niệm Phật
      * Ðã có lòng tin chân thành, nguyện thiết tha thì hãy nên tu
chánh hạnh Niệm Phật. Lấy Tín - Nguyện để dẫn đƣờng, lấy
niệm Phật làm chánh hạnh. Ba thứ Tín - Nguyện - Hạnh chính là
tông yếu của pháp môn Niệm Phật. Có Hạnh nhƣng không có
Tín - Nguyện sẽ chẳng thể vãng sanh. Có Tín - Nguyện nhƣng
thiếu Hạnh cũng chẳng thể vãng sanh. Ba thứ Tín - Nguyện -
Hạnh đầy đủ không thiếu sẽ quyết định đƣợc vãng sanh. Ðƣợc
vãng sanh hay không toàn là do có Tín - Nguyện hay không,
phẩm vị cao hay thấp toàn là do công trì danh sâu hay cạn.
Về chánh hạnh niệm Phật nên tùy sức mỗi ngƣời mà lập, chẳng
thể chấp chặt một bề. Nếu thân mình không bận việc, cố nhiên
nên từ sáng đến tối, từ đêm đến sáng, đi, đứng, nằm, ngồi, nói
năng, im lặng, động, tịnh, ăn cơm, mặc áo, đại tiện, tiểu tiện,
trong hết thảy thời, hết thảy chỗ, giữ sao cho một câu hồng danh
thánh hiệu chẳng rời tâm, miệng! Nếu rửa ráy, súc miệng thanh
tịnh, áo mũ chỉnh tề và nơi chốn thanh tịnh thì niệm Phật ra tiếng
hoặc niệm thầm đều đƣợc cả.
Còn lúc ngủ nghỉ, lúc thân hình hở hang, tắm gội, đại tiểu tiện,
cũng nhƣ khi đến chỗ dơ bẩn chẳng sạch, chỉ nên thầm niệm,
đừng niệm ra tiếng. Thầm niệm cũng có cùng một công đức [với
niệm ra tiếng]. Niệm ra tiếng chẳng cung kính. Chớ bảo ở những                                                                             68
chỗ ấy chẳng thể niệm Phật. Phải biết là ở những
nơi ấy, chẳng đƣợc niệm ra tiếng mà thôi. Hơn nữa, lúc nằm ngủ
nếu niệm ra tiếng chẳng những không cung kính lại còn bị tổn
khí. Chẳng thể không biết điều này!
* Dù là niệm Phật lâu ngày chẳng hề gián đoạn, nhƣng mỗi
sáng chiều nên hƣớng về Phật lễ bái. Lễ xong, trƣớc hết, niệm
một biến kinh A Di Ðà, ba biến chú Vãng Sanh; đoạn niệm tám
câu kệ tán Phật: “A Di Ðà Phật thân kim sắc...” Niệm kệ xong,
niệm “nam mô Tây Phƣơng Cực Lạc thế giới đại từ đại bi A Di
Ðà Phật”. Tiếp đó, niệm sáu chữ “nam mô A Di Ðà Phật” một
ngàn lần hoặc năm trăm lần, nên vừa nhiễu Phật vừa niệm. Nếu
chẳng tiện nhiễu Phật thì quỳ, hoặc ngồi, hoặc đứng niệm đều
đƣợc cả.
Lúc niệm gần xong, bèn trở về chỗ, quỳ niệm Quán Âm, Thế Chí,
Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng Bồ Tát, mỗi danh hiệu ba lƣợt. Sau
đấy mới niệm Tịnh Ðộ Văn phát nguyện hồi hƣớng vãng sanh.
Khi niệm Tịnh Ðộ Văn phải nƣơng theo văn nghĩa mà phát tâm.
Nếu tâm chẳng nƣơng theo văn sẽ thành ra uổng công đọc
xuông, chẳng đƣợc lợi ích thật sự! Ðọc Tịnh Ðộ Văn xong niệm
Tam Quy Y, lễ bái lui ra. Ðây là công khóa sáng, buổi tối cũng
nhƣ vậy.
Nếu muốn lễ bái nhiều hơn thì khi trở về chỗ, sẽ lễ Phật bao
nhiêu lạy đó, xƣng danh Bồ Tát chín lƣợt, lễ chín lạy. Lễ xong,
phát nguyện hồi hƣớng. Hoặc lễ bái lúc niệm xong công khóa,
miễn sao tiện cho mình là đƣợc. Nhƣng phải khẩn thiết, chí
thành, đừng làm lếu láo, qua loa. Bồ đoàn chẳng đƣợc cao quá,
cao là chẳng cung kính!
Nếu nhƣ công việc bộn bề, không lúc rảnh rỗi, thì sáng tối sau
khi rửa ráy, súc miệng xong, nếu có tƣợng Phật thì nên lễ Phật
ba lạy, đứng ngay, niệm nam mô A Di Ðà Phật. Hết một hơi là
một niệm. Niệm đến mƣời hơi liền niệm Tiểu Tịnh Ðộ Văn, hoặc                                                                             69
chỉ niệm bốn câu kệ “nguyện sanh Tây Phƣơng Tịnh
Ðộ trung...”. Niệm xong, lễ Phật ba lạy, lui ra.
Nếu không có tƣợng Phật thì hƣớng về Tây xá lạy, chiếu theo
cách trên mà niệm. Ðây là phép Thập Niệm do ngài Từ Vân Sám
Chủ đời Tống vì hàng vƣơng giả, đại thần quá bận rộn việc triều
chánh, không rảnh để tu trì mà lập ra. Vì sao dạy niệm hết một
hơi? Là vì chúng sanh tâm tán loạn, lại không rảnh để chuyên
niệm. Lúc niệm nhƣ vậy, họ sẽ mƣợn khí để nhiếp tâm, tự tâm
chẳng tán. Phải tùy theo hơi dài hay ngắn, chẳng đƣợc cƣỡng
niệm cho nhiều đến nỗi tổn khí.
Lại chỉ nên niệm mƣời hơi, chẳng đƣợc niệm hai mƣơi, ba mƣơi
hơi. Niệm nhiều hơi cũng tổn khí. Vì tán tâm niệm Phật khó đƣợc
vãng sanh nên pháp này khiến cho tâm  quy một chỗ, nhất tâm
niệm Phật, quyết định vãng sanh. Số câu niệm tuy ít, công đức
rất sâu. Ngƣời cực nhàn, kẻ cực bận đều có pháp tắc. Còn kẻ
nửa nhàn, nửa bận hãy tự nên châm chƣớc để lập thành pháp
tắc tu trì.
* Một pháp Niệm Phật chính là diệu pháp bậc nhất để bỏ trần
lao, quay về giác, phản bổn quy nguyên. Ðối với ngƣời tại gia,
pháp này lại càng thân thiết. Vì ngƣời tại gia, thân trong lƣới trần,
công việc đa đoan, đối với những việc nhƣ nhiếp tâm tham thiền,
tụng kinh trong tịnh thất... do hoàn cảnh sẽ chẳng làm đƣợc nổi
hoặc chẳng đủ sức. Chỉ có mình pháp Niệm Phật là thuận tiện
nhất.
Sáng tối đối trƣớc Phật, tùy phận, tùy sức lễ bái, trì niệm, hồi
hƣớng, phát nguyện. Ngoài ra thì đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng,
im lặng, động, tịnh, mặc áo, ăn cơm, hết thảy thời, hết thảy chỗ
đều niệm đƣợc cả. Nhƣng ở nơi sạch sẽ, lúc cung kính thì niệm
ra tiếng hay niệm thầm đều đƣợc. Còn nhƣ ở những nơi chẳng
sạch sẽ (nhƣ vào nhà tiêu chẳng hạn) hoặc nhằm lúc chẳng cung
kính (chẳng hạn nhƣ đang nằm ngủ, tắm gội...) chỉ nên niệm                                                                             70
thầm, chẳng nên niệm ra tiếng, chứ chẳng phải là ở
những chỗ ấy, nhằm lúc ấy, không đƣợc niệm!
Nằm ngủ niệm ra tiếng thì chẳng những không cung kính, lại còn
bị tổn khí, lâu ngày thành bệnh. Công đức niệm thầm giống hệt
công đức niệm bình thƣờng. Ấy là: “Niệm ở đâu sẽ ở đó. Ngay
thẳng cũng do đấy, mà điên đảo cũng bởi đấy”.
* Ðối với những điều nhƣ: Muốn tâm chẳng tham sự vật bên
ngoài, chuyên niệm Phật nhƣng chẳng thể chuyên, cứ toan
chuyên chuyện khác; chẳng thể niệm, cứ muốn niệm những sự
khác; chẳng thể nhất tâm, cứ muốn nhất tâm nơi chuyện khác
v.v... thì chẳng có pháp tắc kỳ đặc, áo diệu nào khác cả; cứ lấy
một chữ Tử dán ngay trên trán, rủ xuống tận lông mày, tâm luôn
nghĩ:
“Ta là ngƣời nào mà từ vô thỉ mãi cho đến đời này  đã tạo ác
nghiệp vô lƣợng, vô biên. Giả sử ác nghiệp có thể tƣớng thì tận
mƣời phƣơng hƣ không chẳng thể chứa đựng nổi. Ðời trƣớc do
may mắn nào, nay đƣợc thân ngƣời, lại đƣợc nghe Phật pháp.
Nếu chẳng nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phƣơng, khi một
hơi thở ra chẳng trở lại, quyết sẽ phải thọ khổ trong vạc sôi, lò
than, rừng gƣơm, núi đao nơi địa ngục, chẳng biết phải trải qua
mấy kiếp.
Dù thoát địa ngục, lại đọa vào ngạ quỷ, bụng to nhƣ biển cả,
họng bé nhƣ chiếc kim, đói khát bao kiếp dài lâu. Trong họng lửa
cháy, chẳng đƣợc nghe đến tên chất tƣơng hay nƣớc, khó đƣợc
no lòng chốc lát. Từ ngạ quỷ ra, lại làm súc sanh: bị ngƣời cƣỡi
cổ, hoặc gieo thân vào bếp núc nhà ngƣời. Dù đƣợc làm ngƣời,
cũng ngu si, vô trí, coi tạo nghiệp là đức năng, coi tu thiện là
gông cùm. Chẳng qua mấy mƣơi năm lại bị đọa lạc; trải qua kiếp
số nhiều nhƣ cát bụi luân hồi lục đạo. Dù có muốn xuất ly, cũng
chẳng biết làm sao!”.                                                                            71
Nghĩ đƣợc nhƣ thế thì những việc mong muốn nói
trên sẽ thành tựu đƣợc ngay. Bởi thế, ông Trƣơng Thiện Hòa,
Trƣơng Chung Quỳ, lâm chung tƣớng địa ngục hiện, niệm Phật
mấy tiếng liền tận mắt thấy Phật đến tiếp dẫn vãng sanh. Lợi ích
nhƣ thế, trăm ngàn vạn ức pháp môn khác trong cả một đời giáo
hóa của Ðức Phật đều không có. Tôi thƣờng nói: “Cửu giới
chúng ta rời pháp này thì trên là chẳng thể viên thành Phật đạo.
Mƣời phƣơng chƣ Phật bỏ pháp này thì dƣới là chẳng thể lợi
khắp quần sanh” chính là vì lẽ này.
* Nếu niệm Phật tâm khó quy nhất thì nên nhiếp tâm niệm khẩn
thiết, tâm sẽ tự có thể quy nhất. Tâm chẳng chí thành, muốn
nhiếp tâm cũng chẳng đƣợc. Nếu đã chí thành, nhƣng vẫn chƣa
thuần nhất thì hãy nên lắng tai nghe kỹ; chẳng luận là niệm ra
tiếng hay niệm thầm, mỗi niệm đều phải từ tâm khởi, tiếng từ
miệng thoát ra, âm thanh lọt vào tai (khi niệm thầm, miệng chẳng
động, nhƣng trong ấy vẫn có thanh tƣớng). Tâm và miệng niệm
đƣợc rõ ràng, tách bạch; tai nghe cho rõ ràng, phân minh. Nhiếp
tâm nhƣ thế vọng niệm sẽ tự dứt.
Nếu sóng vọng tƣởng vẫn còn trào dâng thì dùng ngay pháp
Thập Niệm Ký Số, dốc toàn bộ sức lực của tự tâm đặt vào mỗi
câu Phật hiệu thì vọng muốn khởi cũng chẳng đủ sức. Diệu pháp
nhiếp tâm niệm Phật rốt ráo này các vị hoằng dƣơng Tịnh Ðộ
trƣớc kia chƣa nhắc đến vì căn tánh ngƣời thời ấy còn lanh lợi,
chẳng cần phải làm vậy vẫn có thể quy nhất. Ấn Quang vì tâm
khó chế phục, mới biết cách này mầu nhiệm, càng thực hành
càng thấy hiệu nghiệm, chứ chẳng phải là tự tiện nói mò. Xin chia
sẻ cùng những ngƣời độn căn trong khắp thiên hạ đời sau ngõ
hầu vạn ngƣời tu, vạn ngƣời về.
Pháp Thập Niệm Ký Số vừa nhắc đến đó nhƣ sau: Trong khi
niệm Phật, từ một câu đến mƣời câu phải niệm cho phân minh,
nhớ số phân minh. Niệm hết mƣời câu lại niệm từ một câu đến
mƣời câu, chẳng đƣợc niệm hai mƣơi, ba mƣơi câu. Niệm câu
nào nhớ câu nấy, chẳng đƣợc lần chuỗi,  chỉ dựa vào tâm để                                                                             72
nhớ. Nếu thấy khó nhớ cả mƣời câu thì chia ra làm
hai hơi: từ câu thứ nhất đến câu thứ năm và từ câu thứ sáu đến
câu thứ mƣời. Nếu vẫn chƣa đƣợc, hãy niệm thành ba hơi: từ
câu thứ nhất đến câu thứ ba, từ câu thứ tƣ đến câu thứ sáu, và
từ câu thứ bảy đến câu thứ mƣời. Niệm cho rõ ràng, nhớ cho
phân minh, nghe cho rành rẽ, vọng niệm không chỗ chen chân,
lâu ngày sẽ tự đƣợc Nhất Tâm Bất Loạn.
Phải biết là pháp Thập Niệm này nhiếp vọng giống nhƣ pháp
Thập Niệm sáng chiều, chỉ có cách dụng công là khác nhau.
Pháp Thập Niệm Sáng Chiều coi hết một hơi là một niệm, chẳng
luận là số câu niệm Phật nhiều hay ít; còn cách này cứ một câu
là một niệm. Cách kia chỉ có thể niệm mƣời hơi vào mỗi sáng,
chiều; nếu niệm đến hai mƣơi, ba mƣơi hơi sẽ bị tổn khí thành
bệnh. Cách này niệm một câu Phật hiệu, tâm biết là một câu;
niệm mƣời câu Phật hiệu, tâm biết là mƣời câu. Từ một đến
mƣời, rồi lại từ một đến mƣời. Suốt ngày niệm mấy vạn câu đều
giống nhƣ thế. Chẳng những trừ đƣợc vọng, lại còn dƣỡng thần
rất hay. Dù niệm chậm hay nhanh, trọn chẳng trệ ngại. Từ sáng
đến tối, không lúc nào chẳng thích hợp.
So với cách lần chuỗi để nhớ số, lợi ích cách xa một trời một
vực. Cách nhớ số bằng chuỗi khiến thân mệt, tinh thần động.
Cách Thập Niệm Ký Số này khiến thân thong thả, tâm an nhàn.
Chỉ những lúc làm việc khó nhớ nổi số thì cứ khẩn thiết niệm.
Làm việc xong, lại nhiếp tâm nhớ số thì những ý tƣởng lông bông
qua lại sẽ theo nhau gom về chuyên chú nơi một cảnh Phật hiệu.
Ðức Ðại Thế Chí nói: “Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, đắc
tam-ma-địa, ấy là bậc nhất”. Kẻ lợi căn chẳng cần bàn đến, còn
nhƣ bọn độn căn ta bỏ cách Thập Niệm Ký Số này lại mong
“nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” thật khó khăn lắm thay!
Lại phải nên biết rằng cách nhiếp tâm niệm Phật này chính là
pháp vừa cạn vừa sâu, vừa Tiểu vừa Ðại, chẳng thể nghĩ bàn!
Chỉ nên ngửa tin lời Phật, chớ vì mình chƣa hiểu đến nơi đến                                                                             73
chốn bèn sanh ngờ vực, đến nỗi thiện căn nhiều kiếp
do đây phải mất, chẳng thể tự rốt ráo đạt đƣợc lợi ích, thật là
đáng buồn!
Chỉ nên lần chuỗi niệm Phật trong hai lúc: đi hoặc đứng. Nếu tịnh
tọa dƣỡng thần, do tay động tinh thần chẳng thể an, lâu ngày
thành bệnh. Pháp Thập Niệm Ký Số này, đi, đứng, nằm, ngồi đều
thực hành đƣợc cả, nhƣng lúc nằm chỉ nên niệm thầm, chẳng
đƣợc niệm ra tiếng. Nếu niệm ra tiếng thì một là chẳng cung
kính, hai là bị tổn khí. Hãy nhớ kỹ, nhớ chắc!
* Ðã có lòng tin chân thành, nguyện thiết tha, phải nên chí tâm
chấp trì sáu chữ thánh hiệu “nam mô A Di Ðà Phật”. Bất luận đi,
đứng, nằm, ngồi, nói năng, im lặng, mặc áo, ăn cơm, và đại tiểu
tiện v.v... đều chẳng lìa sáu chữ hồng danh (hoặc trì bốn chữ
cũng đƣợc). Cần phải niệm sao cho toàn tâm là Phật, toàn Phật
là tâm, tâm Phật chẳng hai, tâm Phật nhất nhƣ. Nếu có thể niệm
tại đâu chú tâm tại đó, niệm đến cùng cực, tình mất sạch, tâm
không, Phật hiện, sẽ chứng đƣợc tam muội ngay trong đời này.
Ðến lúc lâm chung, sanh trong Thƣợng Thƣợng Phẩm, có thể
nói là đã hoàn tất sự tu trì đến cùng cực vậy.
* Lúc niệm Phật nên tùy nghi. Nay trong Niệm Phật đƣờng của
các tùng lâm đều niệm kinh A Di Ðà xong thì niệm chú Vãng
Sanh ba biến hoặc một biến, rồi mới xƣớng kệ niệm Phật. Tán kệ
xong, niệm tiếp “nam mô Tây Phƣơng Cực Lạc thế giới đại từ đại
bi A Di Ðà Phật” rồi nhiễu niệm. Phải đi nhiễu từ Ðông sang Nam,
từ Tây sang Bắc. Ðấy là thuận tùng, là tùy hỷ. Thuận tùng mới có
công đức. Tây Vực trọng nhất là đi nhiễu. Ở phƣơng này, cùng
thực hành cả hai cách lễ bái và đi nhiễu. Nếu đi từ Ðông sang
Bắc, từ Tây sang Nam thì là “phản nhiễu” (đi nhiễu ngƣợc chiều)
sẽ mắc tội, chẳng thể không biết điều này! Nhiễu niệm một khắc
rƣỡi rồi ngồi thầm niệm. Ƣớc chừng một khắc lại niệm Phật ra
tiếng.                                                                            74
Niệm xong, quỳ niệm Phật mƣời lần. Quan Âm, Thế
Chí, Thanh Tịnh Ðại Hải Chúng, mỗi danh hiệu niệm ba lƣợt. Sau
đấy mới niệm Phát Nguyện Văn. Ngƣời tại gia ngại thất nhỏ khó
nhiễu niệm thì đứng, quỳ hay ngồi niệm đều đƣợc. Chỉ nên án
theo tinh thần mình mà định, bất tất phải nhờ ngƣời khác lập
pháp tắc cho mình.
* Niệm Phật tuy quý ở tâm niệm, nhƣng chẳng thể bỏ miệng
tụng. Vì ba thứ thân - khẩu - ý hỗ trợ nhau. Nếu tâm ức niệm,
nhƣng thân chẳng lễ kính, miệng chẳng trì tụng thì cũng khó
đƣợc lợi ích. Thế gian nhấc vật nặng còn phải dùng tiếng [hò reo]
để trợ lực, huống là muốn nhiếp tâm để chứng tam muội ƣ?
Vì thế, kinh Ðại Tập nói: “Niệm lớn thấy Phật lớn. Niệm nhỏ thấy
Phật nhỏ”. Cổ đức bảo: “Niệm lớn tiếng sẽ hiện thân Phật lớn.
Niệm nhỏ tiếng sẽ hiện thân Phật nhỏ”. Hàng phàm phu đầy dẫy
triền phƣợc, tâm nhiều hôn trầm, nếu chẳng nhờ vào sức thân
khẩu lễ niệm mà mong đƣợc nhất tâm thật chẳng thể đƣợc!
* Hòa Thƣợng Thiện Ðạo là hóa thân của đức Di Ðà, có đại
thần thông, có đại trí huệ, nhƣng khi hoằng khai, xiển dƣơng
Tịnh Ðộ, Ngài chẳng luận đến chỗ huyền diệu, chỉ chú trọng vào
những điểm chân thật, thiết thực, bình thƣờng để dạy ngƣời tu
trì. Thuyết Chuyên Tạp Nhị Tu (hai đƣờng lối chuyên tu và tạp tu)
của Ngài dạy lợi ích vô cùng.
Chuyên Tu nghĩa là thân nghiệp chuyên lễ (đi nhiễu và trong hết
thảy chỗ đều chẳng phóng dật thì là thân nghiệp chuyên lễ), khẩu
nghiệp chuyên xƣng (hễ trì tụng kinh chú đều chí tâm hồi hƣớng,
cũng có thể gọi là chuyên xƣng), ý nghiệp chuyên niệm. Nhƣ thế
thì vãng sanh Tây Phƣơng vạn ngƣời chẳng sót một.
Tạp Tu là kiêm tu các thứ pháp môn, hồi hƣớng vãng sanh. Do
tâm chẳng thuần nhất nên khó đƣợc lợi ích; trong trăm ngƣời
họa may đƣợc một hai, trong ngàn ngƣời may ra đƣợc ba bốn                                                                             75
ngƣời vãng sanh! Ðấy là lời chân thành phát xuất từ
miệng vàng, là lời phán định chắc nhƣ sắt ngàn đời chẳng đổi
đƣợc.
* Phát Nguyện Văn, văn tuy rộng lớn, nhƣng phải chân thật phát
nguyện từ nơi tâm mới gọi là Nguyện. Nếu không, tâm - miệng
trái nhau, gọi là Nguyện sao đƣợc? Muốn nguyện [đƣợc phƣớc
báo] trong hiện đời cũng chẳng ngại gì. Muốn đƣợc phƣớc huệ,
đông con lắm cháu thì cứ cầu bằng cách chất chứa thật nhiều
âm đức, rộng hành các phƣơng tiện.
* Niệm Phật chẳng thể bỏ qua hồi hƣớng. Hồi hƣớng chính là
dùng miệng để phát khởi tín nguyện. Nhƣng chỉ nên hồi hƣớng
sau khi hoàn tất khóa tụng sáng tối và sau khi niệm Phật, tụng
kinh giữa ngày xong. Niệm Phật thì nên niệm từ sáng đến tối
chẳng gián đoạn, chỉ cần trong tâm có ý niệm nguyện đƣợc vãng
sanh là đã luôn hồi hƣớng. Nếu cứ theo nghi thức tụng văn hồi
hƣớng sẽ chẳng luôn luôn đƣợc nhƣ vậy. Các kinh Ðại Thừa,
kinh nào cũng đều dạy chúng sanh thẳng đến Phật đạo; chỉ hận
ngƣời tụng chẳng thành tâm niệm tụng, đến nỗi chẳng đƣợc lợi
ích hoàn toàn.
* Trong sinh hoạt hằng ngày, với tất cả những việc thiện nhỏ nhoi
và các thiện căn tụng kinh, lễ bái đều đem những công đức ấy
hồi hƣớng vãng sanh. Nhƣ thế thì hết thảy hạnh môn đều là Trợ
Hạnh của Tịnh Ðộ. Giống nhƣ các hạt bụi tụ thành đất, các dòng
chảy dồn lại thành biển rộng lớn sâu thẳm, ai có thể cùng tận
đƣợc nổi!
Nhƣng phải phát Bồ Ðề tâm, thệ nguyện độ sanh, tất cả công
đức tu trì hồi hƣớng cho khắp bốn ân, ba cõi pháp giới chúng
sanh, nhƣ lửa thêm dầu, nhƣ mạ gặp mƣa. Ðã kết sâu pháp
duyên cùng hết thảy chúng sanh thì sẽ mau thành tựu hạnh Ðại
Thừa thù thắng của chính mình. Nếu chẳng biết nghĩa này thì chỉ
là sự hiểu biết của phàm phu, Nhị Thừa, dù tu diệu hạnh chỉ cảm
đƣợc quả báo thấp kém!                                                                            76
* Nên phát nguyện vào lúc niệm Phật sáng chiều
xong (với pháp Thập Niệm sáng chiều cũng phải niệm Phật trƣớc
rồi mới phát nguyện). Hoặc là dùng bài Tiểu Tịnh Ðộ Văn [để
phát nguyện]. Nếu thân tâm rảnh rỗi thì nên đọc bài Tịnh Ðộ Văn
do Liên Trì đại sƣ soạn. Bài này văn từ, nghĩa lý châu đáo, hay
nhất xƣa nay. Phải biết rằng phát nguyện đọc văn là nƣơng theo
văn để phát nguyện, chứ chẳng phải chỉ đọc qua một lƣợt là đã
phát nguyện đâu!
      * Với công khóa mỗi ngày, công khóa nào cũng đều nên hồi
hƣớng cho pháp giới chúng sanh. Nếu đem công khóa này hồi
hƣớng cho việc này, công khóa kia hồi hƣớng cho việc kia thì
chẳng phải là không đƣợc, nhƣng phải có lời phổ đồng hồi
hƣớng thì mới tƣơng hợp với ba thứ hồi hƣớng.
Ba thứ hồi hƣớng là:
- Một là hồi hƣớng về Chân Nhƣ Thật Tế, tâm tâm khế hợp.
- Hai là hồi hƣớng Phật Quả Bồ Ðề, niệm niệm viên mãn.
- Ba là hết thảy pháp giới chúng sanh cùng sanh Tịnh Ðộ.
Ai nấy có chí riêng, ngƣời ngƣời có nghiệp riêng (nghiệp ở đây là
thức nghiệp), nhƣng tùy duyên tùy phận đều đƣợc vãng sanh cả,
bất tất mọi ngƣời phải giống hệt nhau.
2. Ðối trị tập khí
      * Niệm Phật muốn đƣợc nhất tâm thì trƣớc hết phải phát tâm
chân thật, thật sự vì liễu sanh tử, chẳng phải vì mong ngƣời đời
gọi mình là ngƣời tu hành chân thật. Lúc niệm, từng câu, từng
chữ phải từ tâm phát khởi, từ miệng thốt ra, lọt vào tai. Mỗi câu
đều nhƣ thế, trăm ngàn vạn câu cũng đều nhƣ thế. Làm đƣợc                                                                             77
nhƣ thế thì vọng niệm không do đâu khởi đƣợc, tâm
và Phật tự có thể khế hợp nhau. Lại phải khéo dụng tâm, đừng
đến nỗi quá chấp trƣớc để rồi thân tâm bất an, đến nỗi ma sự có
thể phát khởi. Nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối, hành đúng
theo đây, nhất định sẽ chẳng lầm lạc.
      * Lúc niệm Phật chẳng thể khẩn thiết là vì chƣa biết Sa Bà
là khổ, Cực Lạc là vui! Nếu nghĩ rằng thân ngƣời khó đƣợc, trung
quốc khó sanh, Phật pháp khó nghe, pháp môn Tịnh Ðộ lại càng
khó gặp. Nếu chẳng nhất tâm niệm Phật, một hơi thở ra chẳng
trở lại, chắc chắn sẽ tùy theo nghiệp nặng nhất trong đời trƣớc
hay đời này đọa trong tam đồ ác đạo, chịu khổ bao kiếp dài lâu
trọn chẳng có kỳ ra.
Nhƣ thế là “do nghĩ khổ địa ngục, phát Bồ Ðề tâm”. Bồ Ðề tâm
chính là tâm tự lợi, lợi tha. Tâm này vừa phát sẽ nhƣ bình đƣợc
sét đánh xuống, nhƣ thuốc thêm lƣu huỳnh, sức nó rất lớn lại rất
nhanh chóng. [Do phát tâm Bồ Ðề] tiêu đƣợc nghiệp chƣớng,
tăng phƣớc huệ, chẳng thể lấy những thiện căn, phƣớc đức bình
thƣờng sánh ví nổi.
      * Niệm Phật nên thƣờng tƣởng nhƣ mình sắp chết, sắp đọa
địa ngục, thì chẳng khẩn thiết cũng sẽ tự khẩn thiết, chẳng tƣơng
ứng cũng tự tƣơng ứng. Dùng tâm sợ khổ niệm Phật chính là
diệu pháp thoát khổ bậc nhất, cũng là diệu pháp tùy duyên tiêu
nghiệp bậc nhất.
* Trị tập khí trong tâm thì chỉ có siêng năng, chỉ có thiết tha,
nhƣng vẫn chƣa đạt, chƣa thấy đƣợc tập khí tiêu trừ là vì cớ gì?
Ấy là tâm sanh tử chƣa thiết tha, chỉ đem pháp siêu phàm nhập
thánh, tiêu trừ Hoặc nghiệp, thành tựu tịnh niệm này bàn suông
nơi cửa miệng nên chẳng đạt hiệu quả thật sự.
Nếu nhƣ biết thân ngƣời khó đƣợc, Phật pháp khó nghe, pháp
môn Tịnh Ðộ lại càng khó gặp. Nay mình may đƣợc thân đại
trƣợng phu, lại đƣợc nghe pháp môn Tịnh Ðộ khó tin nhất, dám                                                                             78
đâu để quang âm hữu hạn bị tiêu hao hết sạch bởi
sắc, thanh, của cải, lợi lộc, để rồi vẫn sống thừa, chết uổng nhƣ
cũ, vẫn lại trầm luân lục đạo, không ngày thoát ra ƣ?
Hãy đem ngay một chữ Tử dán vào trán. Hễ những cảnh chẳng
nên tham luyến hiện ra liền biết đấy chính là vạc sôi, lò than của
chính mình, quyết sẽ chẳng đến nỗi nhƣ con thiêu thân đâm đầu
vào lửa, cam chịu đốt mình! Với những sự mình phải nên làm sẽ
biết đấy là thuyền từ để thoát khổ, quyết sẽ chẳng đến nỗi gặp
việc nhân bèn thoái thác, thấy việc nghĩa chẳng làm! Nhƣ thế thì
trần cảnh sẽ là duyên để nhập đạo, há cần phải dứt sạch trần
duyên mới kham tu đạo chăng? Bởi đã làm chủ đƣợc tâm, chẳng
bị cảnh chuyển thì trần lao chính là giải thoát.
Vì thế, kinh Kim Cang mấy lƣợt dạy ngƣời tâm chẳng trụ tƣớng,
phát tâm độ tận hết thảy chúng sanh, nhƣng chẳng thấy  ta là
ngƣời độ, chúng sanh là ngƣời đƣợc độ và tƣớng thọ giả của vô
dƣ Niết Bàn để đắc thì mới là thật sự hành Bồ Tát đạo. Nếu thấy
có ta là ngƣời độ, chúng sanh đƣợc độ và vô dƣ Niết Bàn là
pháp để độ thì tuy là độ sanh, nhƣng chƣa thể khế hợp đạo Nhất
Thừa Thật Tƣớng. Vì chẳng thấu rõ bản thể của chúng sanh là
Phật, Phật tánh bình đẳng, vọng khởi phàm tình, thánh giải đến
nỗi lợi ích vô vi biến thành công đức hữu vi. Huống hồ là tham
luyến, dính chặt vào thanh, sắc, của cải, lợi lộc ƣ?
* Niệm Phật chẳng thể thuần nhất thì phải chế tâm, chẳng để nó
chạy theo bên ngoài. Lâu ngày sẽ tự đƣợc thuần nhất. Nói “thành
phiến” (tâm biến thành một phiến, một khối) nghĩa là thuần nhất,
không tạp vậy.
      * Sơ tâm niệm Phật, lúc còn chƣa tự chứng tam muội, ai lại
chẳng có vọng niệm? Cốt sao tâm thƣờng giác chiếu, chẳng
chuyển theo vọng. Ví nhƣ quân hai bên đối đầu nơi chiến lũy, ắt
phải giữ vững thành quách bên mình chẳng để quân giặc xâm
phạm chút nào, chờ lúc giặc vừa phát tác, mình liền nghênh địch,
đánh trả, ắt phải dùng quân Chánh Giác bao vây bốn mặt khiến                                                                             79
địch không lối lên trời, không nẻo chui xuống đất.
Chúng nó sợ bị tận diệt bèn khuất phục, quy hàng.
Ðiều tối yếu là chủ soái chẳng hôn trầm, chẳng lƣời nhác, luôn
luôn tỉnh táo mà thôi. Nếu một phen  hôn trầm, lƣời nhác thì
chẳng những không diệt đƣợc giặc, trái lại còn bị giặc diệt. Vì thế
ngƣời niệm Phật chẳng biết nhiếp tâm thì càng niệm, càng sanh
vọng tƣởng. Nếu nhiếp đƣợc tâm thì vọng niệm sẽ dần dần
mỏng nhẹ, cho đến hết sạch. Vì thế bảo:
Học đạo do nhƣ thủ cấm thành,
Trú phòng lục tặc, dạ tỉnh tỉnh,
Tƣớng quân chủ soái năng hành lịnh,
Bất động can qua định thái bình
(Tạm dịch:
Học đạo hệt nhƣ giữ cấm thành,
Ngày phòng sáu giặc, đêm luôn tỉnh,
Tƣớng quân chủ soái luôn đôn đốc,
Chẳng dấy binh đao, vững thái bình)
* Niệm Phật tâm chẳng quy nhất là do tâm sanh tử chẳng thiết
tha. Nếu luôn nghĩ nhƣ đang bị nƣớc dâng, lửa đốt, không đƣợc
cứu viện, luôn tƣởng sắp bị chết, sắp đọa địa ngục, tự tâm sẽ
quy nhất, chẳng cần phải tìm diệu pháp nào khác. Vì thế trong
kinh thƣờng nói: “Nghĩ khổ địa ngục, phát Bồ Ðề tâm”. Ðấy chính
là lời khai thị tối thiết yếu của đấng Ðại Giác Thế Tôn, tiếc ngƣời
đời chẳng chịu chân thật suy tƣởng.                                                                            80
Nỗi khổ địa ngục so với thảm trạng nƣớc, lửa sâu
đậm hơn vô lƣợng, vô biên lần. Nghĩ đến nƣớc cuốn, lửa cháy
liền run rẩy, tƣởng đến địa ngục lại hờ hững thì:
- Một là vì tâm lực nhỏ chẳng thể hiểu rõ sự khổ đó.
- Hai là khi chính mắt thấy sẽ bất giác hoảng sợ, lông tóc dựng
cả lên.
* Niệm Phật cũng là cách để dƣỡng khí, điều thần, mà cũng là
pháp để tham cứu bổn lai diện mục. Vì sao nói thế? Tâm chúng
ta thƣờng luôn rối loạn, nếu chí thành niệm Phật thì sẽ thấy hết
thảy tạp niệm, vọng tƣởng dần dần bị tiêu diệt nên tâm quy nhất.
Quy nhất thì tự nhiên thần khí sung mãn, thông suốt.
Ông chẳng biết niệm Phật diệt đƣợc vọng ƣ? Hãy thử niệm, sẽ
thấy các thứ vọng niệm trong tâm đều hiện. Nếu niệm lâu ngày
sẽ tự thấy không có các thứ vọng niệm đó nữa. Lúc đầu biết có
vọng niệm là nhờ niệm Phật mới thấy đƣợc các vọng niệm trong
tâm mình. Chẳng niệm Phật sẽ chẳng thấy.
Ví nhƣ trong nhà, sạch sẽ không bụi, một ánh nắng lọt qua khe
cửa sẽ thấy không biết bao nhiêu là bụi. Bụi trong nhà do ánh
mặt trời hiện rõ, vọng niệm trong tâm do niệm Phật hiện rõ. Nếu
thƣờng niệm Phật, tự tâm sẽ thanh tịnh. Khổng Tử hâm mộ đạo
của Nghiêu, Thuấn, Châu Công, niệm niệm chẳng quên, nên
thấy Nghiêu trong canh, thấy Thuấn nơi tƣờng, thấy Châu Công
trong mộng. Ðấy là do luôn luôn nghĩ nhớ.
Niệm Phật có khác chi? Do vì Hoặc nghiệp,  tâm và miệng của
chúng sanh biến thành nhiễm ô, nên Phật dạy dùng tâm và
miệng xƣng niệm hồng danh thánh hiệu A Di Ðà Phật, nhƣ ngƣời
nhiễm hƣơng, thân có mùi thơm. Niệm lâu ngày, nghiệp tiêu, trí
rạng, chƣớng tận, phƣớc cao, Phật tánh sẵn có nơi tự tâm sẽ tự
hiển hiện.                                                                            81
* Nếu nhƣ vọng niệm đầy dạ, qua lại loang loáng, quẩn quanh
nơi ý, đó là do chƣa thật sự đề khởi chánh niệm. Nếu chánh
niệm chân thật, thiết tha thì sẽ khăng khăng chuyên chú vào một
cảnh chánh niệm. Nhƣ thƣờng nói: “Chế ngự, thuần phục đúng
pháp thì giặc cƣớp cũng nhƣ con đỏ. Chế ngự, thuần phục thất
cách thì kẻ tay chân cũng thành oan gia”.
Còn thuộc địa vị phàm phu, ai là không phiền não? Phải luôn
luôn đề phòng sẵn thì tự nhiên khi gặp cảnh, đụng duyên, chẳng
đến nỗi phiền não bạo phát. Ví dù phiền não có phát, vẫn có thể
nhanh chóng đề khởi giác chiếu khiến phiền não tiêu diệt. Những
cảnh làm phiền não khởi nào phải chỉ có một, chỉ nêu những
cảnh dễ khởi phiền não nhất thì chẳng ngoài tài, sắc và những
chuyện ngang trái mà thôi.
Nếu biết tiền tài vô nghĩa, hại hơn rắn độc thì thấy tiền tài sẽ
chẳng khởi phiền não, chỉ phƣơng tiện cùng ngƣời [sử dụng tiền
tài], chứ rốt ráo luôn quay về tiền trình [giải thoát] của chính
mình, sẽ không có phiền não “hoạn nạn cùng quẫn, cấp bách cầu
cứu, tham tiếc tiền tài chẳng bỏ đƣợc”!
Về sắc thì đối trƣớc dung mạo nhƣ hoa, nhƣ ngọc, tâm luôn nghĩ
nhƣ chị, nhƣ em. Dù gặp gái ăn sƣơng, vẫn nghĩ nhƣ thế, sanh
lòng thƣơng xót, sanh tâm độ thoát, sẽ không có phiền não “thấy
sắc động lòng”. Vợ chồng kính trọng nhau nhƣ khách, coi thê
thiếp nhƣ ân nhân giúp mình nối dõi tổ tông, chẳng dám xem nhẹ
họ nhƣ vật để hành lạc thỏa dục thì sẽ không có phiền não “đắm
dục diệt thân, vợ chẳng thể sanh nở, con chẳng thành ngƣời”.  
Giáo huấn con cái từ nhỏ sẽ không  có phiền não “con cái ngỗ
nghịch với cha mẹ, bại hoại môn phong”. Ngay cả khi gặp cảnh
trái ngang, phải sanh lòng thƣơng xót, thƣơng kẻ đó vô tri, chẳng
nên so đo. Lại nghĩ do mình đời trƣớc từng não hại kẻ đó; do vậy                                                                             82
phải đền nợ cũ, sanh lòng hoan hỷ, sẽ  không có
phiền não “trả thù kẻ trái nghịch”.
Những điều vừa nói trên chỉ dành cho ngƣời sơ cơ. Còn nếu là
bậc đại sĩ tu lâu do đã thấu rõ Ngã Không nên vô tận phiền não
đều hóa thành đại quang minh tạng, giống nhƣ đao đã mài bén,
vàng đã luyện thuần. Sen nhờ bùn vun bón mới đƣợc thanh tịnh,
tƣơi sạch.
* Cái học của ngƣời quân tử là vì mình, niệm niệm nhắc nhở
mình tự tỉnh. Giác và mộng hệt nhƣ nhau, chỉ có công phu đến
nơi mới hiểu đƣợc. Chỉ là hễ giác liền tu trì ngay, lâu ngày, ngay
trong mộng cũng chẳng làm gì lầm lỡ!
* Ngƣời học đạo nặng đạo niệm một phần, sẽ nhẹ phàm tình
một phần, đó là lẽ tất nhiên! Ngƣời chƣa đoạn Hoặc phải thƣờng
nỗ lực. Nếu một phen phóng túng, bệnh cũ nhất định sẽ tái phát.
Ngƣời đã đoạn sạch Kiến Tƣ Hoặc mới nên tùy ý hành động,
chẳng cần phải kiềm chế, gìn giữ!
* Tâm tham - sân - si ai nấy đều có. Nếu biết đó là bệnh, thế lực
của chúng sẽ khó lừng lẫy đƣợc. Ví nhƣ giặc vào nhà ngƣời, nếu
chủ nhân nhà ấy tƣởng là ngƣời trong nhà thì đồ trân báu của cả
nhà sẽ bị nó lén trộm mất sạch. Nếu biết nó là giặc, sẽ chẳng cho
nó ở lại nhà mình dù chỉ một khắc, ắt phải đuổi nó đi thật xa
khuất mắt, mới hòng tài bảo chẳng bị mất, chủ nhân yên vui.
Cổ đức bảo: “Bất phạ niệm khởi, đản phạ giác trì” (Chẳng sợ
niệm khởi, chỉ e biết chậm). Tham - sân - si vừa khởi lập tức biết
ngay, nó sẽ lập tức tiêu diệt. Nếu coi tham - sân - si là ông chủ
chánh trong nhà mình sẽ giống nhƣ nhận giặc làm con, của báu
trong nhà ắt phải tiêu tán hết!
* Bị cảnh chuyển là sức “tháo trì” còn nông cạn. Vui - giận dấy
động bên trong hiện thành vẻ tốt - xấu ngoài mặt. “Tháo trì” có
nghĩa là hàm dƣỡng. Nếu coi trọng chánh niệm thì mọi thứ khác                                                                             83
đều xem nhẹ. Vì thế, ngƣời thật sự tu hành phải mài
luyện trong trần lao, khiến cho phiền não, tập khí dần dần bị tiêu
diệt thì mới là công phu thực sự.
* Hãy để chuyện đối trị tập khí, phiền não trong tự tâm lại đó
khoan bàn tới. Chỉ hành trì ngoài mặt, công phu bên trong trống
rỗng; trái lại còn sanh ngã mạn, coi công - lợi là đức thì càng bị
tổn hại nhiều! Ví nhƣ ăn cơm phải có rau dƣa phụ trợ, lại cũng
nhƣ thân thể phải dùng áo mão để trang hoàng. Nơi con đƣờng
đạo tu hành dài lâu để liễu sanh tử, sao lại muốn thâm nhập một
môn, phế sạch các môn khác? Phế sạch các môn khác, chỉ lo đả
thất (1) thì còn đƣợc. Còn trong lúc thƣờng nhật, nếu chẳng phải
là bậc Bồ Tát tái lai (2), chắc chắn chƣa có một ai lại không trở
thành hạng biếng nhác, ngạo mạn. Bởi lẽ tâm phàm phu thƣờng
hay sanh chán.
Trời sanh ra vật, ắt phải mƣa nắng điều hòa, nóng lạnh đắp đổi
mới có thể khiến cho mọi vật sanh thành, tạo hóa. Giả sử mƣa
hoài, nắng mãi, luôn lạnh, luôn nóng thì dƣới khắp gầm trời sẽ
trọn chẳng có một vật gì! Huống hồ bọn ta tâm nhƣ khỉ vƣợn,
chẳng dùng các biện pháp đối trị, lại muốn nó an trụ một nơi,
chẳng vọng rong ruổi thì thật là khó lắm, khó lắm! Ai nấy nên tự
gắng sức, chớ nên thiên chấp một pháp, cũng đừng lan man
không đầu mối gì hết!
* Cứ hƣớng ngoại rong ruổi, tìm cầu, chẳng biết phản chiếu hồi
quang, học Phật nhƣ thế, thật khó đƣợc lợi ích thật sự! Mạnh Tử
nói: “Ðạo học vấn không có gì khác cả, cầu sao buông đƣợc cái
tâm mà thôi”. Ông học Phật chẳng biết lắng lòng niệm Phật thì
đối với Nho giáo còn chƣa thật tuân hành, huống hồ là đối với
pháp chân thật lắng tâm của Phật giáo ƣ?
Quán Thế Âm Bồ Tát phản văn tự tánh (xoay trở lại nghe nơi tự
tánh). Ðại Thế Chí Bồ Tát nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối.
Kinh Kim Cang không trụ vào đâu mà sanh tâm, chẳng trụ Sắc,
Thanh, Hƣơng, Vị, Xúc, Pháp mà hành bố thí, cho đến vạn hạnh.                                                                             84
Tâm Kinh soi thấy Ngũ Uẩn đều không. Những pháp
này đều là diệu pháp dạy ngƣời đối cảnh hiểu biết đƣợc tâm.
Nếu cứ nhất quyết muốn học rộng hết cả thì chẳng phải là không
lợi ích, nhƣng vì nghiệp chƣớng chƣa tiêu nên chƣa đƣợc lợi
ích, lại bị mắc bệnh trƣớc!
* Khi làm việc chƣa thể niệm tại đâu, tâm tại đó là do chƣa đạt
đến cảnh giới Nhất Tâm Bất Loạn, tâm vô nhị dụng, nên khó
tránh khỏi gián đoạn. Chỉ cần luôn giữ đƣợc tâm giác chiếu thì
cũng chẳng ngại gì.
* Một sự sắc dục là bệnh chung của toàn bộ ngƣời đời. Chẳng
những kẻ trung hạ bị sắc mê hoặc; ngay cả ngƣời thƣợng căn,
nếu chẳng tự gìn giữ, run sợ, luôn nghĩ kiêng dè thì cũng khó
tránh khỏi bị nó mê hoặc. Hãy thử nhìn xem: từ xƣa đến nay,
không ít bậc hào kiệt phi thƣờng đáng coi là bậc thánh bậc hiền,
chỉ do chẳng vƣợt đƣợc cái  ải này lại thành ra kẻ hạ ngu, bất
tiếu, còn vĩnh viễn đọa lạc trong ác đạo.
Kinh Lăng Nghiêm nói: “Nếu lục đạo chúng sanh trong các thế
giới tâm chẳng dâm sẽ chẳng sanh tử tiếp nối. Các ông tu tam
muội vốn là để thoát trần lao, nhƣng chƣa trừ dâm tâm, chƣa
thoát khỏi trần. Ngƣời học đạo vốn là để xuất ly sanh tử, nếu
chẳng thể đau đáu trừ khử bệnh này nhất định sẽ khó thoát lìa
sanh tử”.
Nhƣ vậy, pháp môn Niệm Phật tuy đới nghiệp vãng sanh, nhƣng
nếu thói quen dâm dục cố kết sẽ xa cách Phật, khó thể cảm ứng
đạo giao. Ðối với họa sắc dục này thì không gì bằng đối với hết
thảy nữ nhân luôn khởi lên thân tƣởng, oán tƣởng, bất tịnh
tƣởng.
Thân tƣởng là thấy ngƣời già coi nhƣ mẹ, thấy ngƣời lớn hơn coi
nhƣ chị, coi ngƣời nhỏ hơn nhƣ em, với trẻ nhỏ coi nhƣ con gái.
Dù dục tâm mạnh mẽ, quyết chẳng thể khởi ý niệm bất chánh đối
với mẹ, chị, em, con. Thấy hết thảy nữ nhân đều là mẹ, chị, em                                                                             85
gái, con gái mình thì đƣơng nhiên chế ngự đƣợc
dục, dục không do đâu phát khởi đƣợc.
Oán tƣởng là phàm thấy mỹ nữ, bèn khởi tâm yêu mến. Do tâm
yêu mến đó sẽ đọa ác đạo, bao kiếp dài lâu thọ khổ, chẳng thể
xuất ly. Nhƣ thế thì cái gọi là mỹ lệ, kiều mỵ còn kịch hại hơn giặc
cƣớp, cọp, sói, rắn độc, rết dữ, tỳ sƣơng, trầm độc (3) gấp trăm
ngàn lần. Với kẻ oán gia cực lớn ấy, vẫn còn quyến luyến, mơ
tƣởng, chẳng phải là kẻ mê muội quá sức hay sao?
Bất tịnh tƣởng là vẻ xinh đẹp rung động lòng ngƣời chỉ là một lớp
da mỏng bên ngoài. Nếu bóc lớp da ấy đi, sẽ chẳng can đảm
nhìn nữa. Xƣơng, thịt, máu, mủ, phân, tiểu đầm đìa, lông, tóc
loạn xị, trọn chẳng có vật nào đáng để ngƣời khác yêu thích
đƣợc cả. Chỉ vì một lớp da mỏng che phủ bèn lầm sanh luyến ái.
Bình đẹp đựng phân, không ai ƣa mến. Nay lớp da mỏng của mỹ
nhân khác gì bình đẹp, những thứ đƣợc gói trong da khác gì
phẩn uế, sao lại yêu mến lớp da, quên đi các thứ vật dơ chứa
trong lớp da đó, khởi lên vọng tƣởng miên man?
Nếu chẳng run rẩy, kinh sợ, quyết liệt trừ khử thói quen này, sẽ
chỉ thấy ngƣời nữ kia tƣ chất mỹ lệ, đến nỗi mũi tên ái dục đâm
thấu xƣơng mà chẳng chịu nhổ ra. Nếu cứ luôn nhƣ vậy mà lại
muốn sau khi mất chẳng vào trong bụng ngƣời nữ, quyết chẳng
thể đƣợc! Vào bụng ngƣời nữ còn khá, vào bụng súc sanh cái thì
chẳng biết làm sao! Thử nghĩ đến đấy, tâm thần kinh hãi.
Nhƣng muốn đối với những cảnh trông thấy chẳng khởi nhiễm
tâm thì lúc chƣa thấy cảnh phải thƣờng tập ba thứ tƣởng nói
trên, khi thấy cảnh sẽ tự có thể chẳng bị cảnh chuyển. Nếu
không dù chẳng thấy cảnh nhƣng tâm ý vẫn cứ triền miên, rốt
cục vẫn bị tập khí dâm dục trói buộc. Bởi thế, phải nhận  chân,
gột trừ ác nghiệp tập khí thì tự do mới đƣợc có phần.
* Bàn đến những ai bị việc đời trói buộc, không cách nào thoát
đƣợc; nếu trong lúc bị buộc ràng mà có thể chẳng bị chúng xoay                                                                             86
chuyển sẽ thoát ngay đƣợc những buộc ràng ấy.
Nhƣ gƣơng chiếu vật, vật đến chẳng cự tuyệt, vật đi chẳng giữ
lại. Nếu chẳng hiểu nghĩa này, dù có bỏ sạch việc đời không còn
một việc gì thì tâm vẫn cứ tán vọng, ràng buộc kiên cố, chẳng thể
gột sạch.
Ngƣời học đạo phải làm đúng với bổn phận của mình, tận hết
bổn phận. Nhƣ vậy, dù suốt ngày việc đời bận bịu, vẫn suốt ngày
tiêu dao ngoại vật. Câu nói “nhất tâm vô trụ, vạn cảnh câu khai,
lục trần bất ố, hoàn đồng Chánh Giác” (nhất tâm vô trụ, vạn cảnh
đều khai, chẳng ghét sáu trần, đều coi chúng là Chánh Giác) là
nói về điều này vậy.
* Muốn cho Chân Trí hiển hiện thì hãy nên thƣờng khởi giác
chiếu đối với mọi ngôn từ, cử chỉ hằng ngày, chẳng để hết thảy
những tình cảm, ý tƣởng trái lẽ tạm thời nảy mầm trong tâm.
Thƣờng giữ cho tâm này hƣ minh đỗng triệt (trống không, sáng
suốt, thấu suốt) nhƣ gƣơng đặt trên đài, gặp cảnh nào hiện bóng
cảnh nấy, chỉ chiếu cảnh trƣớc mắt, chẳng bị chuyển theo cảnh,
tốt xấu kệ nó, can chi đến mình? Ðến chẳng mong chờ, đi chẳng
lƣu luyến.
Những tình tƣởng trái lẽ nếu vừa mới manh động liền phải
nghiêm khắc đối trị, trừ khử cho sạch. Nhƣ cùng quân giặc đối
địch, chẳng những không cho nó xâm phạm lãnh thổ của mình,
mà còn phải chém tƣớng, đoạt cờ, diệt sạch dƣ đảng. Phải
nghiêm khắc dùng cách chế ngự quân địch nhƣ vậy để tự trị
mình, đừng lƣời nhác, đừng sao nhãng. Khắc kỷ, giữ lễ, chú
trọng kính, giữ lòng thành. Những khí giới [để tự đối trị mình] thì
nên dùng bốn điều không của Nhan Tử, ba điều cảnh tỉnh của
Mạnh Tử, cách hạn chế lỗi lầm, tự biết mình sai của ông Cừ Bá
Ngọc.
Lại phải nên nhiệt thành kinh sợ [những tình tƣởng trái lẽ] nhƣ té
xuống vực sâu, nhƣ đi trên băng mỏng. Ðối địch cùng chúng thì
quân oai vang dậy khiến tặc đảng tấm lòng nguội lạnh, hoảng                                                                             87
hốt, sợ vƣớng phải cơn tàn sát diệt chủng nặng nề,
chỉ mong hƣởng hồng ân vỗ về. Từ  đấy, chúng sẽ khuất phục,
đầu hàng, quy thuận sự giáo hóa, đổi sạch tâm trƣớc, chăm tu
đức sau. Tƣớng chẳng ra khỏi cửa, quân chẳng đổ máu. Toàn
bộ giặc cƣớp, oán cừu đều thành con đỏ, bọn phản loạn cùng
hóa thành dân lành. Trên cai trị, dƣới tuân phục, cả nƣớc phẳng
lặng, chẳng dấy can qua, ngồi hƣởng thái bình.
Những điều vừa nói trên đây là do cách vật nên trí tri, do trí tri
nên tự khắc sẽ làm sáng tỏ đức sáng (4). Chân thành và minh
đức nhất trí thì phàm sẽ thành thánh. Nếu là kẻ căn khí hèn kém,
chƣa thể tự thâu liễm mình, hãy nên bắt chƣớc ông Triệu Duyệt
Ðạo: ngày làm điều gì, đêm đốt hƣơng bẩm bạch cùng Thƣợng
Ðế. Ðiều gì mình chẳng dám bẩm bạch thì chẳng dám làm.
Ông Viên Liễu Phàm chẳng làm các điều ác, vâng làm các điều
lành, mạng do chính mình lập, phƣớc do chính mình cầu, chứ
tạo vật (5) chẳng thể tự tiện chiếm quyền. Ông vâng giữ phép
Công Quá Cách: hễ khởi tâm động niệm, nói năng, làm gì dù việc
thiện hay ác nhỏ nhặt đều ghi lại, ngõ hầu điều thiện ngày càng,
điều ác mỗi ngày mỗi diệt.
Lúc đầu, thiện ác xen tạp, lâu dần chỉ còn thiện không còn ác. Vì
thế có thể chuyển vô phƣớc thành hữu phƣớc, chuyển yểu thọ
thành trƣờng thọ, chuyển không con cháu thành lắm con cháu.
Ngay trong đời này đã dự vào bậc thánh hiền, báo hết sẽ cao
đăng cõi Cực Lạc. Việc làm trở thành khuôn mẫu cho đời, lời nói
trở thành pháp thức cho đời. Họ là trƣợng phu, ta cũng nhƣ thế,
sao lại tự khinh đến nỗi đành chịu thua kém vậy?
* Nếu nhƣ căn cơ hèn kém, chƣa thể chứng nhập, nếu ƣớc trên
Sanh Diệt Môn để luận về nguyên do, hậu quả thì là do mê tâm
đuổi theo cảnh, hƣớng ngoại rong ruổi tìm cầu, khiến toàn thể trí
huệ, đức tƣớng biến thành vọng tƣởng, chấp trƣớc. Vì thế, phải
nên chú trọng chỗ tinh yếu, chú trọng chuyên nhất, chấp trì thánh                                                                             88
hiệu Di Ðà, tin thật, nguyện thiết, mong cầu vãng
sanh Tây Phƣơng.
Hành trì lâu ngày, tâm và Phật nhƣ một, chẳng lìa ý niệm hiện
tại, triệt chứng Ngũ Uẩn là Không. Vọng tƣởng, chấp trƣớc đã
diệt; trí huệ, đức tƣớng cũng không còn. Do tâm tịnh, cõi nƣớc
sẽ tịnh; chẳng lìa ngay nơi này, thầm nhập cõi Tịch Quang. Chỉ
có mỗi cách này là cách để chúng ta rốt ráo an thân lập mạng mà
thôi!
* Ngƣời sống trong thế gian huyễn trụ mấy mƣơi năm. Kể từ khi
có hiểu biết đến nay, ngày đêm tính toán bộn bề, ngổn ngang,
không điều gì chẳng phải là để nuôi thân mình cùng ngƣời nhà,
giữ thể diện, sao cho con cháu quý hiển mà thôi! Xét cội nguồn
căn bệnh ấy, chỉ là do chấp trƣớc có Ngã, chẳng chịu buông
xuống. Nỗi lo nghĩ ấy dính chắc, dù Ðức Phật có vì mình thuyết
pháp cũng chẳng hiểu nổi. Trái lại, còn chẳng thèm bận tâm đến
diện mạo vị chủ nhân sẵn có của chính mình, mặc tình lƣu
chuyển theo nghiệp, trầm luân muôn kiếp, chẳng đáng buồn ƣ?
* Tu hành trọng yếu là đối trị tập khí phiền não. Tập khí giảm
một phần, công phu tiến một phần. Có kẻ càng ra sức tu hành,
tập khí càng phát động; ấy là do chỉ biết tu trì theo sự tƣớng,
chẳng biết phản chiếu hồi quang, khắc trừ vọng tình trong tâm
chính mình nên mới đến nỗi thế. Hãy nên thƣờng sắp sẵn cách
đề phòng thì gặp cảnh đụng duyên, tập khí sẽ chẳng phát.
Nếu bình thời biết đƣợc thân tâm mình đây toàn là huyễn vọng,
trọn chẳng thể cầu đƣợc thật thể, thật tánh của cái Ngã. Ðã
không có Ngã sao còn có chuyện vì cảnh, vì ngƣời nảy sanh
phiền não? Ðấy chính là phƣơng pháp giải quyết tối thƣợng thiết
yếu vậy.
Nếu nhƣ chẳng thể hiểu chắc thật Ngã là Không thì hãy dùng
pháp Ngũ Ðình Tâm Quán đức Nhƣ Lai đã dạy để đối trị (Ngũ
Ðình Tâm Quán là dùng năm pháp để điều hòa, ngƣng lắng cái                                                                             89
tâm khiến tâm an trụ, chẳng bị cảnh chuyển). Tức là:
Chúng sanh lắm tham dùng Bất Tịnh Quán, chúng sanh nhiều
sân dùng Từ Bi Quán, chúng sanh hay tán loạn dùng Sổ Tức
Quán, chúng sanh ngu si dùng Nhân Duyên Quán, chúng sanh
nhiều chƣớng dùng Niệm Phật Quán.
* Tham nghĩa là thấy cảnh bèn sanh lòng yêu thích. Chúng sanh
trong Dục Giới đều do dâm dục mà sanh. Dâm dục do Ái mà
sanh. Nếu có thể đối với thân mình, thân ngƣời, từ trong ra
ngoài, quán sát kỹ mỗi thứ sẽ chỉ thấy cáu ghét, mồ hôi, đờm, rãi,
tóc, lông, răng, móng, xƣơng, thịt, máu, mủ, đại tiện, tiểu tiện,
thối nhƣ xác chết, bẩn nhƣ nhà cầu! Ai còn sanh tâm tham ái đối
với vật ấy? Tham ái đã dứt thì tâm địa thanh tịnh. Dùng tâm
thanh tịnh niệm danh hiệu Phật, nhƣ chất ngọt hòa lẫn, nhƣ lụa
trắng ăn màu, dùng Nhân Ðịa Tâm khế hợp Quả Ðịa Giác, sự ít
công nhiều, lợi ích khó nghĩ đƣợc.
* Sân là thấy cảnh tâm khởi giận dữ, chán ghét. Ngƣời phú quý
thƣờng hay nóng giận là do với các chuyện muốn đƣợc nhƣ ý thì
cần phải có ngƣời làm, có chút việc gì trái ý liền sanh sân nộ.
Nhẹ thì dùng lời ác chửi mắng, nặng thì roi, gậy đập thẳng cánh,
chỉ cốt khoái ý mình, chẳng đoái hoài ngƣời khác đau lòng.
Lại khi sân tâm khởi lên, chẳng những vô ích cho ngƣời khác,
chính mình cũng bị tổn. Nhẹ thì tâm ý nóng nảy, bực bội; nặng thì
gan lẫn mắt bị tổn hại. Vì thế, thƣờng giữ đƣợc một khối nguyên
khí thuần hòa trong tâm thì tật bệnh tiêu diệt, phƣớc thọ tăng
truởng.
Xƣa kia, vua A Xà Thế cả đời thờ Phật, giữ vững năm giới, lúc
lâm chung vì ngƣời hầu cầm quạt đuổi ruồi đứng hầu lâu đâm ra
mê mệt, để quạt rớt trúng mặt vua. Vua sanh tâm sân hận, ngay
khi ấy mạng chung. Do một niệm ấy, liền thọ thân mãng xà. Do
sức túc phƣớc còn biết đƣợc nhân, bèn cầu sa-môn giảng cho
Tam Quy Ngũ Giới, liền thoát thân mãng xà, sanh lên trời. Do                                                                             90
đấy biết rằng thói quen sân hận tai hại rất lớn. Kinh
Hoa Nghiêm dạy: “Một niệm sân tâm khởi, trăm vạn cửa chƣớng
mở”.
Cổ đức bảo:
Sân thị tâm trung hỏa,
Năng thiêu công đức lâm.
Dục học Bồ Tát đạo,
Nhẫn nhục hộ sân tâm.
(Sân là lửa trong tâm,
Ðốt sạch rừng công đức,
Muốn học đạo Bồ Tát.
Nhẫn nhục ngừa tâm sân)
Ðức Nhƣ Lai dạy chúng sanh nhiều sân tu Từ Bi Quán nhƣ sau:
coi hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ trong quá khứ, đều là chƣ
Phật trong vị lai. Ðã là cha mẹ trong quá khứ thì hãy nghĩ đến ân
đức nuôi nấng trong những đời trƣớc, thẹn chƣa báo đáp đƣợc,
lẽ đâu với chuyện chẳng vừa ý nhỏ nhặt lại ôm lòng phẫn nộ? Họ
đã là chƣ Phật trong vị lai, ắt sẽ rộng độ chúng sanh. Mình còn
chƣa giải quyết sanh tử trọn vẹn, phải mong họ đến độ thoát
cho.
Chẳng những với chuyện chẳng vừa ý nhỏ nhặt không sanh sân
nộ; dù là chuyện táng thân mất mạng cũng chỉ sanh hoan hỷ,
chẳng sanh sân hận. Vì thế, lúc Bồ Tát bỏ đầu, mắt, tủy, não đều
tƣởng [ngƣời cầu xin những thứ ấy] là thiện tri thức, tƣởng là ân
nhân, tƣởng là ngƣời thành tựu Vô Thƣợng Bồ Ðề Ðạo cho                                                                             91
mình. Cứ xem phẩm Thập Hồi Hƣớng của kinh Hoa
Nghiêm sẽ tự biết.
Hơn nữa, một niệm tâm tánh của chúng ta cùng với một niệm
tâm tánh của Phật không hai. Chỉ vì mê trái bổn tâm, chấp chặt
Ngã Kiến, nên hết thảy các duyên đều thành đối đãi. Nhƣ cái bia
để bắn đã lập thì các mũi tên sẽ đều ghim vào đó. Nếu biết đƣợc
tâm ta chính là tâm Phật, tâm Phật trống không, vô sở hữu, hệt
nhƣ hƣ không, sâm la vạn tƣợng không gì chẳng bao quát trong
ấy.
Lại cũng nhƣ biển cả, trăm sông, các dòng, không dòng nƣớc
nào biển chẳng hứng nhận, nhƣ trời che khắp, nhƣ đất bình
đẳng nâng đỡ, để tự lập đức. Nếu ta vì sự trái ý nhỏ nhặt bèn
sanh nóng giận, chẳng phải là đã thu hẹp cái lƣợng, tự chôn vùi
cái đức hay chăng? Dù có đủ Phật tâm lý thể, nhƣng khởi tâm
động niệm toàn dùng sự phàm  tình, nhận vọng là chân, lấy tớ
làm chủ. Nghĩ nhƣ thế thật đáng hổ thẹn.
Nếu bình thời luôn nghĩ nhƣ thế thì tâm lƣợng rộng lớn, không gì
chẳng dung đƣợc, thấy ngƣời cũng hệt nhƣ mình, chẳng thấy
đây kia, gặp nghịch cảnh còn nhận xuôi theo đƣợc, huống hồ là
chuyện bất nhƣ ý nhỏ nhặt lại sanh nóng giận hay sao?
* Gọi là kẻ ngu si chẳng phải là nói về kẻ hoàn toàn vô tri thức,
mà chính là nói đến những ngƣời trong đời đối với cảnh duyên
thiện ác, chẳng biết đấy đều là do túc nghiệp chuốc lấy nên hiện
tại cảm thọ, bảo lầm là không có nhân quả báo ứng và hết thảy
chúng sanh đời trƣớc, đời sau v.v..., chẳng có con mắt trí huệ.
Chẳng phải là hạng chấp Ðoạn, cũng là phƣờng chấp Thƣờng.
Họ bảo con ngƣời bẩm thọ khí huyết cha mẹ mà sanh ra. Trƣớc
lúc sanh ra, vốn chẳng có vật gì; cũng nhƣ chết đi, thân hình đã
mục nát thì hồn cũng phiêu tán; làm sao có đời trƣớc và đời sau
đƣợc? Bọn nho sĩ câu nệ, hủ bại phƣơng này (tức Trung Hoa) đa
phần nói nhƣ vậy.                                                                            92
Chấp Thƣờng là nói ngƣời luôn là ngƣời, vật luôn là
vật, chẳng biết nghiệp do tâm tạo, hình tùy tâm chuyển. Thời cổ
có kẻ cực độc đang còn sống biến ra thân rắn, ngƣời cực tàn
bạo đang khi còn sống biến thành thân hổ. Ðang khi còn sống,
nghiệp lực mãnh liệt còn biến đổi đƣợc thân; huống hồ chết đi,
trƣớc khi tái sanh, thức bị chuyển biến theo sự lôi kéo của nghiệp
ƣ? Bởi vậy, Phật nói mƣời hai nhân duyên chính thức là luận về
ba đời. Nhân trƣớc ắt cảm quả sau, quả sau ắt phải có nhân
trƣớc. Thiện áo báo ứng, họa phƣớc xảy đến đều do mình làm,
mình chịu, chẳng phải trời giáng. Bất quá trời chỉ là ngƣời đứng
ra thừa hành thôi. Sanh tử tuần hoàn chẳng có cùng cực. Muốn
khôi phục bổn tâm để liễu sanh tử mà bỏ “tín nguyện niệm Phật
cầu sanh Tây Phƣơng” sẽ chẳng thể đƣợc!
Ba thứ tham - sân - si là cội gốc sanh tử. Ba thứ Tín - Nguyện -
Hạnh là diệu pháp liễu sanh tử. Muốn bỏ ba pháp kia (tham - sân
- si) để tu ba pháp này (tín - nguyện - hạnh) thì ba pháp này đắc
lực, ba pháp kia tự diệt. Một pháp quán Sổ Tức bất tất phải dùng.
Hãy nên trong lúc niệm Phật, lắng tai nghe kỹ, cách nhiếp tâm
này tƣơng tự phép Sổ Tức, nhƣng lực dụng hơn phép Sổ Tức
một trời, một vực. Phép quán Niệm Phật nên đọc trong Ấn
Quang Văn Sao và các trƣớc thuật Tịnh Ðộ sẽ biết.
* Hỏi: Nếu nhƣ nói dù táng thân mất mạng cũng chỉ sanh hoan
hỷ, chẳng sanh sân hận thì giả sử có kẻ ác muốn đến hại mình,
mình chẳng lo toan gì, cứ mặc cho nó sát hại mình ƣ?
Ðáp: Phàm ngƣời tu hành, có kẻ là phàm phu, có ngƣời là bậc
Bồ Tát đã chứng Pháp Thân. Lại có ngƣời lấy việc duy trì thế đạo
làm chánh, có ngƣời chỉ lấy việc liễu giải tự tâm làm trọng. Nếu là
hạng chỉ lo liễu giải tự tâm và hàng Bồ Tát đã chứng Pháp Thân
thì sẽ hành động nhƣ đã nói. Bởi lẽ, họ thấy mình và vật hệt nhƣ
nhau, sanh tử nhƣ một.
Nếu là hạng phàm phu, muốn duy trì thế đạo thì cứ an lòng học
theo Bồ Tát thâm từ đại bi, không gì là chẳng dung. Xử sự vẫn                                                                             93
thuận theo lẽ thƣờng thế gian: hoặc là dùng cách
khuất phục, chế ngự để nhiếp phục, hoặc dùng nhân từ để cảm
hóa... nhiều cách khác nhau; nhƣng trong tâm trọn chẳng đƣợc
hung tợn, nóng giận, cố kết oán hận.
Những điều nói trong đoạn trƣớc là nêu tình huống giả tƣởng để
[ngƣời tu nhờ đó] tiêu diệt tập khí nóng giận. Nếu phép quán này
thành thục, tập khí sân hận tự diệt, dù gặp phải cảnh thật sự hại
đến thân cũng vẫn giữ đƣợc tâm thản nhiên, thực hiện đại bố thí.
Nhờ công đức ấy liền sanh Tịnh Ðộ. So với việc giết chóc lẫn
nhau, bao kiếp dài lâu đền trả, chẳng phải là khác biệt một trời,
một vực đấy ƣ?
* Sân tâm chính là thói quen từ đời trƣớc. Nay cứ nghĩ mình đã
chết, mặc cho dao chặt hay hƣơng bôi cũng chẳng can dự gì đến
mình. Với tất cả những cảnh chẳng thuận tâm, do nghĩ mình đã
chết, sân làm sao còn khởi đƣợc nữa?
* Nói đến sân tâm là nói đến thói quen từ đời trƣớc. Nay đã biết
sân là có hại, vô ích, đối với hết thảy các sự hiện hữu hãy nên
dùng lƣợng biển rộng trời cao để dung nạp. Nhƣ vậy thì tập tánh
rộng rãi trong đời này sẽ chuyển biến đƣợc tập tánh hẹp hòi
trong những đời trƣớc. Nếu chẳng gia công đối trị, tập khí sân
hận càng tăng, tai hại chẳng nhẹ.
Còn khi niệm Phật thì phải căn cứ trên tinh thần, khí lực của
mình để làm chuẩn mà niệm lớn tiếng, niệm nhỏ tiếng, niệm
thầm và kim cang niệm (tức là niệm có tiếng se sẽ, ngƣời khác
chẳng nghe thấy. Những ngƣời trì chú gọi cách này là kim cang
niệm). Chẳng đƣợc quá mãnh liệt  đến nỗi mắc bệnh. Cái tâm
quá mãnh liệt ấy cũng là cái bệnh “dục tốc” (mong cho mau đạt
kết quả).
Nếu nay đã chẳng thể niệm ra tiếng, há trong tâm chẳng niệm
thầm đƣợc hay sao? Sao lại chỉ hạn chế trong mƣời niệm?
Huống hồ lúc bệnh nằm trên giƣờng, há nên để tâm trống rỗng                                                                             94
nhƣ bị rửa sạch, trọn chẳng niệm gì hoặc niệm
chuyện khác? Sao bằng càng niệm nhiều danh hiệu Phật?
Lúc ấy phải nên giao gấp mọi việc cho ngƣời nhà làm thay, luôn
nghĩ mình sắp chết, tƣởng sắp đọa địa ngục, trong tâm không
còn dính mắc sự gì. Dùng tâm thanh tịnh ấy nhớ tƣởng Phật
tƣợng và thầm niệm Phật danh cũng nhƣ tƣợng Quán Thế Âm
Bồ Tát và danh hiệu ngài. Nếu thật sự làm đƣợc nhƣ thế thì
nghiệp chƣớng quyết định tiêu trừ, thiện căn tăng trƣởng, bệnh
tật thuyên giảm, thân tâm khang kiện.
Bệnh của các hạ thuộc về túc nghiệp, niệm Phật quá mạnh mẽ
tạo duyên cho bệnh phát hiện, chẳng phải hoàn toàn do niệm
Phật quá mãnh liệt nên mắc bệnh. Nếu ông chẳng niệm Phật thì
cũng do nhân duyên khác mà bị bệnh. Trên đời, kẻ không niệm
Phật rất nhiều, há không có một ai cũng mắc phải căn bệnh đó,
cứ khoẻ mạnh mãi ƣ? Hiểu đƣợc điều này sẽ chẳng tự lầm lẫn
mà bảo là niệm Phật đến bệnh, chỉ tổn hại, không ích lợi gì!
* Bệnh và ma đều do túc nghiệp mà thành. Ông chỉ nên chí
thành, khẩn thiết niệm Phật thì bệnh tự thuyên giảm, ma tự rời
xa. Còn nhƣ tâm ông chẳng chí thành, hoặc khởi các ý niệm bất
chánh nhƣ tà dâm v.v... thì toàn thể cái tâm đọa trong hắc ám,
khiến ma quấy nhiễu. Lúc niệm Phật xong, hồi hƣớng, ông nên
hồi hƣớng cho hết thảy oán gia trong đời quá khứ, khiến họ đều
thấm đẫm lợi ích niệm Phật của ông, siêu sanh thiện đạo.
Ngoài ra chẳng quản đến gì hết. Ma có phát ra tiếng thì cũng
chẳng quan tâm đến rồi sợ hãi. Nó im hơi lặng tiếng, cũng chẳng
quan tâm đến mà sanh hoan hỷ. Chỉ chí thành, khẩn thiết niệm,
tự nhiên nghiệp chƣớng tiêu, mà phƣớc huệ thảy đều tăng
trƣởng. Khi xem kinh điển, chẳng đƣợc làm nhƣ kẻ đời nay đọc
sách, trọn chẳng có chút nào cung kính, phải [trân trọng] dƣờng
nhƣ Phật, Tổ, thánh hiền giáng lâm mới đƣợc lợi ích thật sự.
Nếu ông làm đƣợc nhƣ vậy thì tâm địa chánh đại quang minh,
bọn tà quỷ, tà thần kia không còn đất dung thân nữa!                                                                            95
Nếu tâm ông tà trƣớc thì tà chiêu cảm tà, làm sao có
thể khiến cho chúng xa lìa, không quấy nhiễu đƣợc? Quỷ thần dù
có Tha Tâm Thông, nhƣng thần thông của chúng nhỏ và gần.
Nếu nghiệp tận, tình không sẽ hệt nhƣ gƣơng báu đặt trên đài,
có hình liền hiện bóng. Ông chẳng chí tâm niệm Phật, lại toan
nghiên cứu chân tƣớng này, chẳng biết tâm này liền thành “ma
chủng” (dòng giống ma).
Ví nhƣ gƣơng báu chẳng có mảy may trần cấu sẽ tự chiếu trời
soi đất. Cái tâm ông bị trần cấu phủ kín dày chặt, lại muốn đƣợc
[chiếu sáng] nhƣ vậy, khác nào tấm gƣơng bị bụi phủ dày kín
trọn chẳng thể tỏa ánh sáng. Nếu có phát sáng cũng chỉ là ánh
sáng yêu quái, chẳng phải ánh sáng của gƣơng! Hãy bỏ việc đó
ra ngoài tâm tƣởng, hãy nên nhƣ lâm nạn lửa, nƣớc, nhƣ cứu
đầu cháy mà niệm Phật thì không nghiệp hay ma nào chẳng tiêu
cả.
* Ngƣời học đạo phàm gặp các thứ chẳng nhƣ ý chỉ nên dùng
đạo để hiểu. Cảnh nghịch xảy đến bèn vui lòng chịu, dù có gặp
phải những sự nguy hiểm gì, lúc ấy cũng chẳng đến nỗi kinh
hoàng, thất chí, làm điều thất thố. Chuyện đã qua hãy để cho nó
qua nhƣ giấc mộng đêm trƣớc, sao còn ủ mãi trong lòng đến nỗi
thành bệnh hoảng hốt? Ông đã muốn tu hành, phải biết hết thảy
cảnh duyên đều do túc nghiệp cảm vời.
Lại phải nên biết: Chí thành niệm Phật sẽ chuyển đƣợc nghiệp.
Chúng ta chẳng làm chuyện thƣơng thiên tổn đức thì sợ cái gì
chứ? Ngƣời niệm Phật thiện thần hộ hựu (bảo vệ, giáng phƣớc),
ác quỷ tránh xa, sợ cái gì cơ chứ? Nếu ông cứ sợ mãi sẽ bị
vƣớng ma sợ, rồi oán gia trong vô lƣợng kiếp thừa dịp tâm ông
hoảng sợ đến dọa nạt ông, khiến ông mất trí hóa cuồng để báo
oán xƣa.
Chớ có nói: “Nếu tôi còn niệm Phật, chỉ sợ thình lình sẽ bị nhƣ
thế”. Chẳng biết rằng toàn thể chánh niệm của ông đã quy vào
nỗi sợ, nên khí phần xa cách Phật, tƣơng thông với ma, chẳng                                                                             96
phải Phật không thiêng! Do tâm ông đã mất chánh
niệm nên đến nỗi niệm Phật chẳng đƣợc lợi ích toàn phần vậy!
Chỉ mong ông thấy chữ viết của Quang, bèn quyết liệt gột bỏ tâm
trƣớc. Ông chỉ một chồng, một vợ còn lo nỗi gì? Dẫu cho nghiệp
chƣớng hiện tiền, sợ gì chẳng tiêu diệt đƣợc nó? Chỉ vì chẳng sợ
nên giữ đƣợc chánh niệm, thành ra làm việc gì cũng đích đáng,
chân thần ổn định nên tà chẳng thể xâm.
Nếu không, do tà chiêu tà, túc oán đổ tới, gặp sự không làm chủ
đƣợc, hành động hoàn toàn thất thố, chẳng đáng buồn ƣ? Tôi
nay vì ông tính kế: Hãy nên buông bỏ hoài bão, chẳng nên toan
tính hết thảy mọi việc, chẳng nên đảm đƣơng, lo lắng mọi việc,
chỉ sợ hành vi có tỳ vết, chẳng sợ họa hoạn, quỷ thần.
* Nếu bệnh khổ đến hồi kịch liệt chẳng chịu đựng nổi thì ngoài
việc sáng chiều niệm Phật, hồi hƣớng ra, hãy chuyên tâm dốc
chí niệm nam mô Quán Thế Âm Bồ Tát. Quán Thế Âm Bồ Tát
hiện thân trong sát-na, tầm thanh cứu khổ. Ngƣời gặp cơn nguy
cấp nếu có thể trì tụng, lễ bái Ngài thì không ai là chẳng đƣợc
cảm ứng, rủ lòng từ gia hựu khiến thoát khổ não, hƣởng yên vui
vậy.
* Thầy thuốc dù giỏi cũng chỉ trị đƣợc bệnh, không trị đƣợc
nghiệp.  Nhƣ Tử Trọng ruột bị loét nặng, thầy thuốc bảo không
giải phẫu không xong. Bà thím Tƣ của ông chẳng đành lòng nên
chẳng chữa, cùng Ðức Chƣơng liều mạng niệm Phật, niệm kinh
Kim Cang. Năm ngày khỏi bệnh. Bệnh này đáng kể là cực nặng,
cực nguy hiểm, nhƣng chẳng chữa, sau năm ngày liền lành.
Bệnh điên của Tử Tƣờng thuộc về túc nghiệp, bà thím Tƣ của
ông do chí thành lễ tụng, nửa năm liền khỏi.
Cha ông đã quy y Phật pháp, lẽ ra nên tin lời Phật, chẳng nên tin
theo thầy thuốc Tây, phải đến bệnh viện của họ để  chữa. Nếu
nhƣ hết thảy bệnh đều phải đƣợc thầy thuốc trị mới lành, không
thầy thuốc chẳng xong thì từ thời cổ, hoàng đế và những kẻ phú                                                                             97
quý lẽ ra vĩnh viễn không bệnh tật, cũng vĩnh viễn
chẳng bị tử vong. Thế nhƣng kẻ bần tiện vừa ít bệnh vừa sống
lâu, ngƣời phú quý lắm bệnh lại thƣờng đoản thọ. Ðó là vì cớ gì?
Một là do mình tự tạo thành bệnh, hai là thầy thuốc gây ra bệnh.
Do hai công năng tạo tác này, muốn thoát bệnh khổ có đƣợc hay
chăng?
Mong ông thƣa cho cha hiểu, bất tất phải lên Thƣợng Hải tìm
thầy thuốc Tây, cứ ở nhà cầu nơi đại y vƣơng A Di Ðà Phật,
Quán Thế Âm Bồ Tát sẽ tự có thể chẳng cần đến thuốc mà lành
bệnh. Cầu thầy thuốc Tây chỉ hy vọng chừng một nửa, cầu đại y
vƣơng may ra thân thể sẽ đƣợc mạnh, mà dù thân thể chƣa
khoẻ lại, thần thức chắc chắn thấy thƣ thái. Nếu sai lầm muốn
đƣợc mạnh liền, bỏ hết những giới đã trì khi trƣớc, thật chẳng
khác nào rạch thịt để tự bị thƣơng, chỉ tổn hại không ích gì. Khi
Tây Y chƣa truyền vào Trung Quốc, Trung Quốc có bệnh gì cũng
chẳng trị đƣợc ƣ? Bởi vậy nên buông vọng tƣởng xuống, đề khởi
chánh niệm sẽ cảm ứng đạo giao, tự có thể lành bệnh hoàn
toàn.
* Nghiệp chƣớng nặng, tham sân mạnh mẽ, thân yếu đuối, tâm
khiếp nhƣợc thì chỉ nên nhất tâm niệm Phật, lâu ngày các bệnh
sẽ tự lành. Phẩm Phổ Môn nói: “Nếu có chúng sanh nhiều dâm
dục, nóng giận, ngu si, thƣờng niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ
Tát sẽ xa lìa đƣợc [những sự ấy]”. Niệm Phật cũng thế, chỉ nên
tận tâm kiệt lực, chẳng hề ngờ vực thì không cầu cũng đƣợc.
* Mỗi ngày ngoại trừ lúc phải làm mọi việc thuộc bổn phận mình
ra, hãy chuyên tâm niệm danh hiệu Phật. Sáng tối đối trƣớc
Phật, kiệt thành tận kính, khẩn thiết sám hối túc nghiệp từ vô thỉ.
Lâu ngày nhƣ thế sẽ có lợi ích chẳng thể nghĩ bàn mà chẳng
hay, chẳng biết. Kinh Pháp Hoa dạy: “Nếu có chúng sanh nhiều
lòng dâm dục, thƣờng niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát liền
đƣợc ly dục”. Với sân hận, ngu si cũng thế. Nhƣ vậy thì chí thành
niệm thánh hiệu A Di Ðà, Quán Âm, ba thứ Hoặc: tham, sân, si
sẽ tự tiêu diệt.                                                                            98
Hơn nữa, nay đang lúc cõi đời hoạn nạn, ngoài việc
niệm Phật ra, nên niệm thêm thánh hiệu Quán Âm, trong âm
thầm sẽ có sự chuyển biến chẳng thể nghĩ bàn, kẻo đến lúc túc
nghiệp bất chợt hiện đến, không cách chi tránh thoát.
* Quán Thế Âm Bồ Tát trong kiếp quá khứ đã thành Phật từ lâu,
hiệu là Chánh Pháp Minh, chỉ vì lòng từ bi thiết tha, dù an trụ
trong cõi Thƣờng Tịch Quang, vẫn hiện thân trong ba cõi Thật
Báo, Phƣơng Tiện, Ðồng Cƣ. Tuy là thƣờng hiện thân Phật, Ngài
cũng còn hiện đủ các thân Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên Giác và
thân trời - ngƣời, sáu nẻo. Tuy Ngài thƣờng hầu Di Ðà nhƣng
hiện thân khắp trong mƣời phƣơng vô tận pháp giới. Ðó là: Hễ
chỉ có lợi ích thì không điều gì ngài chẳng vận dụng. Nên dùng
thân nào để độ đƣợc, Ngài liền hiện thân đó để thuyết pháp cho
ngƣời đáng độ.
Phổ Ðà Sơn là chỗ Bồ Tát ứng tích. Muốn cho chúng sanh có nơi
để gieo tấm lòng thành nên Bồ Tát thị hiện ứng tích nơi núi đó;
nào phải Bồ Tát chỉ ngự trong núi Phổ Ðà, chẳng ở nơi khác
đâu? Một vầng trăng vằng vặc giữa trời, vạn con sông in bóng.
Dù nhỏ nhƣ một chƣớc, một giọt nƣớc, nơi nơi đều hiện toàn bộ
khuôn trăng. Nếu nƣớc vừa đục vừa xao động, trăng chẳng thể
hiện phân minh.
Tâm chúng sanh nhƣ nƣớc, nếu nhất tâm chuyên niệm Bồ Tát,
Bồ Tát liền ngay trong niệm ấy, sẽ ngầm hoặc hiển nhiên [gia hộ]
khiến [ngƣời niệm] đƣợc lợi ích. Nếu tâm chẳng chí thành, chẳng
chuyên nhất thì cũng khó cứu hộ. Nghĩa này rất sâu, hãy nên đọc
bài Thạch Ấn Phổ Ðà Sơn Chí Tự (bài tựa cho bản in thạch
(lithography) cuốn Phổ Ðà Sơn Chí) trong Ấn Quang Văn Sao sẽ
biết.
Ngài có tên là Quán Thế Âm vì khi tu nhân, Ngài do quán và
nghe nơi tánh mà chứng viên thông và lúc đã đắc quả, Ngài xem
xét âm thanh xƣng danh hiệu Ngài để ban cho sự cứu giúp. Vì
thế Ngài tên là Quán Thế Âm.                                                                            99
Phổ Môn là đạo Bồ Tát rộng lớn không ngằn mé, tùy
thuận khắp căn tánh của hết thảy chúng sanh, khiến cho họ biết
đƣờng về nhà, chẳng lập riêng một môn nào. Chẳng hạn, nhƣ
trong đời có ngàn căn bệnh thì cũng phải có vạn loại thuốc,
chẳng thể chấp chặt vào một pháp nào. Tùy theo họ mê nơi đâu
và chỗ nào họ dễ ngộ mà Bồ Tát chỉ điểm cho. Nhƣ sáu căn, sáu
trần, bảy đại, pháp nào cũng có thể dùng để chứng viên thông.
Vì thế bất cứ pháp nào cũng là cửa để ra khỏi sanh tử, thành
Chánh Giác. Vì thế gọi là Phổ Môn. Nếu Bồ Tát chỉ ở Nam Hải thì
chẳng đáng gọi là Phổ đƣợc!
3. Luận về việc gìn lòng lập phẩm
* Nếu cảnh ngộ chẳng tốt lành thì hãy nên nghĩ đến việc lùi một
bƣớc. Hãy thử nghĩ, trong đời, ngƣời hơn ta cố nhiên là nhiều,
ngƣời thua ta cũng chẳng phải là ít. Chỉ mong chẳng đói chẳng
lạnh, mong chi đại phú, đại quý? Vui theo thiên mệnh, an vui với
hoàn cảnh. Nhƣ vậy còn có thể chuyển phiền não thành Bồ Ðề,
huống hồ là chẳng chuyển nổi ƣu khổ thành an lạc sao?
Nếu tật bệnh triền miên thì nên đau đáu nghĩ thân là gốc khổ,
sanh cực chán lìa, tận lực tu Tịnh nghiệp, thề cầu vãng sanh.
Chƣ Phật lấy khổ làm thầy đạt thành Phật đạo. Chúng ta nên lấy
bệnh làm thuốc, mau cầu xuất ly. Phải biết rằng phàm phu đầy
dẫy triền phƣợc nếu không có các nỗi khổ: bần cùng, tật bệnh
v.v... sẽ suốt ngày rong ruổi trong trƣờng thanh sắc danh lợi
chẳng hề thỏa. Trong lúc hiển hách, đắc ý, ai chịu quay đầu
tƣởng đến lúc chìm đắm mai sau?
Mạnh Tử nói: “Trời muốn giao trách nhiệm lớn cho ai thì trƣớc đó
sẽ khiến kẻ đó tâm chí khổ sở, gân xƣơng mỏi mệt, thân thể đói
khát, thân thể trống trải, nhiễu loạn hành vi của họ ngõ hầu tâm
họ khởi tánh Nhẫn, tăng trƣởng [khả năng làm đƣợc] những điều
mình chƣa thể làm đƣợc”. Do đó, ta biết rằng những ngƣời đƣợc                                                                             100
trời thành tựu phần nhiều gặp nghịch cảnh, con
ngƣời chỉ nên thuận theo mạng trời nhận lãnh [nghịch cảnh].
Cái “trách nhiệm lớn” Mạnh Tử đã nói đó chỉ là tƣớc vị trong thế
gian mà còn phải lo buồn, vất vả nhƣ thế mới khỏi phụ lòng trời.
Huống chi bọn ta là phàm phu sát đất muốn trên thì tiếp nối đạo
giác của đấng Pháp Vƣơng, dƣới thì giáo hóa pháp giới hữu
tình, nếu chẳng bị nghèo đói thử thách đôi chút thì Phàm Hoặc
ngày thêm lừng lẫy, Tịnh nghiệp khó thành, mê muội bổn tâm,
vĩnh viễn chìm đắm trong ác đạo đến tận đời vị lai, không thời
gian nào mong thoát khỏi đƣợc! Cổ đức nói:
Bất kinh nhất phiên hàn triệt cốt,
Tranh đắc mai hoa phác tỵ hƣơng,
(Chẳng trải một phen lạnh thấu xƣơng,
Dễ đâu hoa mai thơm ngát mũi!)
Chính là nói về ý này vậy.
Chỉ nên chí tâm niệm Phật để tiêu nghiệp cũ, trọn chẳng nên
khởi tâm phiền bực, oán trời trách ngƣời, bảo là nhân quả hƣ
huyễn, Phật pháp chẳng thiêng!
* Ông Cừ Bá Ngọc đến tuổi năm mƣơi biết bốn mƣơi chín năm
trƣớc là sai trái. Khổng Tử tuổi chừng bảy mƣơi, còn mong trời
cho sống thêm vài năm nữa để học Dịch hầu khỏi mắc lỗi lớn.
Thánh hiền học hỏi không vị nào là chẳng mong muốn hiểu đến
chỗ rốt ráo. Các nho gia cận đại chỉ học từ chƣơng, chẳng bận
tâm đến chánh tâm thành ý. Tuy suốt ngày đọc sách, trọn chẳng
biết ý lƣu lại sách vở để răn đời của thánh hiền. Nếu lời nói, hành
vi của mình đem đọ với lời nói, hành vi của thánh hiền mà sáng -
tối chẳng hợp nhau, tròn - vuông chẳng khớp nhau, chẳng nên
gấp suy xét tới từng điểm sai biệt ẩn kín, nhỏ nhặt ƣ?                                                                            101
Kinh Phật dạy ngƣời ta thƣờng hành sám hối ngõ
hầu đoạn sạch vô minh, viên thành Phật đạo. Dù địa vị đến bậc
Ðẳng Giác nhƣ Di Lặc Bồ Tát vẫn trong mƣời hai thời lễ thập
phƣơng chƣ Phật để mong hết sạch vô minh, viên chứng Pháp
Thân, huống những kẻ kém hơn Ngài [chẳng học theo vậy] ƣ?
Kẻ phàm phu sát đất khắp thân là nghiệp lực, chẳng sanh hổ
thẹn, chẳng tu sám hối, dù nhất niệm tâm tánh bình đẳng với
Phật, nhƣng do phiền não ác nghiệp ngăn lấp nguồn tâm chẳng
thể hiển hiện đƣợc.
* Ðối với việc dứt ác làm lành, dựa trên thực tế mà suy xét thì
không gì hay bằng Công Quá Cách. Nhƣng nếu tâm chẳng thành
kính, dù suốt ngày ghi công, chép lỗi, cũng chỉ là hƣ văn!
Ở nơi đây chƣa có sách Công Quá Cách, nhƣng theo tôi thấy,
chỉ nên chú trọng lòng thành, giữ lòng kính, trong suốt mƣời hai
thời, chẳng có một niệm hời hợt, một tƣớng lƣời nhác, xao
nhãng. Ðối xử với thế nhân chỉ giữ lòng trung thứ (trung hậu và
khoan dung) thì tự nhiên trong hết thảy lúc, hết thảy chỗ, ác niệm
chẳng thể khởi từ đâu đƣợc. Giả nhƣ do túc tập sai khiến, ngẫu
nhiên ác niệm phát sanh, vì luôn ôm ấp lòng thành kính, trung
thứ, sẽ tự có thể hễ niệm khởi liền nhận biết ngay. Hễ đã giác thì
ác niệm liền không, quyết chẳng đến nỗi để nó tăng trƣởng khiến
cả ba nghiệp phải xuôi theo.
Sở dĩ kẻ tiểu nhân dối làm lành chứ thật sự là làm ác, là do nghĩ
rằng ngƣời khác chẳng biết tới. Họ chẳng hiểu rằng ngƣời chẳng
biết họ chỉ là những phàm phu trong thế gian mà thôi! Nếu là bậc
thánh nhân đắc đạo, cố nhiên sẽ biết họ tƣờng tận. Thiên địa,
quỷ thần dù chƣa đắc đạo, nhƣng do đƣợc báo Tha Tâm Thông
nên cũng sẽ biết họ tƣờng tận. Huống hồ là Thanh Văn, Duyên
Giác, Bồ Tát, chƣ Phật! Tha Tâm Ðạo Nhãn của các vị ấy thấy
trọn tam thế nhƣ nhìn vật đang đặt trong lòng bàn tay. Muốn
không ai biết thì chỉ có mình không biết mới đƣợc mà thôi!                                                                            102
Nếu chính mình đã biết thì tất nhiên thiên địa,  quỷ
thần, Phật, Bồ Tát v.v... không vị nào là chẳng biết, chẳng thấy
cả! Nếu biết nghĩa này, dù ở trong phòng tối, nhà kín cũng chẳng
dám biếng trễ, xao nhãng; dù ở nơi ngƣời khác không biết đến
vẫn chẳng dám manh nha làm ác bởi thiên địa, quỷ thần, chƣ
Phật, Bồ Tát đều biết. Nếu chẳng biết hổ thẹn nhƣng hiểu đƣợc
nghĩa này rồi thì cũng sẽ hổ thẹn không cùng vậy; huống hồ là
ngƣời chân thật tu hành ƣ?
Vì thế muốn ít phạm lỗi thì phải bắt đầu từ chỗ sợ thánh phàm
cùng biết, cùng thấy. Xem gƣơng tiên triết ăn canh, nhìn tƣờng,
dù ở một mình hành vi chẳng cẩu thả, chẳng thẹn với bóng áo
(6), vẫn còn là những cách nói thiển cận ƣớc theo sự thấy biết
của thế gian đó thôi! Thật ra, bản thể tâm ta cùng bản thể mƣời
phƣơng pháp giới tƣơng hợp khít khao. Do ta mê nên sự thấy
biết bị hạn cuộc trong một thân. Mƣời phƣơng pháp giới thánh
nhân triệt chứng pháp giới tạng tâm sẵn có trong tự tâm nên hết
thảy hữu tình trong pháp giới khởi tâm động niệm, các ngài đều
hay biết cả. Vì sao thế? Do cùng bẩm thọ Chân Nhƣ, tự  - tha
chẳng hai vậy. Nếu biết nghĩa này thì sẽ tự sợ hãi, kiêng dè, giữ
lòng thành kính, thoạt đầu phải gắng sức dứt vọng, lâu ngày
vọng sẽ chẳng khởi đƣợc nữa.
* Việc giảm thiểu lầm lỗi thật sự là công phu thiết yếu của cả
Nho lẫn Phật. Ông Cừ Bá Ngọc đến năm năm mƣơi tuổi, thấy cả
bốn mƣơi chín năm trƣớc mình đều sai trái. Nếu ai nói muốn bớt
lỗi nhƣng chƣa làm đƣợc, [thì nên biết là] phải thật sự dụng công
nơi ý, chứ chẳng phải hễ thân khẩu vừa phát động liền có lỗi
đâu! Tại gia cƣ sĩ hằng ngày cùng ngƣời cƣ xử phải luôn đề
phòng trong mỗi khắc. Nếu không, chẳng những ý nghiệp không
tịnh mà thân khẩu cũng thành ra ô uế, bất tịnh. Muốn cả mình lẫn
ngƣời cùng đƣợc lợi thì không gì bằng lấy những hành vi của vị
danh nhân đã nói ở trên (tức Cừ Bá Ngọc) làm khuôn phép,
gƣơng mẫu vậy.                                                                              103
* Muốn học theo Phật, Tổ liễu sanh tử thì phải bắt
đầu từ việc hổ thẹn, sám hối, dứt ác, tu thiện, ăn chay, tự răn
nhắc, ý thật chân thành, thiết tha. Phải thực sự tu tập, tận lực
thực hành. Nếu không chỉ trở thành vọng ngữ trong các thứ hƣ
dối. Biết chẳng khó, làm đƣợc mới khó. Mấy kẻ thông minh trong
thế gian đều chỉ nói đƣợc, nhƣng không làm đƣợc. Trọn một đời
này, uổng công vào núi báu, trở về tay không. Ðáng xót, đáng
tiếc thay! Ðáng xót, đáng tiếc thay!
* Phàm phu còn mê, tín tâm bất định; vì thế có tật lắm phen tin rồi
lại ngờ, lắm phen đã tu rồi lại tạo nghiệp, cũng là do ngƣời dạy
ban đầu không hiểu đạo đến nơi đến chốn. Nếu lúc ban đầu, chỉ
từ nhân quả thiển cận mà khởi sự sẽ chẳng đến nỗi bị điên đảo,
mê hoặc nhƣ thế. Ðối với những tội cũ, dù rất sâu nặng, hãy nên
chí tâm sám hối, sửa đổi thói xƣa, tu tập từ nay, dùng chánh tri
kiến tu tập Tịnh nghiệp, dốc chí tự lợi, lợi tha thì tội chƣớng nhƣ
sƣơng tiêu tan, bầu trời chân tánh sáng rạng. Vì thế, kinh nói:
“Thế gian có hai hạng ngƣời mạnh mẽ: một là ngƣời chẳng tạo
tội; hai là đã tạo tội rồi lại có thể sám hối”.
Một chữ Hối phải từ tâm khởi. Tâm chẳng thật sám hối, có nói gì
cũng vô ích. Ví nhƣ chỉ đọc toa thuốc, chứ chẳng uống thuốc,
nhất định chẳng hy vọng gì lành bệnh đƣợc. Còn nếu theo toa
uống thuốc, sẽ tự đƣợc lành bệnh, thân an. Ðiều đáng ngại là lập
chí chẳng vững, một nóng mƣời lạnh thì chỉ uổng mang hƣ danh,
không mảy may lợi ích thật sự.
* Cảnh không tự tánh, tổn hại hay lợi ích toàn do ngƣời. Ba
nghiệp, bốn oai nghi (đi, đứng, nằm, ngồi) thƣờng giữ nhƣ “tứ
vật” (bốn điều đừng) của Nhan Uyên. Ngũ giới, thập thiện khác gì
“tam tỉnh” (ba điều tự cảnh tỉnh) của Tăng tử. Trong nhà tối tuy
không ai thấy nhƣng thiên địa, quỷ thần đều biết. Niệm mới manh
nha nhƣng tội phƣớc ẩn nhiệm đã rạch ròi nhƣ trời với vực. Nếu
thƣờng tu tỉnh đƣợc nhƣ thế thì tất cả hành động đều là thiện, ác
chẳng sanh từ đâu đƣợc. Ðây chính là quy mô sâu rộng của                                                                             104
chánh tâm thành ý, chớ nói là nhà Phật phiền toái,
chẳng giản dị, nhanh tắt nhƣ Nho gia!
* Ngƣời niệm Phật đối với sự sự phải trung thứ, tâm tâm luôn
đề phòng tội khiên. Biết lỗi liền sửa, thấy điều nghĩa mạnh mẽ
làm ngay thì mới hợp với Phật. Ngƣời nhƣ thế quyết định vãng
sanh. Nếu chẳng nhƣ thế là trái nghịch với Phật, quyết khó cảm
thông!
* Kinh Pháp Hoa nói: “Tam giới không yên, hệt nhƣ nhà cháy.
Các khổ đầy dẫy, thật đáng kinh sợ”. Vì thế, để thành tựu con
ngƣời, trời phải có khổ, có vui, có nghịch, có thuận, có phƣớc, có
họa, vốn chẳng nhất định. Nhƣng ngƣời trong hoàn cảnh ấy nếu
có cái nhìn thấu suốt sẽ thấy không khổ, không vui, không
nghịch, không thuận, không họa, không phƣớc. Vì thế, quân tử
vui biết mệnh trời, trên chẳng oán trời, dƣới chẳng trách ngƣời,
an vui theo hoàn cảnh, không lúc nào là chẳng tự tại tiêu dao!
Vì thế họ chẳng phú quý mà hành nhƣ đang hƣởng phú quý (chữ
Hành ở đây hàm ý ung dung, tự tại. Phú là cứu giúp khắp mọi
ngƣời bần cùng. Quý là tận tụy với vua, giúp đỡ dân), chẳng bần
tiện mà hành nhƣ bần tiện (nếu trong nhà không tiền của, thân
chƣa ra làm quan thì thanh bần giữ khí tiết, chẳng dám làm bậy),
chẳng phải mọi rợ mà hành xử nhƣ mọi rợ (ý nói: Nếu vì lòng tận
trung bị sàm tấu, bị vua biếm truất ra miền xa nhƣ các tỉnh Vân
Nam, Quý Châu, Lƣỡng Quảng (Quảng Ðông - Quảng Tây), Hắc
Long Giang v.v... thì tâm bình, khí hòa, trên chẳng oán vua, dƣới
chẳng hận ngƣời sàm tấu, tự coi mình giống nhƣ ngƣời dân
đang sống tại những vùng ấy), chẳng hoạn nạn mà hành nhƣ
đang hoạn nạn (nếu nhƣ chẳng những bị đày, còn bị trừng phạt.
Nhẹ thì bị đánh đập, giam cầm, nặng thì bị chém đầu, phanh
thây, hoặc đến nỗi diệt tộc. Nhƣng vẫn cứ chẳng oán vua, chẳng
hận gian đảng. Nếu tự mình làm đƣợc nhƣ thế, khi gặp ngƣời
gieo vạ còn giữ đƣợc nhƣ thế, huống hồ khi trời gieo vạ, há có
nên oán hận chăng? Ngƣời nhƣ vậy ngƣời yêu mến, trời bảo vệ,                                                                             105
ngay trong đời này hoặc trong đời sau, hoặc con
cháu ngƣời đó nhất định sẽ hƣởng phƣớc báo vô cùng xứng với
đức ấy).
* Phàm là ngƣời bỏ lỗi theo lành và tu Tịnh nghiệp, chỉ quý ở
chỗ chân thành, tối kỵ giả dối. Chẳng đƣợc ngoài mặt phô trƣơng
cái danh làm lành tu hành, trong lòng bất trung, bất thứ. Ông Cừ
Bá Ngọc năm năm mƣơi tuổi thấy bốn mƣơi chín năm trƣớc
mình toàn làm quấy. Có vậy mới mong thành thánh, thành hiền,
học Phật, học Tổ, là bậc danh giáo công thần, là con đích thực
của đức Nhƣ Lai. Vì thế, tôi chẳng quan tâm đến kẻ Tăng, ngƣời
tục ấy là thành đạt hay cùng quẫn chi cả!
* Niệm Phật cầu sanh Tây Phƣơng, phải biết nhân hiểu quả.
Hành vi nơi thân, ý niệm nơi tâm phải hợp với Phật. Nếu trái
nghịch Phật, dù có niệm Phật cũng khó vãng sanh vì chẳng cảm
ứng đạo giao vậy! Nếu có thể sanh lòng hổ thẹn lớn lao, sửa lỗi
nhƣ trừ ghẻ độc, lập chí nhƣ giữ bạch ngọc thì vạn ngƣời chẳng
sót một ai đều đƣợc vãng sanh cả!
* Nói về những quy luật phải giữ ngoài việc ăn chay trƣờng
niệm Phật là nói đến việc chăm chắm bền lòng hiếu thuận, thành
kính giữ trọn vẹn luân thƣờng, đừng làm các điều ác, vâng làm
các điều lành. Tâm nghĩ, niệm khởi chẳng hề tà vạy, khuất khúc
và hƣ ngụy. Làm việc cho ngƣời phải tận hết trách nhiệm. Gặp
ngƣời hữu duyên, khuyên họ nhập đạo. Các hành tƣớng nhƣ vậy
chẳng cần phải thuật đủ. Chỉ siêng xem Ấn Quang Văn Sao và
An Sĩ Toàn Thƣ sẽ tự biết.
Phải biết rằng: là đệ tử Phật, phàm làm gì phải vƣợt trội hơn
hành vi thế tục thì chính mình mới đạt đƣợc  lợi ích chân thật,
khiến cho ngƣời khác trông thấy làm lành theo. Nếu miệng nói tu
hành, trong tâm chẳng lành, đối với cha mẹ, anh em và hết thảy
ngƣời đời chẳng trọn hết bổn phận thì ngƣời nhƣ thế gọi là “ngụy
thiện nhân”! Nhân địa đã giả dối, làm sao đạt lợi ích thật sự? Cái
học của thánh hiền đều bắt đầu từ “cách vật trí tri, thành ý chánh                                                                             106
tâm”; huống muốn liễu sanh thoát tử, siêu phàm
nhập thánh [lại chẳng nhƣ thế] ƣ? Về [ý nghĩa của] “cách vật trí
tri” nên xem lời tựa bản in lại sách chú giải Tứ Thƣ của ngài
Ngẫu Ích và lời tựa cuốn Liễu Phàm Tứ Huấn.
* Các việc ác và các điều thiện đều là dựa trên tâm địa mà luận,
chứ chẳng phải chỉ nói về sự tƣớng mà thôi. Trong tâm đã chẳng
khởi ác thì toàn thể là thiện, niệm ấy là Phật, công đức hơn hẳn
ngƣời thƣờng trăm ngàn vạn lần. Muốn cho cõi lòng chỉ thiện
không ác thì trong hết thảy lúc, hết thảy nơi, hãy nên giữ lòng
thành kính nhƣ đối trƣớc trời Phật mới hòng đạt đƣợc. Nếu tâm
vừa mới phóng túng thì các ý niệm chẳng đúng pháp sẽ theo đó
mà khởi!
* Niệm Phật phải khéo phát tâm. Tâm làm chủ việc tu trì. Tâm
nếu phù hợp với bốn hoằng thệ nguyện thì niệm Phật một câu,
làm một điều lành, công đức vô lƣợng vô biên; huống hồ là ba
nghiệp thân - khẩu - ý luôn đặt nơi niệm Phật lợi sanh?
Nếu tâm chỉ cầu tự lợi, chẳng mong lợi ngƣời, dù làm nhiều việc
vẫn đạt đƣợc công đức rất ít. Huống hồ lại còn có ý khuynh đảo
ngƣời, hại ngƣời, và tâm tự khoe khoang, hợm hĩnh thì việc mình
niệm Phật đó, việc mình làm đó dù chẳng phải hoàn toàn không
công đức, nhƣng trong trăm ngàn vạn ức phần, mình chỉ thật sự
đạt đƣợc một phần rƣỡi thôi! Thế nhƣng tội lỗi của ác niệm cũng
lại chẳng ít. Bởi vậy, ngƣời tu hành ai nấy phải khéo phát tâm,
chứ chẳng riêng gì ngƣời niệm Phật!
* Phải biết rằng Phật pháp vốn chẳng lìa thế gian. Tất cả những
bạn trong liên xã ai nấy đều phải trọn vẹn bổn phận của mình.
Nhƣ cha hiền con hiếu, anh rộng lƣợng, em cung kính, chồng
xƣớng vợ theo, chủ nhân từ, tớ trung thành v.v... Lại phải đừng
làm các điều ác, vâng làm các điều lành, kiêng giết, phóng sanh,
chẳng ăn mặn, uống rƣợu, ngăn điều tà, giữ lòng thành, khắc kỷ,
giữ lễ, tự lợi, lợi tha; [lấy những việc nhƣ vậy] làm trách nhiệm
của mình. Nhƣ thế thì nền tảng vững vàng, ngay ngắn, đáng thọ                                                                             107
pháp nhuận. Nếu có đủ lòng tin chân thành, nguyện
thiết tha, ắt sẽ vãng sanh thƣợng phẩm.
Kẻ ngu trong đời phần nhiều thƣờng không tu hành thật sự, chỉ
mong đƣợc cái hƣ danh là tu hành chân thật. Vì thế, bày ra đủ
mọi cách tô son trát phấn thành ra những trò trông giống nhƣ
thật nhƣng chỉ là giả, chỉ mong ngƣời khác khen ngợi mình. Tâm
hạnh họ đã dơ bẩn quá đỗi, dù có tu trì cũng bị tâm ấy làm bẩn,
quyết khó đƣợc lợi ích chân thật. Ðấy gọi là “háo danh ố thật”
(thích danh ghét thật), là điều đại kỵ bậc nhất cho việc tu hành.
Nếu ai thực hiện những điều nên làm đã nói ở phần trƣớc, không
có những điều nên tránh nhƣ đã nói ở phần sau, ngƣời ấy là
ngƣời hiền trong thế gian, là bậc Khai Sĩ trong Phật pháp. Dùng
thân mình làm gƣơng cho mọi ngƣời, từ trong nhà ra đến làng
xóm, từ làng xóm đến thành ấp, cho đến toàn quốc và tứ thiên hạ
thì lễ nghĩa hƣng thịnh, can qua vĩnh viễn ngƣng dứt, từ thiện
nẩy nở, tai hại chẳng sanh, mới hòng thiên hạ thái bình, nhân
dân an lạc!
* Ðã niệm Phật cầu sanh Tây Phƣơng thì phải phát tâm từ bi,
hành phƣơng tiện sự, dứt tham - sân - si, tránh giết - trộm - dâm,
tự lợi, lợi ngƣời mới hợp ý Phật. Nếu không, tâm trái với Phật,
cảm ứng đạo giao bị gián cách, chỉ gieo nhân đời sau, khó đƣợc
quả hiện đời. Nếu chí thành niệm Phật, hạnh hợp tâm Phật, tâm
khẩu tƣơng ứng thì ngƣời nhƣ thế đến lúc lâm chung, A Di Ðà
Phật và các thánh chúng tất nhiên hiện đến tiếp dẫn vãng sanh
Tây Phƣơng.
Một phen sanh về Tây Phƣơng liền siêu phàm nhập thánh, liễu
sanh thoát tử, vĩnh viễn lìa khỏi các khổ, chỉ hƣởng các vui. Ðấy
là toàn cậy vào Phật lực, chẳng bàn đến công đức là cạn hay
sâu, có Hoặc hay không Hoặc! Chỉ đầy đủ lòng tin chân thành,
nguyện thiết tha, quyết định vạn ngƣời chẳng sót một.                                                                            108
* Ngƣời học đạo an tâm lập hạnh ắt phải chất trực,
trung chánh, chẳng đƣợc có mảy may thiên lệch, tƣ vị, cong vẹo
nào. Nếu có chút thiên lệch, tƣ vị, cong vẹo nào sẽ giống nhƣ cái
cân có mấu cân chẳng chuẩn, cân các vật nặng nhẹ đều sai!
Nhƣ tấm gƣơng thể chất chẳng sạch, chiếu các vật đẹp xấu
chẳng đúng. Sai chỉ hào ly, mất cả ngàn dặm. Sai lầm lan truyền,
không sao dứt đƣợc.
Vì thế, kinh Lăng Nghiêm nói: “Thập phƣơng Nhƣ Lai đồng một
đạo nên xuất ly sanh tử đều dùng trực tâm”. Do tâm lẫn lời nói
đều ngay thẳng nhƣ thế cho đến địa vị Chung Thỉ, trong khoảng
thời gian ấy vĩnh viễn không có các tƣớng ủy khúc. Kinh Thƣ nói:
“„Nhân tâm nguy ách, đạo tâm tế nhị, ròng chuyên một mối, đừng
chấp hai bên”.
* Quán kinh dùng hiếu dƣỡng phụ mẫu, phụng sự sƣ trƣởng, từ
tâm chẳng giết, tu thập thiện nghiệp và thọ trì Tam Quy, các giới:
Cụ Túc... chẳng phạm oai nghi, phát Bồ Ðề tâm, tin sâu nhân
quả, đọc tụng [kinh điển] Ðại Thừa để khuyến tấn hành giả dùng
đó làm chánh nhân cho Tịnh nghiệp. Với mƣời một điều này, chỉ
có một điều “dùng tín nguyện sâu xa, hồi hƣớng vãng sanh” thì
đều đƣợc nhƣ nguyện.
4. Luận định các pháp tu trì
* Trộm nghĩ pháp môn tu trì có hai thứ khác nhau. Nếu cậy vào
sức mình để tu Giới - Ðịnh - Huệ hòng đoạn Hoặc chứng chân,
liễu sanh thoát tử thì gọi là những pháp môn thông thƣờng. Nếu
đầy đủ lòng tin chân thành, nguyện thiết tha, trì danh hiệu Phật,
mong nhờ vào Phật lực vãng sanh Tây Phƣơng thì gọi là pháp
môn đặc biệt.
Pháp môn thông thƣờng toàn cậy vào tự lực, pháp môn đặc biệt
gồm cả tự lực và Phật lực. Dù có công tu Ðịnh Huệ, đoạn Hoặc
sâu, nhƣng không có lòng tin chân thành, nguyện thiết tha, niệm                                                                             109
Phật cầu vãng sanh thì vẫn thuộc về Tự Lực. Nay
dùng ví dụ để chỉ rõ. Ðƣờng lối tu thông thƣờng giống nhƣ vẽ
tranh sơn thủy, phải vẽ từng nét bút mới từ từ thành hình. Còn
pháp môn đặc biệt nhƣ chụp cảnh sơn thủy, dù núi non, cây cỏ
um tùm cách mấy, chụp một cái là đủ hết cả.
Ðƣờng lối tu thông thƣờng lại nhƣ ra đi bằng đƣờng bộ, ngƣời
mạnh nhất mỗi ngày đi chẳng quá một trăm mƣời dặm. Pháp
môn đặc biệt nhƣ ngồi trên luân bảo của Chuyển Luân Thánh
Vƣơng, một ngày bay đi khắp bốn đại bộ châu. Chúng ta đã
chẳng có khả năng thành Phật ngay lập tức, lại chẳng thực sự
chứng “đoạn Kiến Hoặc, tùy ý chẳng tạo nghiệp”; nếu chẳng
chuyên tu Tịnh Nghiệp để nhờ vào Phật lực đới nghiệp vãng
sanh, chỉ e đến tận đời vị lai, vẫn ở trong tam đồ, lục đạo, thọ
sanh, thọ tử, không cách nào xuất ly, chẳng đáng buồn ƣ?
Nguyện những đồng nhân của tôi gấp sanh chánh tín.
* Một pháp Niệm Phật ƣớc có bốn loại, nghĩa là: Trì Danh, Quán
Tƣợng, Quán Tƣởng, Thật Tƣớng. Chỉ mỗi mình pháp Trì Danh
thâu nhiếp căn cơ rất rộng, hạ thủ dễ dàng nhất, chẳng đến nỗi bị
ma sự!
Nếu muốn tu Quán, phải đọc kỹ Quán Kinh, hiểu sâu xa “tâm này
làm Phật, tâm này là Phật” và “tâm tịnh Phật hiện, cảnh chẳng
phải đến từ bên ngoài”, chỉ do tâm hiện, đừng sanh chấp trƣớc.
Ðã không chấp  trƣớc thì cảnh càng thêm thâm diệu, tâm càng
thêm tinh nhất. Làm đƣợc nhƣ vậy thì quán tƣởng đƣợc lợi ích
chẳng nhỏ.
Nếu cảnh quán chẳng thuần thục, chẳng hiểu rõ Lý, dùng tâm
gấp rút vọng động muốn cảnh hiện gấp thì toàn thể đều là vọng,
chẳng tƣơng ứng với cả Phật lẫn tâm, đọa vào ma thai. Nhân đó,
vọng động muốn thấy cảnh thì tâm càng thêm vọng động, ắt đến
nỗi phát động oan gia trong nhiều đời hiện ra những cảnh giới.                                                                             110
Cái nhân ban đầu đã chẳng chân, làm sao biết đƣợc
cảnh ấy là do ma nghiệp hiện? Liền sanh đại hoan hỷ, tình thức
chẳng tự yên nên ma sẽ dựa thân, mất trí thành cuồng. Dù cho
Phật sống hiện thân cứu độ, cũng chẳng làm gì đƣợc! Nên tự
lƣợng căn tánh, chớ toan tính chuyện cao xa để đến nỗi mong
đƣợc lợi hóa ra thành tổn hại!
Hòa Thƣợng Thiện Ðạo dạy: “Mạt Pháp chúng sanh thần thức
chao đảo, tâm thô cảnh tế, quán khó thành tựu. Cho nên đức Ðại
Thánh thƣơng xót riêng khuyên nên trì danh vì xƣng danh dễ, trì
danh liên tục liền đƣợc sanh”. Ðúng là Ngài sợ có kẻ chẳng khéo
dụng tâm đến nỗi lạc vào cảnh ma. Hãy tự xét kỹ! Hơn nữa, Trì
Danh chí thành khẩn thiết cũng là một diệu pháp để tiêu trừ ma
cảnh vọng động. Hãy nên dốc kiệt tâm lực thực hành mới nên!
* Chớ nói: Duyên tƣởng một Ðức Phật công đức chẳng lớn bằng
duyên tƣởng nhiều Ðức Phật.  Phải biết rằng A Di Ðà Phật là
Pháp Giới Tạng Thân, công đức của tất cả mƣời phƣơng pháp
giới chƣ Phật, mình đức Phật A Di Ðà đã hoàn toàn trọn đủ. Nhƣ
các hạt châu nơi lƣới của Thiên Ðế, ngàn hạt châu in bóng trong
một hạt châu, một hạt châu chiếu khắp ngàn hạt châu. Nêu một
gồm thâu toàn bộ, chẳng thiếu, chẳng dƣ!
Nếu là bậc Ðại Sĩ tu lâu, duyên cảnh rộng lớn chẳng ngại gì!
Cảnh càng rộng, tâm càng chuyên nhất. Nếu là kẻ sơ tâm mạt
học, nếu duyên cảnh rộng tâm thức sẽ phân tán, nhƣng chƣớng
sâu huệ cạn, rất có thể khởi các ma sự. Cho nên đức Phật Thế
Tôn ta và lịch đại chƣ Tổ đều dạy nhất tâm chuyên niệm A Di Ðà
Phật là vì lẽ ấy. Ðợi đến khi niệm Phật chứng đƣợc tam muội thì
trăm ngàn pháp môn, vô lƣợng diệu nghĩa thảy đều đầy đủ. Cổ
nhân bảo:
Dĩ mộc đại hải giả,                                                                            111
Tất dụng bách xuyên thủy,
Thân đáo Hàm Nguyên điện,
Bất tu vấn Trƣờng An?
(Ðã tắm trong biển cả,
Ắt dùng nƣớc trăm sông.
Thân đến điện Hàm Nguyên,
Hỏi Trƣờng An chi nữa?)
Có thể nói là rất khéo hình dung vậy!
* Chớ có nói một pháp Trì Danh là thiển cận, rồi bỏ pháp này, tu
các pháp Quán Tƣợng, Quán Tƣởng, Thật Tƣớng! Trong bốn
pháp niệm Phật, chỉ có mỗi Trì Danh là khế cơ bậc nhất. Trì đến
nhất tâm bất loạn thì diệu lý Thật Tƣớng sẽ hiển lộ toàn thể, diệu
cảnh Tây Phƣơng triệt để phô bày trọn vẹn. Tức là trì danh mà
chứng đƣợc Thật Tƣớng, chẳng quán tƣởng mà thấy cùng tột
cảnh Tây Phƣơng.
Một pháp Trì Danh chính là huyền môn để nhập đạo, là đƣờng
tắt để thành Phật. Nay những ngƣời dạy lý quán pháp đều chẳng
hiểu rõ. Nếu tu Quán Tƣởng, Thật Tƣớng lỡ bị ma dựa, há có
phải là biến khéo thành vụng, cầu thăng hóa đọa. Hãy nên tu
hạnh dễ hành, sẽ tự cảm đƣợc diệu quả.
* Nhƣ Lai thuyết pháp vốn là để thích ứng căn cơ. Vì thế mới có
việc vì Thật bày Quyền, hiển Quyền khai Thật, năm thời giáo                                                                             112
hóa. Lại vì cậy vào tự lực để liễu thoát thì khó, cậy
Phật lực để liễu thoát thì dễ. Lại vì chúng sanh đời Mạt căn cơ
hèn kém nên Phật đặc biệt mở ra pháp môn Tịnh Ðộ để ba căn
thƣợng, trung, hạ đều hƣởng lợi ích, cùng chứng Bất Thoái.
Ðời có kẻ ham cao chuộng trội, chẳng xét thời cơ, cứ đem những
pháp phần đông chẳng khế ngộ nổi để dạy ngƣời tu tập. Ý họ tuy
rất lành, nhƣng ƣớc về giáo pháp thì chẳng thích hợp với căn cơ,
cho nên dụng sức rất nhiều mà kẻ đƣợc lợi ích lại ít!
* Trƣớc khi chƣa đắc Nhất Tâm, trọn chẳng thể móng khởi ý
niệm thấy Phật. Ðạt đƣợc Nhất Tâm thì tâm hợp với đạo, tâm
hợp với Phật, muốn thấy liền thấy ngay, chẳng thấy cũng không
ngại gì. Nếu muốn gấp thấy Phật, tâm niệm rối bời, ý niệm muốn
đƣợc thấy Phật kết chặt trong dạ, trở thành đại bệnh cho việc tu
hành. Lâu ngày, kẻ oán gia trong nhiều đời thừa dịp tình tƣởng
vọng động, dối hiện thân Phật để đòi oán cũ. Tự mình tâm không
chánh kiến, toàn thể thuộc về khí phận ma, vừa thấy liền sanh
hoan hỷ. Do đấy, ma nhập tim gan, bị ma dựa phát cuồng. Dù có
Phật sống cũng chẳng làm gì đƣợc!
Chỉ nên gắng đạt Nhất Tâm, quản chi thấy Phật hay không? Nhất
Tâm rồi sẽ tự biết rõ. Nếu chẳng thấy Phật thì do công phu vƣợt
tiến liền thấy, lại càng thêm một dạ chuyên tu, trọn chẳng mắc lỗi
hiểu lầm, chỉ đƣợc lợi ích vƣợt trội.
Trong đời, kẻ chẳng hiểu lý mới tu trì chút ít đã mong mỏi quá
phận mình. Ví nhƣ mài gƣơng, nếu bụi dơ đã hết, chắc chắn
quang minh sẽ hiện ra chiếu trời, soi đất. Nếu chẳng tận lực mài,
cứ mong gƣơng tỏa sáng, do toàn thể là nhơ bẩn nên nếu có
phát quang thì ánh sáng ấy cũng là ánh sáng ma quái, chứ nào
phải ánh sáng của gƣơng!                                                                            113
Quang tôi chỉ sợ ông chẳng khéo dụng tâm, lỡ ra bị
mất lợi lành, khiến tín tâm ngƣời khác bị lui sụt, nên mới viết thƣ
bày tỏ. Tổ Vĩnh Minh nói: “Chỉ đƣợc thấy Di Ðà, lo chi không khai
ngộ”. Nay tôi bắt chƣớc Ngài nói: “Chỉ mong đạt Nhất Tâm, lo gì
thấy, chẳng thấy!” Biết vậy rồi thì hãy nên dốc sức để tâm hợp
với đạo của Phật vậy!
* Ðóng cửa Phƣơng Tiện, cự tuyệt sự vụ chẳng cấp bách, thật là
hữu ích.
* Khi bế quan dụng công, nên lấy “chuyên tinh bất nhị” làm
chánh. Nếu tâm đƣợc chuyên nhất sẽ tự đƣợc cảm thông chẳng
thể nghĩ bàn. Lúc chƣa đƣợc Nhất Tâm, tâm chớ vọng động cầu
cảm thông. Sau khi Nhất Tâm, nhất định có cảm thông. Cảm
thông thì tâm càng tinh nhất. Có thể nói là nhƣ gƣơng sáng đặt
trên đài, hình đến liền hiện bóng, hình tự lăng xăng, can gì đến
ta? Tâm chƣa chuyên nhất, đừng cầu cảm thông; bởi cái tâm cầu
cảm thông đó chính là một chƣớng ngại lớn bậc nhất cho việc tu
đạo. Huống hồ do vọng động mong cầu thái quá, rất có thể các
ma sự khởi, phá hoại tịnh tâm!
* Việc cắt máu chép kinh có thể hoãn lại đó, trƣớc hết nên lấy
nhất tâm niệm Phật làm trọng. E rằng vì máu hao tinh thần suy
nhƣợc, lại hóa thành chƣớng ngại. Thân có an thì đạo mới
vƣợng. Còn thuộc địa vị phàm phu đừng bắt chƣớc khổ hạnh
của bậc Pháp Thân Ðại Sĩ. Chỉ cần đƣợc nhất tâm thì pháp nào
cũng trọn vẹn hết!                                                                            114
* Ðối với pháp Quán Tƣởng, nếu chẳng minh bạch
về mặt Lý, quán cảnh chƣa thành thục thì  chẳng đƣợc có tâm
vọng động mong chóng đạt. Ngƣời có chí trấn định chẳng dời tu
pháp này thì tổn nhiều, ích ít. Còn Thật Tƣớng Niệm Phật chính
là diệu hạnh thuộc về đƣờng lối chung trong hết thảy pháp môn
thuộc toàn bộ giáo pháp của đức Phật. Nhƣ Chỉ Quán bên Thiên
Thai Tông, tham cứu hƣớng thƣợng của nhà Thiền v.v... đều
thuộc đƣờng lối này cả. Những pháp nói đó đều là niệm Ðức
Phật tự tánh thiên chân....
Niệm đức Phật Thật Tƣớng nhƣ vậy nói có vẻ dễ, nhƣng tu
chứng khó nhất. Chẳng phải bậc Ðại Sĩ tái lai, có ai chứng đƣợc
ngay trong đời này? Do khó khăn ấy, lẽ đƣơng nhiên cách Trì
Danh niệm Phật đáng nên khen ngợi, khuyên tu. Hiểu điều này
rồi mà còn muốn cậy vào Tự Lực để đoạn Hoặc chứng chân,
khôi phục tâm tánh vốn sẵn có, chẳng chịu sanh lòng tin, phát
nguyện, chấp trì danh hiệu cầu sanh Tây Phƣơng, quyết chẳng
có lẽ ấy!
Do Thật Tƣớng hiện hữu trong hết thảy pháp, một pháp Trì Danh
chính là một đại pháp môn vừa là Sự vừa là Lý, vừa cạn, vừa
sâu, vừa là tu, vừa là tánh, là phàm tâm nhƣng lại là Phật tâm.
Với Trì Danh mà hiểu đƣợc thể của nó chính là Thật Tƣớng thì
[đạt] lợi ích sâu rộng. Bỏ Trì Danh để chuyên tu Thật Tƣớng thì
vạn ngƣời tu, cũng khó đƣợc một hai kẻ thật chứng! Cứ xem quả
báo của những vị Tô Ðông Pha, Tăng Lỗ Công, Trần Trung Tú,
Vƣơng Thập Bằng v.v... sẽ thấy đƣợc lẽ trên. Với một việc liễu
sanh thoát tử há cứ dùng chí to, lời lẽ to lớn mà thành tựu đƣợc
nổi sao?
* Niềm vui niệm Phật chỉ ngƣời chân thật niệm Phật mới biết
đƣợc nổi. Nhƣng phải chí thành khẩn thiết, nhiếp tâm mà niệm,
chẳng đƣợc chấp vào tƣớng ngoại cảnh. Nếu không cõi lòng
chẳng thông, quán đạo chẳng thuần thục, ma cảnh hiện tiền cũng                                                                             115
chẳng biết rõ thì nguy lắm! Phải nhớ kỹ, nhớ kỹ! Nay
những ngƣời thật sự hoằng dƣơng Tịnh Ðộ khó đƣợc mấy ai!
Ðem ý niệm tham học với  khắp các bậc tri thức đổi thành nhất
tâm niệm Phật thì lợi ích to lớn. Nếu không, chỉ thành ra uổng
công nhọc nhằn bôn ba mà thôi!
* Niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm chính là niệm đến lúc
tƣơng ứng, dù thƣờng niệm Phật, nhƣng trọn không có tƣớng
khởi tâm động niệm (lúc chƣa tƣơng ứng, chẳng khởi tâm động
niệm thì chẳng niệm). Tuy chẳng khởi tâm động niệm, nhƣng
thƣờng luôn xƣng niệm hoặc ức niệm một câu Phật hiệu; nên nói
“niệm mà vô niệm, vô niệm mà niệm”. Ðừng hiểu vô niệm là
không niệm. Vô niệm nghĩa là không có tƣớng khởi tâm động
niệm để niệm, nhƣng niệm niệm chẳng gián đoạn. Cảnh giới này
chẳng dễ đạt đƣợc, chớ có hiểu lầm!
* Một pháp Quán Tƣởng tuy hay, nhƣng phải hiểu rõ tƣợng Phật
mình thấy đó thuộc về duy tâm sở hiện. Nếu tƣởng đó là cảnh
ngoài tâm, rất có thể bị ma dựa phát cuồng. Chẳng thể không
biết! Duy tâm sở hiện là cảnh tƣợng ấy tuy rành rẽ phân minh,
nhƣng thật chẳng có vật gì. Nếu tƣởng là ngoại cảnh, cho là
đành rành thật có thì liền thành ma cảnh. [Khi tu Quán] nhắm
mắt, mở mắt cốt sao thích hợp là đƣợc.
* Ngƣời khác dạy ngƣời chú trọng vào chỗ huyền diệu. Quang tôi
dạy ngƣời đa phần chỉ dẫn những điều họ có thể tận sức làm
đƣợc. Nếu chẳng thể tận sức mình, dù có luận tới tột nguồn, tận
đáy của mỗi một pháp trong Thiền hay Giáo cũng chỉ thành “tam
thế chƣ Phật oan” mà thôi, huống gì chƣa phải là chuyện tột
nguồn, tận đáy ƣ?                                                                            116
* Không tín - nguyện niệm Phật so với tham thiền, khán thoại đầu
tuy công đức lớn hơn, nhƣng mình chƣa đoạn đƣợc Hoặc, sẽ
chẳng thể liễu thoát bằng tự lực! Thêm nữa, không có tín  -
nguyện chẳng thể đƣợc Phật tiếp dẫn liễu thoát, vẫn là pháp môn
thông thƣờng cậy vào tự lực để chứng đạo, thật chẳng thể dễ
dàng. Chớ bảo “tín nguyện cầu sanh” là hèn kém! Hoa Nghiêm
hải hội cùng lấy mƣời đại nguyện vƣơng hồi hƣớng vãng sanh là
chỗ quy kết cuối cùng cho kinh Hoa Nghiêm. Huống hồ những
pháp ngữ, những lời dạy của các Bồ Tát, Tổ Sƣ trong Tịnh Ðộ
đều chỉ dạy tín nguyện cầu sanh.
* Tuy có mƣời sáu phép Quán, nhƣng hành giả nên bắt đầu từ
phép quán dễ, hoặc là quán tƣớng bạch hào của Nhƣ Lai, hoặc
phép quán thứ mƣời ba là tạp tƣởng quán. Còn nhƣ quán về
chín phẩm chẳng qua là để hành nhân biết đƣợc tiền nhân, hậu
quả của việc vãng sanh mà thôi, chỉ cần hiểu rõ là đƣợc; bất tất
phải đặt riêng làm phép quán.
Chẳng thể chẳng biết lý của Quán, về mặt sự của tu quán thì
phải hành từ từ. Nếu nhƣ chẳng hiểu rõ mặt lý, quán cảnh chẳng
phân minh, dùng tâm tháo động thô phù để tu, có thể tạo thành
ma sự. Tức là khi quán cảnh hiện tiền, nếu tâm chợt vọng sanh ý
niệm vui mừng, sẽ do vui thành chƣớng, có thể bị thoái thất cái
tâm ban đầu.
Vì thế, kinh Lăng Nghiêm dạy: “Tâm chẳng cho là cảnh thánh, gọi
là cảnh giới lành. Nếu cho là thánh giải liền vƣớng quần tà”. Chỉ
mỗi cách Nhất Tâm Trì Danh là hạnh ngàn phần ổn thỏa, vạn bề
thích đáng, đợi đến khi tâm quy nhất, tịnh cảnh sẽ tự hiện tiền.                                                                            117
* Phải biết lý “ Pháp Thân vào trong tâm tƣởng” [nói
trong Quán Kinh] rất sâu. Tâm là Phật, tâm làm Phật sự vốn bình
thƣờng. Bình thƣờng phi thƣờng, rất sâu chẳng sâu. Phải viên
ngộ mới gọi là “đạt nhân” (ngƣời thấu hiểu). Còn phép quán thứ
mƣời ba là riêng vì chúng sanh căn cơ kém cỏi mở cửa phƣơng
tiện, dạy họ quán thân Phật trƣợng sáu hoặc tám thƣớc.
Trong phép quán thứ mƣời sáu, lại dạy những kẻ ác nghiệp nặng
nề xƣng danh hiệu. Do xƣng danh liền đƣợc vãng sanh. Do đấy
biết rằng: Tƣớng có lớn nhỏ, Phật vốn là một. Chẳng thể quán
tƣởng, [chỉ cần] xƣng danh liền đƣợc lợi ích. Suy nghĩ kỹ điều
này sẽ biết một pháp Trì Danh thật là bậc nhất. Hành nhân đời
mạt muốn đƣợc quyết định vãng sanh ngay trong đời này có nên
bỏ phí của báu một hạnh Trì Danh này chăng?
* Ngƣời đời này hơn quá nửa chuộng thể diện, xây lầu gác trên
không. Có đƣợc một phần hay nửa phần, bèn nói là có đến trăm
ngàn vạn phần. Nhƣ trong sách Ngữ Lục của vị cƣ sĩ nọ, những
cảnh giới ông ta thuật đều là chuyện do ngòi bút vẽ vời, chứ
chẳng phải cảnh do tâm tạo. Cố nhiên ông chẳng nói dối, nhƣng
tôi thật sự e rằng không chừng ông vƣớng phải tập khí này, họa
ấy chẳng nhỏ.
Phật xếp vọng ngữ vào năm giới căn bản, chính là để phòng tệ
này. Nếu thấy nói chẳng thấy, chẳng thấy nói thấy là thuộc về tội
vọng ngữ. Nếu xây lầu gác trên không, bịa đặt cảnh giới thù
thắng là phạm đại vọng ngữ giới. Nếu chƣa đắc bảo là đắc, chƣa
chứng bảo là chứng, tội đó nặng hơn giết - trộm - dâm trăm ngàn
vạn ức lần. Ngƣời ấy nếu chẳng tận lực sám hối, khi một hơi thở
ra không trở vào nữa sẽ đọa ngay vào địa ngục A Tỳ vì hoại loạn
Phật pháp, khiến chúng sanh lầm ngờ vậy.
Ông phải rất thận trọng, cảnh mình thấy chỉ một phân chẳng
đƣợc nói một phân mốt, cũng chẳng thể nói là chín ly chín. Nói                                                                             118
quá thì mắc tội, nói giảm cũng không đƣợc. Vì sao
vậy? Bởi tri thức chƣa đắc Tha Tâm Ðạo Nhãn, chỉ có thể dựa
vào lời đã nói để phán đoán mà thôi. Thuật cùng tri thức cảnh
giới ấy để nhờ họ chứng minh là tà hay chánh, là đúng hay sai
thì không sao. Nếu chẳng vì chứng minh, chỉ muốn khoe khoang
cũng có lỗi! Nếu nói với hết thảy mọi ngƣời, cũng có lỗi. Ngoại
trừ việc cầu tri thức chứng minh, đều chẳng đƣợc nói ra. Hễ nói
ra, sau này sẽ vĩnh viễn chẳng đạt đƣợc cảnh giới thù thắng ấy
nữa. Ðây chính là ải thứ nhất cho ngƣời tu hành, trong Thiên
Thai Tông đã nhiều lần nói đến.
Sở dĩ những ngƣời tu hành gần đây nhiều kẻ bị ma dựa đều là
do tâm vọng động, gấp rút mong đƣợc cảnh giới thù thắng. Ðừng
kể cảnh ấy là ma cảnh, dù cảnh ấy đích thị là cảnh thù thắng,
nhƣng nếu cả một đời tâm cứ hoan hỷ, tham trƣớc v.v... sẽ vẫn
bị tổn, chớ chẳng đƣợc ích, huống hồ cảnh ấy chƣa đích xác là
cảnh thù thắng ƣ?
Nếu ngƣời ấy có hàm dƣỡng, tâm chẳng vọng động, gấp rút,
không tâm tham đắm, thấy các cảnh giới cũng nhƣ chẳng thấy,
chẳng sanh tâm hoan hỷ, đắm trƣớc, cũng lại chẳng sanh tâm
hoảng hốt, kinh nghi thì đừng nói là cảnh thù thắng hiện bèn
đƣợc lợi, dù cảnh ma hiện cũng vẫn hƣởng lợi ích! Vì sao vậy?
Vì chẳng bị ma chuyển, nên có thể thăng tiến. Tôi chẳng thƣờng
nói lời này với ngƣời khác, vì ông có những sự ấy nên chẳng thể
không nói.
Tƣợng Ðại Sĩ ông đƣợc thấy lúc mới lễ Phật là không đích xác.
Nếu đích thực là tƣợng Ngài thì sẽ chẳng vì ông nghĩ tƣợng đó
chẳng khớp với Quán kinh mà ẩn. Nhƣng vì điều đó tín tâm của
ông càng khẩn thiết thì cũng là một nhân duyên tốt, nhƣng chẳng
nên mong thƣờng thấy tƣợng. Chỉ nên chí thành lễ bái mà thôi,
mong ông đừng nghĩ gì khác. Lúc ngủ thấy ánh sáng trƣớc mắt
và khi lễ Phật thấy tƣợng Phật đứng trên hƣ không tuy là thiện
cảnh, nhƣng đừng tham đắm. Từ đây về sau đừng lấy đó làm
điều mong mỏi, các tƣớng ấy sẽ chẳng hiện nữa.                                                                            119
Xem căn tánh của ông có lẽ đời trƣớc từng tu tập
Thiền Ðịnh nên mới nhiều lần thấy những tƣớng ấy. Ðời Minh,
ông Ngu Thuần Hy ở tại núi Thiên Mục, bế quan tĩnh tu trên đỉnh
núi cao. Lâu ngày bèn có tiên tri, dự đoán đƣợc trời sẽ âm u hay
quang đãng, họa phƣớc của ngƣời. Ông ta quy y với Liên Trì đại
sƣ. Ðại sƣ nghe chuyện gởi thƣ cực lực quở trách, bảo ông ta lọt
vào lƣới rập của ma. Sau ông không biết nữa.
Phải biết rằng: Ngƣời học đạo phải biết điều gì là quan trọng; nếu
không, đƣợc lợi ích nhỏ nhặt, bị tổn hại lớn lao. Ðừng kể đến
những cảnh giới ấy, dù có thật sự đắc Ngũ Thông cũng còn phải
không đếm xỉa gì tới, mới hòng chứng đƣợc Lậu Tận Thông. Nếu
một phen tham đắm sẽ khó thể tiến lên, thậm chí còn thoái đọa.
Chẳng thể chẳng biết!
* Ngƣời tu Tịnh nghiệp chẳng đặt nặng các thứ cảnh giới nên
không cảnh giới nào phát sanh. Nếu trong tâm cứ chuyên muốn
thấy cảnh giới thì cảnh giới rất nhiều. Nếu chẳng khéo dụng tâm,
có thể bị tổn hại, chẳng thể chẳng biết.
* Ðàm Bích Vân cứ mong gấp chứng. Chẳng phải riêng mình ông
ta mắc phải căn bệnh này, hết thảy ngƣời học Phật đa số đều
phạm phải căn bệnh này. Ðã  có bệnh ấy, chẳng những chiêu
cảm ma sự, mà còn chƣa chứng nói là đã chứng. Phải biết rằng:
Tâm vốn là Phật, do phiền não chƣa trừ, phải oan uổng làm
chúng sanh. Chỉ khi tiêu diệt đƣợc phiền não thì Phật tánh sẵn có
sẽ tự nhiên hiển hiện.
Giống nhƣ mài gƣơng chỉ mong sạch chất dơ, chẳng mong phát
quang. Nhƣ thầy thuốc chữa mắt, hễ màng mộng mất đi, mắt sẽ
tự sáng lại. Còn lúc chất dơ chƣa sạch, màng mộng chƣa khử,
dù có muốn phóng đại quang minh, há có thể đƣợc chăng? Nếu                                                                             120
phát quang, đấy chính là yêu ma biến hiện, chứ
chẳng phải là quang minh chân chánh của gƣơng hay mắt. Ðối
với những ngƣời sơ phát tâm, hãy nên đem ý này bảo cho họ
biết.
* Ngƣời niệm Phật hãy nên tâm niệm đƣợc vãng sanh ngay trong
đời này. Nếu chƣa đến lúc báo thân đã mãn, chỉ nên tùy duyên.
Nếu muốn định thời hạn, mong đƣợc vãng sanh (tức là mong
đƣợc vãng sanh vào một thời điểm nhất định nào đó), nếu nhƣ
công phu đã thành thục, lẽ cố nhiên chẳng trở ngại gì. Bằng
không, một cái tâm mong cầu ấy sẽ trở thành ma căn. Nếu nhƣ
vọng niệm  ấy kết thành một khối chẳng gỡ bỏ đƣợc thì nguy
hiểm chẳng thể nói nổi. Dốc hết lòng thành đến hết báo thân này
chính là điều chúng ta nên tuân hành. Chứ còn chấm dứt tuổi thọ
để cầu chứng chính là điều bị Giới kinh (Luật tạng) quở trách
nặng nề (Cuối kinh Phạm Võng có bài kệ:
Kế ngã trƣớc tƣởng giả,
Bất năng sanh thị pháp,
Diệt thọ thủ chứng giả,
Diệc phi hạ chủng xứ.
Tạm dịch:
Chấp ngã, dính mắc tƣởng,
Chẳng sanh nổi pháp này.
Diệt thân cầu đƣợc chứng,
Chẳng phải điều nên làm)                                                                            121
Chỉ nên  dốc trọn thành kính, cầu mau đƣợc vãng
sanh. Chẳng nên định kỳ hạn mong nhất định đƣợc vãng sanh.
Ngƣời học đạo tâm chẳng đƣợc thiên chấp. Thiên chấp thì rất có
thể đến nỗi mất trí thành điên, chẳng những vô ích, còn có hại
nữa. Nếu Tịnh nghiệp thuần thục, vãng sanh ngay ngày hôm nay
là tốt. Nếu chƣa thuần thục lại muốn đƣợc vãng sanh ngay thì
khác nào kéo mạ cho nó mau lớn.
Thật ngại một phen ma sự khởi, chẳng những tự mình chẳng thể
vãng sanh, mà còn khiến kẻ vô tri lui giảm tín tâm, cho là: “Niệm
Phật chỉ tổn hại, không ích lợi gì, cứ coi gƣơng tầy đình của ông
X. thì cái hại ấy chẳng cạn cợt vậy!” Xin hãy đem cái tâm “quyết
định lập kỳ hạn” ấy đổi thành cái tâm “chỉ nguyện mau đƣợc vãng
sanh”. Dù chẳng mau đƣợc vãng sanh cũng chẳng phàn nàn, chỉ
càng chí thành, chí kính, chỉ mong báo tận liền đƣợc vãng sanh
là đƣợc. Không gấp rút, vọng động, khăng khăng bám chắc đến
nỗi chiêu cảm ma sự!
5.  Khuyên hành nhân nỗ lực
* Ngƣời sống trong thế gian, có đủ tám nỗi khổ. Dù sanh trên trời
khó tránh ngũ suy (7). Chỉ Tây Phƣơng Cực Lạc thế giới không
có các nỗi khổ, chỉ hƣởng các sự vui. Kinh dạy: “Tam giới vô an,
do nhƣ hỏa trạch, chúng khổ sung mãn, thậm khả bố úy” (Ba cõi
không yên giống nhƣ nhà lửa, các khổ dẫy đầy rất đáng kinh sợ).
Mạng ngƣời vô thƣờng, lẹ nhƣ ánh chớp. Ðại hạn xảy đến, ai
nấy chẳng thể chiếu cố cho nhau. Hết thảy pháp hữu vi nhƣ
mộng, huyễn, bọt, bóng.
Ðối với những điều ấy chẳng tỉnh ngộ, tận lực tu Tịnh nghiệp thì
cùng sanh trƣởng nhƣ gỗ, đá vô tình trong vòng trời đất vậy. Là
trang nam nhi có huyết tánh, há chịu làm thây đi thịt chạy, chết
mục nát với cỏ cây! Ðề cao cảnh thánh nhƣng tự ở chốn phàm                                                                             122
phu, gặp lời răn nhắc lớn lao mà chẳng phát phẫn,
nghe đạo của thánh hiền, Phật, Tổ vẫn chẳng chịu tin thì là trời
phụ ngƣời hay ngƣời phụ trời đây?
* Tâm gặp ác mộng là điềm ác nghiệp đời trƣớc hiển hiện. Dù
cảnh hiện ra có thiện hay ác, nhƣng chuyển biến đƣợc cảnh
chính tại nơi mình! Ác nghiệp hiện nhƣng chuyên tâm niệm Phật
thì nhân duyên ác thành nhân duyên lành, ác nghiệp đời trƣớc
biến thành đạo sƣ đời này. Tiếc là ngƣời đời phần nhiều bị
nghiệp trói buộc, chẳng thể chuyển biến, đến nỗi lâm vào cảnh
đã té giếng còn bị ném đá, khổ càng thêm khổ!
* Thời này là thời nào? Nam Bắc đánh nhau, trong ngoài đối
địch. Ba bốn năm gần  đây, ngƣời chết bốn năm ngàn vạn. Tự
thuở có con ngƣời đến nay, chƣa từng nghe thấy sự thê thảm
nhƣ vậy. Lại còn gió lốc, nƣớc dâng, địa chấn, ôn dịch nhan
nhãn các nơi. Lại còn thêm lụt lội, hạn hán, không năm nào
chẳng kèm thêm các tai nạn ấy. Giá cả các thứ mắc gấp mấy lần
năm trƣớc.
Trong lúc này, may còn đƣợc sống, dám đâu chẳng kiệt lực
chuyên tu Tịnh nghiệp để cầu vãng sanh Tịnh Ðộ ƣ? Dám đâu do
may mắn còn đƣợc cái thân lại buông lung ý chí, chẳng chuyên
chú nhất định vào một pháp, lơ mơ dốc sức vào một pháp môn
chẳng khế hợp thời cơ ƣ? Giả sử một hơi thở ra chẳng hít trở
vào đƣợc, muốn lại đƣợc nghe pháp môn thẳng tắt nhƣ thế này,
chỉ e chẳng có dịp may mắn nhƣ thế nữa đâu?
* Thân là gốc để chiêu khổ, chán nhàm bèn đƣợc cái nền tảng để
hƣởng  vui. Do túc nhân sâu dày, hiện tại thiện hảo càng nồng                                                                             123
hậu, nên báo nặng từ nhiều kiếp chuyển thành vạ
nhẹ trong hiện tại. Càng hoạn nạn, đớn đau càng mạnh mẽ tu trì
thì những thống khổ trong cõi Sa Bà sẽ là thầy hƣớng dẫn mình
về Cực Lạc. Hãy nghĩ mình đang đền nợ cũ thì những ý tƣởng
áo não, phiền muộn sẽ tự tiêu. Nếu vẫn còn ôm lòng oán trách
thì tội chƣớng tiếp tục khởi. Cam chịu nghịch cảnh xảy đến mới
là kẻ biết vui theo mệnh trời. Chán đây, ƣa kia mới là ngƣời tu
Tịnh nghiệp.
* Một câu Phật hiệu bao quát hết cả toàn bộ giáo nghĩa Ðại Tạng
không còn sót gì. Ngƣời thông Tông, thông Giáo mới có thể làm
ngƣời chân thật niệm Phật, nhƣng ngƣời cái gì cũng không biết,
cái gì cũng chẳng làm đƣợc, miệng chỉ biết thƣa thốt, cũng vẫn
có thể làm ngƣời chân thật niệm Phật. Hai hạng ngƣời này có
chân thật hay không toàn là do tự mình nỗ lực hay không, có
hành theo đúng giáo pháp hay không?
* Nếu đối với pháp môn Tịnh Ðộ, kính tin lời Phật quyết định
chẳng ngờ, lòng tin chân thành, nguyện thiết tha, tu hành thật sự
nhất định sẽ vãng sanh làm ngƣời trong thế giới Cực Lạc. Há
nên trong lúc kiếp vận này, toan nhằm thời buổi nguy hiểm, tinh
thần hữu hạn, lại thực hiện những pháp vụ chẳng cấp bách hòng
đƣợc tiếng tăm là bậc đại thông gia để thỏa thể diện, khiến cho
một việc chuyên tu của chính mình rốt cục thành hƣ luống sao?
* Mƣời nguyện Phổ Hiền, một hạnh Văn Thù, nếu có thể chuyên
ròng tu, dù hết thảy kinh luật đều chẳng thông suốt cũng có thể
nhanh chóng tháo cũi xổ lồng, cao dự hải hội. Nếu đối với một
pháp cậy vào Phật lực này tin chẳng chân thật, không quyết định
nƣơng dựa vào pháp này, dù có thông Tông thông Giáo sâu xa                                                                             124
cũng chỉ là tam muội nơi cửa miệng. Toan dùng tam
muội kiểu môi miếng ấy để liễu sanh thoát tử thật giống nhƣ
dùng bánh vẽ để đỡ đói, ắt đến bƣớc cùng đƣờng hối hận sâu xa
cũng chẳng mảy may có lợi ích gì! Hiện tại đời lẫn đạo chẳng biết
tình trạng tƣơng lai ra sao, vẫn còn toan dùng quang âm sắp hết
để lo những chuyện chẳng cấp bách ƣ?
* Cổ nhân nói: “Thiểu thật thắng đa hƣ. Ðại xảo bất nhƣ chuyết.
Thuyết đắc nhất trƣợng, bất nhƣ hành thủ nhất thốn” (Ít thật hơn
hƣ nhiều. Khéo quá chẳng bằng vụng. Nói cả trƣợng không bằng
làm đƣợc một tấc). Chân tâm là ở chính mình, hãy suy nghĩ thấu
đáo!
* Một pháp Tịnh Ðộ lấy ba điều Tín - Hạnh - Nguyện làm tông.
Chỉ có đầy đủ lòng tin chân thành, nguyện thiết tha mới dốc chí
hành trì đƣợc. Gặp cảnh họa hại mới bèn chân thành, khẩn thiết;
gặp lúc nhàn nhã, thong dong bèn lơi là, hoãn đãi. Ðấy là bệnh
chung của phàm phu. Vào lúc này, thời cuộc  lẫn tình hình đạo
pháp nhƣ nằm yên trên đống củi, phía dƣới lửa đã bốc cháy,
nhƣng chƣa cháy đến thân. Chớp mắt là toàn thể bừng cháy,
khắp cõi không chỗ nào trốn tránh đƣợc cả! Sao còn lơi là, xao
nhãng qua ngày, chẳng chuyên chí cầu nơi một câu Phật hiệu?
Cái tri kiến ấy thiển cận quá đỗi!
* Ðời trƣớc vun bồi huệ căn này cố nhiên chẳng dễ dàng gì. Nếu
đối với pháp này chẳng chuyên tinh, dốc cạn sức để mong đƣợc
tự chứng, có khác gì chén, bình chƣa nung, gặp mƣa liền rã.
Quang âm ngắn ngủi, mạng ngƣời mấy chốc? Một hơi thở ra
chẳng trở lại đã qua đời sau. Ngƣời chƣa chứng đạo từ ngộ vào
mê, vạn ngƣời có cả mƣời ngàn; từ ngộ thêm ngộ, ức kẻ chẳng                                                                             125
đƣợc một hai! Nỡ để vô thƣợng pháp khí gặp phải
cơn mƣa tái sanh liền trở thành bụi đất ƣ?
* Chúng ta đã là Phật tử, phải hành Phật hạnh. Dù chẳng phá
sạch đƣợc vô minh, nhanh chóng khôi phục bổn tánh, tiến thẳng
vào Diệu Giác quả hải, chẳng lẽ không thể viên chứng ba tâm
(thâm tâm, trực tâm, hồi hƣớng phát nguyện tâm), dốc lòng tu
Tịnh nghiệp để mong đoạn Hoặc ngay nơi thân này, gởi tâm thức
nơi Liên bang, làm đệ tử Phật Di Ðà, làm bạn lành của các Ðại
Sĩ, an trụ tịch diệt, dạo các cõi Phật, trên cầu Phật đạo, dƣới hóa
độ chúng sanh hay sao?
Nếu chẳng tự gắng sức, chỉ đề cao thánh cảnh, vẫn cam làm
phàm ngu, e rằng cả nửa đời tu trì siêng nhọc phải đành cay
đắng vĩnh viễn trầm luân! Mê muội nên châu buộc nơi vạt áo mà
đành bỏ phí của báu, lên núi báu trở về tay không. Dùng tánh
Chân Nhƣ mầu nhiệm có đủ vô lƣợng công đức, trí huệ, thần
thông, tƣớng hảo để hứng chịu oan uổng vô lƣợng sanh tử luân
hồi, phiền não nghiệp quả, huyễn vọng cực khổ. Chẳng phải là
mất trí sanh cuồng, ghét thăng thích đọa, sống làm thịt chạy, thây
đi, chết mục nát cùng cỏ cây ƣ? Tam thế chƣ Phật gọi là hạng
ngƣời đáng thƣơng xót. Những vị đồng luân với tôi hãy nên nỗ
lực.  
* Trong lúc đƣờng đời nguy hiểm này, hãy nên mở toang tấm
lòng, tầm mắt, nỗ lực tu trì Tịnh nghiệp. Tất cả cát - hung họa -
phƣớc đều chẳng lo tới, tùy duyên ứng biến. Dù cho đại họa trút
xuống đầu vẫn nên nghĩ: Những ngƣời cùng mắc phải họa này
chẳng biết là mấy ngàn vạn ức ngƣời? Trong tình thế chẳng làm
gì khác đƣợc, vẫn còn có A Di Ðà Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát
để nƣơng cậy đƣợc, há còn lo chi? Lấy việc niệm Phật, niệm                                                                             126
Quán Thế Âm Bồ Tát để làm chỗ cậy nhờ vô úy. Mở
rộng tâm lƣợng, đừng thấp thỏm thì bệnh tự nhiên lành, thân yên
vui.
Chẳng biết nghĩa này, dù chƣa gặp phải cảnh tai ách đã tự hãm
mình trƣớc vào trong tai ách; dù là Phật, Bồ Tát cũng chẳng thể
cứu nổi. Bởi thế, quân tử không hoạn nạn hành xử nhƣ đang bị
hoạn nạn, cho nên không điều gì xảy đến mà chẳng tự chủ
đƣợc!
(1)   Ðả thất: tham dự Phật thất cùng với đại chúng, hay tự mình
kết thất để niệm Phật hay tọa thiền, trì chú v.v... Một thất là bảy
ngày.
(2)   Tái lai: sanh lại trong nhân gian.
(3)   Tỳ sƣơng là chất thạch tín (arsenic), đôi chỗ còn gọi là Nhân
Ngôn, rất độc. Trầm là tên một loại chim theo truyền thuyết rất
độc. Lông của nó rớt xuống khoảng nƣớc nào, thủy tộc đều chết
sạch.
(4)   Cách vật trí tri, minh minh đức: Hiểu theo  nghĩa thông
thƣờng, “cách vật trí tri” nghĩa là nghiên cứu mọi sự nhằm hiểu rõ
lý lẽ (vì thế, trƣớc đây những môn nghiên cứu khoa học tự nhiên
hay gọi là Cách Trí). Nhƣng tổ Ấn Quang hiểu hơi khác. Trong
pháp thoại tại Tức Tai Hộ Quốc ở Thƣợng Hải, Tổ đã giảng nhƣ
sau: “Họ (chỉ bọn Tống Nho) bảo “trí tri” là suy xét tri thức của
mình đến cùng cực, “cách vật” là hiểu cùng tận cái lý của mọi sự
vật trong thiên hạ; nào hay “vật” chính là tƣ dục trong tâm mình.
Do có tƣ dục nên tự tâm bị chƣớng ngăn; bởi thế, tâm vốn sẵn
đủ chơn tri nhƣng không cách nào hiển hiện đƣợc. “Cách trừ”
(hiểu biết và trừ khử) đƣợc tƣ dục thì chơn tri sẵn có sẽ tự hiển
hiện. Hễ chơn tri đã hiển thì tâm sẽ chánh, ý sẽ thành!”                                                                            127
(5)   Tạo vật: đối với ngƣời Tàu, Tạo Vật đồng nghĩa
với Tạo Hóa. Không nhƣ trong thần học Công Giáo, Tạo Hóa
(creator) là Chúa Trời, còn tạo vật là những vật đƣợc Chúa tạo ra
(creature).  
(6)   Nguyên văn: “Kiến tiên triết ƣ canh tƣờng, thận độc tri khâm
ảnh”. Canh tƣờng là điển tích nói về vua Ngu Thuấn do hâm mộ
đức hạnh của vua Ðƣờng Nghiêu nên trong suốt ba năm ăn canh
thấy bóng vua Nghiêu hiện trong bát canh, ngồi thấy bóng vua
Nghiêu hiện trên tƣờng. Ðời sau thƣờng dùng chữ “canh tƣờng”
để chỉ lòng cung kính, chí thành đến cùng cực. “Thận độc” là ở
một mình, hành vi luôn dè dặt, chẳng cẩu thả. “Khâm ảnh” là
bóng chiếc áo, lấy từ thành ngữ “khâm ảnh vô quý” (chẳng thẹn
với bóng áo). Nhƣ vậy “thận độc khâm ảnh” ngụ ý hành vi luôn
cẩn thận, nghiêm cung, không hề phải hổ thẹn với ai, dù ngay cả
với bóng của chính mình.
(7)   Ngũ suy: Năm tƣớng suy: 1. Hoa trên đầu héo 2. Y phục
nhơ nhớp 3. Ðổ mồ hôi nách 4. Thân hình hôi thối 5. Không ƣa
ngồi trên tòa.Mỗi khi năm tƣớng ấy hiện là điềm báo trƣớc vị trời
ấy khi mạng chung sẽ bị đọa lạc.                                                                            128
ẤN QUANG ÐẠI SƢ
GIA NGÔN LỤC
PHẦN 3
IV. LUẬN VỀ VIỆC LỚN SANH TỬ
1. Cảnh tỉnh mạng ngƣời vô thƣờng
* Quang âm vùn vụt, thời thế đổi dời trong mỗi sát-na, một niệm
chẳng trụ. Ðấy chính là tạo vật vì hết thảy bọn chúng sanh ta
hiện tƣớng lƣỡi rộng dài giảng vô thƣợng diệu pháp: Mạng
ngƣời vô thƣờng, vinh hoa chẳng bền, gấp tìm nẻo về để khỏi
phải chịu cái khổ trầm luân vậy.
* Việc lớn sanh tử phải dự bị trƣớc. Nếu đợi đến lúc sắp ra đi
mới tu, chỉ e sẽ bị nghiệp lực đoạt mất.
* Sanh tử là việc lớn. Vô thƣờng nhanh chóng. Nghe đến kinh
sợ, nhƣng còn lâu mới bằng khi thân trải qua nỗi đớn đau kịch
liệt.
* Cổ nhân nói: “Thông minh bất năng địch nghiệp. Phú quý khởi
miễn luân hồi” (Thông minh chẳng cự nổi nghiệp. Phú quý chẳng                                                                             129
tránh khỏi luân hồi). Sanh tử xảy đến, không có gì để
nƣơng dựa cả, chỉ có mỗi A Di Ðà Phật là nƣơng nhờ đƣợc thôi!
Tiếc ngƣời đời quá ít ai biết. Kẻ biết đến, tin chân thật và thật sự
niệm Phật lại càng ít hơn nữa!
* Ngày ba mƣơi tháng Chạp là ngày chấm dứt một năm. Nếu
chẳng thu xếp trƣớc cho khéo thì chủ nợ, oán gia sẽ xúm lại lôi
kéo, chẳng dung cho lỗi lầm của mình. Lúc lâm chung chính là
ngày ba mƣơi tháng Chạp của cả một đời. Nếu tƣ lƣơng Tín -
Nguyện - Hạnh chƣa đủ, vẫn còn tham - sân - si, tập khí ác thì
oán gia, chủ nợ từ vô lƣợng kiếp đến nay sẽ kéo đến bức bách,
đòi nợ, chẳng dung cho mình.
Ðừng nói những kẻ chẳng biết đến pháp môn Tịnh Ðộ đành
không biết làm cách nào, phải theo nghiệp thọ sanh; dù là đã biết
nhƣng chẳng chăm chú tu hành thật sự thì cũng giống hệt nhƣ
vậy: bị ác nghiệp lôi kéo vào trong tam đồ, lục đạo, vĩnh viễn luân
hồi! Muốn cầu con đƣờng thoát khổ, chỉ có cách niệm niệm lo
nghĩ đến lúc chết, sợ rằng chết đi sẽ đọa lạc trong tam đồ ác đạo
thì Phật niệm sẽ tự thuần, Tịnh nghiệp sẽ tự thành; hết thảy trần
cảnh sẽ chẳng thể đoạt đƣợc chánh niệm nữa!
* Cầu sanh Tây Phƣơng đừng nên sợ chết. Nếu chết ngay ngày
hôm nay thì liền sanh về Tây Phƣơng. Ðấy là nhƣ lời [ngƣời xƣa]
đã nói: “Triêu văn đạo, tịch tử khả hỹ!” (Sáng nghe đạo, chiều
chết cũng đƣợc!) Lẽ đâu, ngày hôm nay phải chết lại chẳng chịu
chết, cứ tham luyến trần cảnh chẳng thể buông xuống, khiến cho
do tham thành chƣớng, cảnh Tịnh Ðộ chẳng hiện, khiến cho
cảnh tùy nghiệp thọ sanh trong đƣờng thiện ác liền hiện.
Cảnh hiện, liền theo nghiệp thọ sanh trong đƣờng thiện ác; vãng
sanh Tây Phƣơng hóa thành bánh vẽ! Vì thế, đối với ngƣời tu                                                                             130
Tây Phƣơng, chết hôm nay cũng tốt; sống thêm một
trăm hai mƣơi năm rồi chết cũng hay. Hết thảy phó mặc nghiệp
trƣớc, chẳng lầm sanh ý tƣởng tính toán, so đo. Nếu nhƣ tín
nguyện chân thành, thiết tha, báo hết mạng tận, thần thức bèn
siêu Tịnh vực, nghiệp trả lại trần lao, sen vàng chín phẩm nở
hoa, Phật thọ ký một đời thành Phật!
2. Khuyên chuyên cậy vào Phật lực
* Ấn Quang từ Tây qua Ðông, từ Bắc xuống Nam, qua lại hơn
vạn dặm, gặp gỡ nhiều ngƣời. Trong số đó, lắm kẻ bình nhật tự
vỗ ngực là bậc thông Tông, thông Giáo, coi Tịnh Ðộ nhƣ uế vật,
chỉ sợ nó làm bẩn lây đến mình. Lúc lâm chung, đa số chân loạn
tay cuống, kêu cha gào mẹ. Trong số ấy, có những ngƣời trì giới
niệm Phật già giặn, chắc thật, dù Tín Nguyện chƣa đến mức
cùng cực, tƣớng lành chẳng hiện, nhƣng đều an nhiên mạng
chung.
Vì sao nhƣ vậy? Là vì tâm thủy trong lặng, do phân biệt nên xao
động, đục ngầu, sóng thức trào dâng. Do Phật hiệu nên tâm thủy
ngƣng lặng. Bởi thế, kẻ thƣợng trí chẳng bằng kẻ hạ ngu, biến
quá khéo thành vụng về lớn vậy!
* Phật nói hết thảy pháp môn Ðại, Tiểu, Quyền, Thật đều phải
cậy vào công sức của chính mình để đoạn Hoặc chứng Chân
mới thoát khỏi sanh tử. Nếu còn chút mảy may Hoặc nghiệp, sẽ
quyết định khó thoát khỏi sanh tử. Vì thế, từ đời này sang đời
khác, từ kiếp này sang kiếp khác, lần lƣợt tu trì, nếu ai có đầy đủ
sức lực sẽ tiến thẳng lên Bất Thoái, liền đƣợc liễu thoát.                                                                            131
Ða phần là từ giác chợt mê, thoạt tiến liền lùi, trải
qua bao kiếp nhiều nhƣ bụi trần chẳng thể xuất ly. Sở dĩ, ngài và
tôi hôm nay vẫn còn là phàm phu, toàn là vì chẳng biết đến pháp
môn Tịnh Ðộ độ khắp ba căn, chí cực viên đốn của đức Nhƣ Lai.
* Ngƣời chẳng hiểu Tịnh Ðộ đọc đến kinh Lăng Nghiêm sẽ cho
kinh này là nhân tố chính để đả phá Tịnh Ðộ. Ngƣời hiểu Tịnh Ðộ
đọc đến, liền biết kinh này khéo hƣớng dẫn hoằng dƣơng Tịnh
Ðộ. Vì sao nói thế?
Vì tự lực ngộ đạo thì khó, Tịnh Ðộ vãng sanh là dễ. Nhân quả
mƣời pháp giới mỗi mỗi phân minh. Nếu chẳng cậy vào Phật lực,
dù phá đƣợc một hai Ấm, vẫn bị ma dựa phát cuồng, thành
chủng tử địa ngục. Vả nữa, trong hai mƣơi bốn công phu Viên
Thông, ngƣời đời nay có ai là kẻ tu tập đƣợc?
Chỉ có mỗi phép Niệm Phật nhƣ con nhớ mẹ, hễ ai hữu tâm đều
có thể phụng hành đƣợc! Cốt sao tịnh niệm tiếp nối, sẽ tự chứng
đƣợc tam-ma-địa. Kẻ biết phân biệt tốt xấu đọc đến, lẽ nào chỉ
ƣng chịu chủ trƣơng tự lực, chẳng cậy vào Phật lực hay sao? Kẻ
chẳng biết hay dở mới nghĩ nhƣ vậy, bởi họ chỉ mong làm bậc
thông gia, không có lòng liễu sanh thoát tử!
* Tu hành dụng công vốn là để liễu sanh thoát tử. Nếu dụng công
nhƣng chẳng thể liễu sanh tử là do chẳng chịu y vào pháp có thể
liễu đƣợc sanh tử mà hành. Khác nào gánh gai bỏ vàng, tự
chuốc lấy lỗi hay sao? Dù tham thiền đại triệt đại ngộ nhƣ Ngũ Tổ
Giới, Thảo Ðƣờng Thanh, Chân Nhƣ Triết, Ðoạn Nham Nghĩa
còn chƣa liễu nổi sanh tử, phải thọ thân đời sau, đến nỗi mê lầm.
So ra, ta còn thua xa họ, [họ còn chẳng thể liễu sanh tử nổi],
huống hồ là bọn ta ƣ?                                                                            132
* Pháp môn Tịnh Ðộ là pháp môn phổ độ chúng sanh, viên đốn,
thẳng tắt, rộng lớn, giản dị nhất của đức Nhƣ Lai. Vì sao nói thế?
Do hết thảy các pháp môn đều phải đoạn hai Hoặc: Kiến và Tƣ
mới hòng liễu sanh tử. Nhƣng đoạn Kiến Hoặc còn nhƣ cắt đứt
dòng chảy rộng bốn mƣơi dặm, huống hồ là Tƣ Hoặc? Ðoạn
Kiến Hoặc là chứng Sơ Quả. Nếu ƣớc theo Viên Giáo thì là Sơ
Tín. Ðoạn sạch Tƣ Hoặc liền chứng Tứ Quả; trong Viên Giáo là
địa vị Thất Tín. Sơ Quả, Sơ Tín còn có sanh tử. Tứ Quả, Thất
Tín mới hết sanh tử.
Nhƣng Thiên Thai Trí Giả đại sƣ chỉ thị hiện chứng đƣợc địa vị
ngũ phẩm, tuy sở ngộ đã bằng với chƣ Phật, đã hàng phục trọn
vẹn ngũ trụ phiền não, nhƣng vẫn chƣa từng đoạn Kiến Hoặc.
Thế nhƣng, bổn địa (1) của Ðại Sƣ thực chẳng thể suy lƣờng
đƣợc. Lúc mạng chung, Ngài chỉ nói là chứng ngũ phẩm, vì lo xa
hậu thế chẳng dốc sức đoạn Hoặc chứng Chân, chỉ lấy minh tâm
kiến tánh làm rốt ráo.
Minh tâm kiến tánh là đại triệt đại ngộ. Nếu là bậc tối thƣợng
thƣợng căn, hễ ngộ liền chứng, thì liễu đƣợc sanh tử. Nếu
không, dù có biết trƣớc đƣợc vị lai nhƣ sƣ Viên Trạch vẫn chẳng
tránh khỏi phải thọ sanh lần nữa. Ðến nhƣ Ngũ Tổ Giới lại sanh
làm Tô Ðông Pha, Thảo Ðƣờng Thanh lại làm thân Lỗ Công. Ðấy
hãy còn là tạm đƣợc. Ngài Hải Ấn Tín thành con gái của quan
Phòng Ngự họ Châu, đã đáng buồn lòng. Nhƣng ông Tăng ở núi
Nhạn Ðãng trở thành Tần Cối thì thật là đáng thƣơng xót quá. Tự
lực đoạn Hoặc chứng Chân để liễu sanh thoát tử thật khó khăn
thay!
Các giáo lý tu chứng thông thƣờng trong cả một đời đức Nhƣ Lai
đã nói tuy có nhiều pháp khác nhau, nhƣng không có một pháp
nào khiến cho kẻ còn đầy dẫy Hoặc nghiệp có thể liễu sanh thoát
tử cả! Chỉ mình pháp Tịnh Ðộ, chỉ cần lòng tin chân thành,
nguyện thiết tha, dùng tâm chí thành trì danh hiệu Phật, cầu sanh                                                                             133
Tây Phƣơng. Chẳng luận là Hoặc nghiệp dày hay
mỏng, công phu cạn hay sâu, khi lâm chung đều cậy vào Phật từ
lực, đới nghiệp vãng sanh. Ðã vãng sanh liền siêu phàm nhập
thánh, liễu sanh thoát tử. Từ đấy, lần lƣợt tấn tu, liền chứng
đƣợc Vô Sanh, thậm chí viên mãn Phật Quả! Ðây chính là pháp
môn đặc biệt thƣơng xót chúng sanh căn cơ hèn kém, muốn cho
họ mau thoát khỏi luân hồi của đức Nhƣ Lai.
* Những ngƣời nghiên cứu về Giáo dựa trên giáo lý thông
thƣờng để luận đoán sự chứng đắc, chẳng tin có việc đới nghiệp
vãng sanh, khoe mình là hạng thƣờng ở trong sanh tử để độ
chúng sanh, chẳng muốn mau thoát khỏi sanh tử. Chẳng biết
chén, bình chƣa nung, gặp mƣa liền rã; phiền hoặc chƣa đoạn,
chuyển sanh liền mê. Tự lợi còn khó, huống là lợi ngƣời! Bọn họ
đều là hạng chẳng lƣợng đức mình, là hạng phàm phu sát đất,
có chút huệ tánh bèn vội bắt chƣớc phong cách của bậc Pháp
Thân Ðại Sĩ, đến nỗi lầm lỡ một phen, lỡ lầm vĩnh viễn!
Kẻ tham Thiền thì chuyên chú tham cứu, mong minh tâm kiến
tánh, chẳng biết căn cơ mình khá hèn kém, chẳng thể minh tâm
kiến tánh rất nhiều. Dù cho đã đƣợc minh tâm kiến tánh, nhƣng
nếu Hoặc nghiệp chƣa đoạn, vẫn luân hồi sanh tử y nhƣ cũ,
chẳng thể xuất ly cũng lại nhiều lắm. Ngũ Tổ Giới, Thảo Ðƣờng
Thanh, Hải Ấn Tín, Chân Nhƣ Triết v.v... là những chứng cứ xác
thực.
Ôi! Sanh tử lớn thế, sao lại chuyên cậy vào tự lực, chẳng cậy vào
Phật lực? Ý chừng tự lực hơn hẳn Phật lực ƣ? Phàm ngƣời sống
trong đời, việc lớn nhƣ sáng lập sự nghiệp lƣu truyền nhiều đời,
việc nhỏ nhƣ một manh áo, một bữa ăn, không gì là chẳng phải
nhờ vào sức của nhiều ngƣời để hoàn thành việc mình. Ðến nhƣ
việc lớn liễu sanh tử, dù sẵn có Phật lực vẫn chẳng chịu nƣơng
nhờ, cứ muốn tỏ ra phong cách phi thƣờng, chỉ e lại rớt vào thói
thƣờng của kẻ phàm ngu. Chí của họ đáng bảo là lớn, nhƣng                                                                             134
tiếc là chẳng biết khả năng của họ có đáng gọi là lớn
hay chăng?
* Muốn liễu sanh tử thì phải thật chứng. Nếu phiền hoặc vẫn còn,
ắt phải thật nỗ lực mới có thể tranh cạnh với nghiệp, trải qua
những duyên giồi mài thì trong tâm thƣờng giác chiếu, thầm hợp
với Thánh Trí. Phàm tình nhân ngã thị phi không do đâu khởi
đƣợc. Nếu chẳng tăng thêm giác chiếu, phàm tình vẫn lừng lẫy
nhƣ cũ, thì công hạnh càng cao, tình kiến càng nặng, từ ngộ vào
mê là chuyện khó tránh khỏi. Nhƣ ngƣời ngủ chẳng tỉnh, càng
ngủ mê mệt thêm.
Cổ nhân bảo: “Ðại sự dĩ minh nhƣ táng khảo tỷ” (Ðại sự đã hiểu
nhƣ chôn cha mẹ). Chính là vì phiền hoặc chƣa đoạn, chỉ e lại
mê. Phải biết rằng ngƣời đã đoạn Hoặc chẳng có phàm tình. Ðã
không có phàm tình, lấy đâu sanh tử? Ngƣời đại ngộ dù ngộ
bằng với Phật, nhƣng chƣa đoạn trừ Hoặc thì phải niệm niệm
giác chiếu, mới hòng tránh khỏi tác dụng của phàm tình.
* Pháp môn này toàn cậy vào Phật lực. Ví nhƣ ngƣời thọt một
ngày chỉ đi đƣợc mấy dặm; nếu ngồi trên luân báu của Chuyển
Luân Thánh Vƣơng liền trong khoảnh khắc đến khắp bốn đại
châu. Ðấy là sức của Luân Vƣơng, chẳng phải do sức mình.
Ngƣời đời tu hành cố nhiên giống vậy. Dù là kẻ ngũ nghịch thập
ác tội lỗi cực nặng, lúc lâm chung, tƣớng địa ngục hiện, nếu có
thể chí tâm niệm Phật, liền đƣợc Phật tiếp dẫn. Ấy là vì Phật xem
chúng sanh khác nào con một. Ðứa nào thiện thuận, dĩ nhiên từ
ái dƣỡng dục. Ðứa nào ác nghịch, càng thêm xót thƣơng. Nếu
con hồi tâm hƣớng về mẹ, ắt mẹ sẽ rủ lòng từ tiếp nhận.                                                                            135
* Cậy tự lực tu hành, đoạn Hoặc chứng Chân thật
chẳng dễ dàng! Ðoạn Kiến Hoặc nhƣ cắt ngang dòng nƣớc rộng
bốn mƣơi dặm, huống hồ là Tƣ Hoặc! Kiến Hoặc đoạn đƣợc liền
chứng Sơ Quả, dự vào dòng thánh, vẫn còn phải bảy lần sanh
lên trời, bảy lần sanh xuống nhân gian mới đoạn sạch đƣợc Tƣ
Hoặc để chứng Tứ Quả.
Tuy nói là mƣời bốn lần sanh tử, nhƣng trên trời tuổi thọ dài lâu,
cố nhiên chẳng thể dùng năm tháng để luận. Thánh nhân Sơ
Quả muốn liễu sanh tử còn khó khăn nhƣ thế, huống hồ là phàm
phu đầy dẫy Hoặc nghiệp ƣ? Nếu chứng Tứ Quả sẽ vĩnh viễn
đoạn đƣợc căn bản sanh tử, siêu xuất lục đạo luân hồi. Nếu phát
tâm Ðại Bi, nhập thế độ sanh, nƣơng theo nguyện thị hiện hạ
sanh, sẽ chẳng giống nhƣ kẻ đầy dẫy Hoặc nghiệp bị nghiệp
thiện ác lôi kéo thăng trầm trong lục đạo, tự mình chẳng mảy
may làm chủ đƣợc! Tự lực liễu sanh tử nếu chẳng phải là hạng
túc căn thâm hậu sẽ chẳng thể làm đƣợc; chúng sanh đời mạt
mong bằng đƣợc sao?
Bởi thế, Nhƣ Lai đặc biệt mở ra pháp môn Tịnh Ðộ để hết thảy
dù thánh hay phàm, thƣợng trung hạ căn cùng đƣợc liễu sanh
thoát tử ngay trong đời này. Lòng từ bi cứu hộ ấy tột bậc không
chi hơn đƣợc! Ðể tu trì pháp này cũng phải nghiêm trì tịnh giới,
tận lực tu Ðịnh - Huệ, kiêm thêm sanh lòng tin, phát nguyện, trì
danh hiệu Phật, cầu sanh Tây Phƣơng. Lòng tin chân thành,
nguyện thiết tha, niệm lực tinh thuần, ngay trong hiện đời cũng
có thể chứng thánh, lâm chung lên ngay thƣợng phẩm, dự vào
địa vị Bồ Tát, chứng địa vị Bất Thoái.
Nếu nhƣ căn cơ hèn kém, chƣa làm đƣợc nhƣ thế, cứ chí thành
niệm Phật thì tâm và Phật khế hợp nhau, cảm ứng đạo giao. Lúc
lâm chung ắt đƣợc Phật rủ lòng từ tiếp dẫn, đới nghiệp vãng
sanh. Thậm chí kẻ ngũ nghịch, thập ác, lúc lâm chung tƣớng địa
ngục hiện, nếu tâm thức chẳng mê, có thiện tri thức dạy cho
niệm Phật, ngƣời ấy sanh lòng sợ hãi lớn lao, sanh lòng hổ thẹn                                                                             136
lớn sám hối, dù niệm mấy tiếng rồi liền mạng chung,
cũng vẫn đƣợc Phật từ lực tiếp dẫn vãng sanh.
Một phen đƣợc vãng sanh liền vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, cao
dự hải hội, lần lƣợt tấn tu, ắt chứng Phật Quả. Cậy vào tự lực để
liễu sanh tử khó nhƣ thế ấy, cậy vào Phật lực để liễu sanh tử dễ
nhƣ thế đó. Phàm ai có tâm đều có thể niệm Phật, đều có thể
vãng sanh. Là trang nam nhi có huyết tánh, nhất định chẳng chịu
để Chân Nhƣ Phật Tánh sẵn có trái nghịch tịnh duyên, theo
duyên mê nhiễm, luân hồi trong lục đạo bao kiếp dài lâu không
thể thoát khỏi!
* Chúng ta luân hồi trong sanh tử, trải kiếp số đã lâu, đã tạo ác
nghiệp vô lƣợng vô biên. Nếu cậy vào sức tu trì của mình, muốn
diệt sạch phiền não Hoặc nghiệp để liễu sanh tử, còn khó hơn
lên trời! Nếu tin đƣợc pháp môn Tịnh Ðộ do Ðức Phật đã giảng,
dùng lòng tin chân thành, nguyện thiết tha, niệm danh hiệu A Di
Ðà Phật, cầu sanh Tây Phƣơng, chẳng luận là nghiệp lực lớn
hay nghiệp lực nhỏ, đều có thể nhờ vào Phật lực vãng sanh Tây
Phƣơng.
Ví nhƣ một hạt cát gieo xuống nƣớc liền chìm. Dù đem hòn đá
nặng cả mấy ngàn vạn cân đặt lên chiếc đại hỏa luân thuyền sẽ
chẳng bị chìm, còn chở đƣợc sang chỗ khác để tùy ý sử dụng.
Ðá ví nhƣ nghiệp lực sâu nặng của chúng sanh. Ðại hỏa luân
thuyền ví nhƣ từ lực rộng lớn của Phật Di Ðà.
Nếu chẳng niệm Phật, cậy vào sức tu trì của chính mình hòng
liễu sanh thoát tử, cần phải đạt đến chỗ nghiệp tận tình không
mới làm đƣợc. Nếu không, dù cho phiền não Hoặc nghiệp chỉ
còn chút mảy may chƣa đoạn cũng chẳng liễu nổi. Ví nhƣ một
hạt cát bé tí cũng bị chìm trong nƣớc, quyết chẳng thể tự nó
thoát ra ngoài nƣớc đƣợc!                                                                            137
Các hạ chỉ nên sanh tín tâm, niệm Phật cầu sanh
Tây Phƣơng, chẳng nên khởi lên những ý niệm nào khác. Nếu
thật sự làm đƣợc nhƣ vậy, nếu tuổi thọ chƣa hết sẽ mau đƣợc
lành bệnh. Do công đức chuyên nhất chí thành niệm Phật liền
diệt trừ đƣợc ác nghiệp đời trƣớc, khác nào mặt trời rạng rỡ đã
mọc, sƣơng tuyết liền tiêu. Tuổi thọ đã hết sẽ liền đƣợc vãng
sanh vì tâm không có niệm nào khác nên cảm ứng đạo giao với
Phật. Vì thế, đƣợc Phật tiếp dẫn vãng sanh. Nếu các hạ tin đƣợc
lời này thì sống cũng đƣợc đại lợi ích, mà chết cũng đƣợc đại lợi
ích!
* Tình thế hiện tại chính là tình thế hoạn nạn. Nếu chẳng lấy Phật
A Di Ðà và Quán Thế Âm Bồ Tát làm chỗ nƣơng cậy để thƣờng
niệm, lỡ ra họa hoạn xảy tới, hoặc thình lình gặp phải chuyện bất
trắc, kêu gào xuông cũng chẳng đƣợc! Nếu đã niệm sẵn từ trƣớc
sẽ có sự chuyển biến âm thầm. Huống hồ cơn sanh tử xảy tới, ai
cũng phải có ngày ấy!
Vì thế, phải thƣờng nghĩ đến lúc lâm chung, tự chẳng dốc sức
rong ruổi theo đuổi hết thảy vọng tƣởng trái phận và các pháp
môn chẳng giúp ích gì cho việc liễu sanh thoát tử, đến nỗi bỏ
phế, chẳng tu pháp môn phải quyết định dựa vào để liễu sanh
thoát tử này. Mong vợ chồng, cha con ông đều chẳng cho lời
Quang là hủ bại, vớ vẩn thì thật là may mắn lắm!
* Ngƣời niệm Phật có bệnh nên nhất tâm chờ chết. Nếu tuổi đời
chƣa tận sẽ chóng lành bệnh. Ðem toàn thân buông xuống để
niệm Phật, tiêu nghiệp rất hay! Nghiệp tiêu thì bệnh lành. Nếu
chẳng buông xuống đƣợc, cứ mong đƣợc khoẻ lại; nếu chẳng
đƣợc khỏe lại chắc chắn không cách chi đƣợc vãng sanh vì
chẳng nguyện sanh! Chẳng hiểu rõ đạo lý này, còn mong cậy vào
Phật từ lực nữa ƣ?                                                                            138
Với căn bệnh của mẹ ông, hãy nên khuyên bà khẩn
thiết buông xuống, cầu vãng sanh. Nếu tuổi thọ chƣa hết mà cầu
vãng sanh sẽ hóa ra chóng đƣợc lành bệnh. Ấy là vì tâm chí
thành nên đƣợc Phật từ gia bị. Mong ông hãy nhỏ nhẹ, khéo léo
khuyên mẹ, đừng bắt chƣớc kẻ si nói những lời si dại nữa!
3. Dạy những điều thiết yếu về lâm chung
* Một cửa ải lâm chung thật là khẩn yếu. Ðời có kẻ ngu, lúc cha
mẹ, quyến thuộc lâm chung bèn khóc lóc vật vã, tắm rửa, thay
áo, chỉ mong đẹp mắt ngƣời đời, chẳng nề di hại cho ngƣời chết.
Ngƣời không niệm Phật hãy khoan bàn đến, ngƣời chí thiết vãng
sanh lúc lâm chung gặp phải quyến thuộc nhƣ vậy, đa phần bị
phá hoại chánh niệm, vẫn bị ở lại trong thế giới này.
Lâm chung trợ niệm ví nhƣ kẻ yếu đuối trèo núi, sức mình chẳng
đủ, may nhờ có sức ngƣời đằng trƣớc kéo, đằng sau đẩy, tả hữu
xốc nách, nên có thể lên đƣợc đỉnh núi cao nhất.
Lâm chung chánh niệm rỡ ràng, bị ma quyến, ái tình lay động,
phá hoại... giống nhƣ dũng sĩ trèo núi, tự lực sung túc, nhƣng
bạn bè, ngƣời quen ai nấy đem vật dụng của mình bảo phải gồng
gánh. Gồng gánh quá nhiều, sức kiệt, thân nhọc, dõi nhìn vách
núi liền lùi bƣớc.
Lẽ đƣợc mất này dù do ngƣời khác gây ra, thật sự là do những
nghiệp lực thiện hay ác của chính mình trong những kiếp trƣớc
đã thành tựu hay phá hoại ngƣời mà ra. Phàm là ngƣời tu Tịnh
nghiệp, phải nên có chánh niệm thành toàn cho ngƣời, và phải
chỉ dạy sẵn cho quyến thuộc về lẽ lợi hại, ngõ hầu ai nấy hiểu
điều quan trọng là chỗ đạt đến của thần thức ngƣời chết, chứ
chẳng phải tại phƣơng diện tình cảm thế tục, mới hòng khỏi lầm
lạc vậy!                                                                            139
* Trong tuần thất và trong hết thảy lúc, hết thảy sự, phải lấy niệm
Phật làm chánh, chứ chẳng phải chỉ lúc đang lo ma chay! Hiện
thời, đa số Tăng lƣời nhác. Tụng kinh [Phật tử] phần nhiều không
biết. Ðã thế còn tụng nhanh nhƣ nƣớc chảy, [Phật tử] dù biết
nhƣng chẳng thuộc cũng chẳng thể đọc theo. Dù có đến mấy
mƣơi ngƣời, không có mấy ngƣời tụng kinh đƣợc! Chỉ có mỗi
niệm Phật, trừ phi chẳng phát tâm, quyết chẳng có cái nạn không
ai niệm theo đƣợc. Lại dù chẳng chịu niệm, một câu Phật hiệu lọt
qua tai thấu vào tâm cũng tự lợi ích chẳng ít. Ðấy là lý do Quang
tôi tuyệt đối chẳng đề xƣớng lập bất cứ đạo tràng nào khác.
* Ðối với ngƣời sắp mạng chung, chỉ có đồng thanh niệm Phật là
có ích. Nếu tâm thức chƣa rời khỏi thân thì tắm rửa, thay y phục
v.v... [cho ngƣời chết] gây trở ngại rất lớn. Vì thế, ngƣời tu Tịnh
nghiệp hằng ngày phải nên nói cho quyến thuộc hiểu rõ duyên do
ấy, ngõ hầu chẳng đến nỗi dùng lầm tình thân ái, gây trở ngại
việc vãng sanh! Nếu là bậc đại nhân tột bậc, bậc cao sĩ xuất
cách, bất tất e sợ sẽ mắc phải những chƣớng ngại ấy!
* Phật pháp rộng sâu, chỉ khi nào thành Phật mới ngừng tay
đƣợc. Muốn chắc chắn đƣợc vãng sanh, thƣờng hành truy tiến
(2) thật chẳng trở ngại gì đến việc khẩn thiết niệm Phật, tức là
nhƣ kinh Phật đã dạy: “Dù biết tội tánh vốn là không, nhƣng luôn
sám hối tội trƣớc, chẳng nói là mình đã đƣợc thanh tịnh”. Ngài
Liên Trì nói: “Trong năm, thƣờng phải truy tiến ngƣời đã mất,
chẳng đƣợc nói họ đã đƣợc giải thoát nên chẳng cử hành”.
Phải biết rằng: tụng kinh, niệm Phật tuy bảo là để truy tiến ngƣời
thân, thật sự là để quyến thuộc hiện tiền, ngƣời quen mở mang
cõi lòng, trồng thiện căn, và đem hết thảy công đức truy tiến                                                                             140
ngƣời thân hồi hƣớng cho hết thảy pháp giới chúng
sanh để mở rộng tâm lƣợng của mình lẫn ngƣời, của kẻ sống lẫn
ngƣời mất, hòng tiêu diệt những chấp trƣớc, chƣớng ngại của
mình lẫn ngƣời, của kẻ còn lẫn ngƣời mất. Nếu nhƣ chẳng đặt
nặng lòng thành, chỉ cốt xa hoa, khoa trƣơng, khoe mẽ cùng
ngƣời, có thể nói là: “Dùng đám tang ngƣời thân để bày trò náo
nhiệt”, chẳng phải là điều con cái nên làm.
* Ngay lúc thân mắc bệnh nặng, lúc chƣa thể chắc chắn sẽ sống
hay chết, hãy dạy cho mọi ngƣời ai nấy vì mẹ chí thành khẩn
thiết niệm “nam mô A Di Ðà Phật”, ngõ hầu tuổi thọ chƣa tận sẽ
chóng lành bệnh, tuổi thọ đã hết sẽ chóng đƣợc vãng sanh Tây
Phƣơng. Các con ông hiếu tâm tinh thuần, chuyên dốc, ắt sẽ đều
thƣờng trì niệm nhƣ cứu đầu mình bị cháy. Nhƣ thế, nào phải chỉ
hữu ích cho phu nhân, mà thật sự còn có ích lợi sâu xa cho các
cậu con ông nữa kia.
Ngƣời phàm mắc bệnh thì dùng thuốc để trị, nhƣng cũng không
nhất quyết phải dùng đến thuốc. Bệnh chẳng thể dùng thuốc trị,
dù có tiên đan cũng vô dụng, huống hồ là thuốc của thế gian?
Chẳng cần biết là bệnh trị đƣợc hay không, đều nên dùng thuốc
A Già Ðà. Thứ thuốc này tuyệt đối chẳng hại ngƣời. Uống vào,
dù thân hay tâm đều kiến hiệu liền.
Ngƣời sống trong thế gian, chẳng luận lâu hay mau, rốt cuộc
cũng một lần chết. Cái chết ấy chẳng đáng tiếc, nhƣng chỗ sẽ trở
về sau khi chết chẳng đáng để sắp đặt sẵn hay sao? Ngƣời có
lực lƣợng tự mình sắp đặt thỏa đáng, yên ổn, lẽ cố nhiên khi lâm
chung chẳng cần đến ngƣời khác giúp đỡ. Nhƣng nếu đƣợc hỗ
trợ lại càng thêm đắc lực. Ngƣời không lực lƣợng phải nên bảo
gia quyến thay mình niệm Phật, ắt sẽ đề khởi đƣợc chánh niệm,
chẳng đến nỗi bị ân ái buộc ràng, vẫn y nhƣ cũ bị ái tình trói buộc
vào cõi này chẳng thể ra khỏi !                                                                            141
* Với việc đảo bệnh, tiến vong, ngƣời đời nay hay dùng những
cách nhƣ tụng kinh, lễ sám, làm đàn Thủy Lục v.v... Riêng Quang
đối với những ngƣời quen biết mình đều dạy niệm Phật. Vì lợi
ích của việc niệm Phật còn hơn tụng kinh, lễ sám, lập đàn Thủy
Lục v.v... rất nhiều. Vì sao vậy?
Tụng kinh thì ngƣời không biết chữ không tụng đƣợc. Dù biết
chữ nhƣng tụng nhanh nhƣ nƣớc chảy, ngƣời miệng lƣỡi hơi
chậm chạp cũng không tụng theo nổi. Ngƣời lƣời biếng tuy tụng
đƣợc, cũng chẳng chịu tụng. Hóa ra chỉ hữu danh vô thực. Lễ
sám, lập đàn Thủy Lục cứ theo đó mà suy.
Niệm Phật thì không một ai là chẳng niệm đƣợc. Dù có kẻ lƣời
nhác chẳng chịu niệm, nhƣng mọi ngƣời cùng hòa tiếng niệm, kẻ
ấy chẳng bịt tai nên một câu Phật hiệu tất nhiên sẽ phân minh
rành rọt rót vào tâm. Dù chẳng niệm có khác gì là niệm! Nhƣ
ngƣời nhiễm hƣơng, thân có mùi thơm; nào phải họ muốn thơm,
chẳng mong nhƣ vậy mà lại đƣợc vậy! Vì thân quyến cầu an, tiến
vong, chẳng thể không biết điều này!
* Làm Phật sự bất tất phải niệm kinh, lễ sám, làm đàn Thủy Lục
v.v... vì những việc ấy đều thuộc về mặt đàn tràng. Hãy nên
chuyên nhất niệm Phật, ngõ hầu các cậu con ông từ đầu đến
cuối đều niệm theo đƣợc. Nữ quyến ai nấy tự niệm trong phòng
mình, chẳng nên ngồi sau lƣng các Tăng. Nhƣ thế thì chẳng
những phu nhân và lệnh quyến đƣợc lợi ích thật sự, mà vị Tăng
niệm Phật và hết thảy ngƣời thấy nghe không ai chẳng đƣợc lợi
ích.
Phàm làm Phật sự, nếu chủ nhân chịu tham dự đàn tràng thì vị
Tăng sẽ tự phát tâm chân thật. Còn nếu chủ nhân coi đó là
chuyện hình thức thì ông Tăng cũng sẽ coi pháp sự ấy là chuyện                                                                             142
hình thức, nhƣ một kỳ Phật sự đã xong, ban đêm xả
đàn Diệm Khẩu rồi thôi!
* Cho dù [ngƣời mất] thật sự đƣợc vãng sanh, vẫn phải nên chân
thành niệm Phật để cầu phẩm sen của ngƣời ấy đƣợc cao hơn,
chóng chứng Vô Sanh, đấy mới là tận hiếu. Ðiều này tuy để
ngƣời chết đƣợc lợi, nhƣng thật ra con cái, dâu rể đều cùng gieo
thiện căn. Cháu nào niệm đƣợc cũng nên bảo nó niệm theo.
* Lúc cha mẹ lâm chung, toàn gia không khóc lóc mà niệm Phật
là có lợi ích nhất. Nhƣng [chỉ niệm] trong lúc ấy vẫn còn ngắn
ngủi lắm, hãy nên niệm Phật cả ba tiếng không ngừng, chẳng cất
tiếng khóc cũng nhƣ di động, chuyển dịch là tốt nhất. Xin hãy
nhớ kỹ lấy!
* Ðối với việc làm Phật sự, Quang đã từng nói rõ rồi. Mong đừng
bắt chƣớc thói tục, làm chuyện sáo rỗng xuông. Nếu niệm Phật
trong suốt bốn mƣơi chín ngày so ra còn lợi hơn tụng kinh rất
nhiều.
* Ngƣời trƣớc khi mất nếu tự có thể tắm gội, thay áo thì rất hay.
Nếu ngƣời ấy chẳng thể tự làm, quyết chẳng nên tắm gội, thay
áo sẵn, khiến ngƣời ấy bị đau đớn khó chịu đựng nổi, mất chánh
niệm. Sao cuối cùng ông vẫn buộc ngƣời đã khuất mặc pháp y,
khoanh chân ngồi kết già để rồi tiếc hận? Chẳng biết rằng trong
lúc ấy tốt nhất là đồng thanh niệm Phật, vạn vạn phần chẳng
đƣợc phô trƣơng, bày vẽ (nhƣ tắm gội, thay áo, bắt ngƣời sắp                                                                             143
chết ngồi xếp bằng v.v...). Nếu phô trƣơng, bày vẽ sẽ
thành nhƣ đã bị té xuống giếng còn bị ném đá thêm. Hãy nhớ kỹ,
nhớ chắc!
* Lâm chung teo quắt lại và bị bệnh khổ chính là do nghiệp
chƣớng từ nhiều kiếp. Vì ngƣời ấy dốc lòng tu Tịnh nghiệp nên
chuyển trọng báo, hậu báo thành báo nhẹ trong hiện đời. Ông
bảo do tu trì tinh tấn nên thân ngày càng yếu. Lời này chẳng xác
đáng, còn vƣớng lỗi là khiến cho kẻ tín tâm nông cạn nhân đó
bèn lui sụt. Phải biết rằng: ngƣời niệm Phật quyết định tiêu trừ
đƣợc nghiệp chƣớng; những nghiệp chƣớng hiện tiền chỉ là
những ác báo phải đọa trong tam đồ của đời tƣơng lai chuyển
thành bệnh khổ trong đời hiện tại để giải quyết cho xong đó thôi!
Kinh Kim Cang dạy: “Trì kinh Kim Cang có điều nhục nhỏ nhƣ bị
ngƣời khác khinh miệt chính là diệt đƣợc cái khổ tam đồ ác đạo
trong nhiều kiếp”. Ðấy chính là phƣớc dày, sẽ đƣợc vãng sanh
Tây Phƣơng. Chịu cái khổ nhỏ lúc này để giải quyết cho xong ác
báo từ vô lƣợng kiếp đến nay, thật là may mắn lớn. Chớ học
theo kẻ chẳng biết sự việc chi bảo: “Vì tu trì đến nỗi mắc bệnh
hay bị chết!”
* Vì lẽ nào mẹ ông bệnh chẳng lành? Ðấy là do túc nghiệp tạo
thành nhƣ thế, nhằm chuyển trọng báo, hậu báo thành báo nhẹ
trong đời này để giải quyết cho xong ngay trong lúc này.
Pháp sƣ Huyền Trang khi lâm chung còn có chút bệnh khổ, lòng
ngờ những kinh mình dịch có chỗ nào sai lầm chăng? Liền có
một vị Bồ Tát an ủi rằng: “Tội báo trong những kiếp trƣớc của Sƣ
sẽ do nỗi khổ nhỏ này mà tiêu. Ðừng hoài nghi nữa!” Hãy dùng ý
này để an ủi mẹ ông, khuyên bà sanh tâm hoan hỷ, đừng sanh
tâm oán hận, sẽ quyết định đƣợc Phật gia bị. Tuổi thọ chƣa hết                                                                             144
sẽ mau đƣợc lành bệnh. Tuổi thọ hết sẽ vãng sanh.
Phàm nhân đang lúc bệnh khổ cứ hay nghĩ đến chuyện lùi một
bƣớc sẽ an lạc vô lƣợng!
Gần đây, binh lửa liên miên, chúng ta may chƣa mắc phải nạn
ấy. Dù có bệnh khổ, vẫn còn đƣợc cảnh tỉnh, nhắc nhở mong
thoát khổ, thì chỉ nên cảm kích, chuyên tu, tự đƣợc lợi ích. Nếu
không, cứ oán trời trách ngƣời, chẳng những túc nghiệp chẳng
thể tiêu, mà còn tăng thêm cái nghiệp oán trời trách ngƣời. Hãy
bảo mẹ ông nhƣ thế. Nếu thật chẳng oán trời trách ngƣời, tịnh
tâm niệm Phật sẽ tiêu đƣợc nghiệp nhƣ nƣớc sôi tan tuyết.
* Về việc tang tế nên dùng toàn đồ chay, chớ thuận theo thói tục.
Dù bị kẻ chẳng thạo việc đời trách là không đúng, cũng cứ mặc
họ chê cƣời mà thôi. Việc chôn cất đừng quá phô trƣơng, bày vẽ.
Làm Phật sự chỉ nên niệm Phật, đừng làm Phật sự nào khác.
Nên bảo cả nhà cùng khẩn thiết niệm Phật thì mẹ ông, ngƣời nhà
ông, quyến thuộc của ông và thân thích, bằng hữu đều cùng thật
sự hƣởng lợi ích.
Có tài lực thì hãy làm nhiều công đức. Nếu tiền của dùng cho
việc tang ma chẳng dƣ, chỉ lo tang ma không thôi cũng đƣợc.
Chớ có vung tay quá trán đến nỗi thiếu hụt, sau này phải chịu
cảnh quẫn bách.
* Mọi việc trong đời ngƣời đều có thể vờ vĩnh đƣợc, chỉ mỗi mình
lúc lâm chung là chẳng thể dối trá đƣợc. Huống  hồ những
chuyện nhƣ không tình luyến ái, vẻ mặt vui sƣớng, ngồi yên qua
đời, nếu chẳng phải là Tịnh nghiệp thành thục, đoan chắc không
thể đạt đƣợc nhƣ thế!                                                                            145
Chỉ mong con cháu và quyến thuộc cả nhà ông hiểu
đúng sự việc: Vì mẹ niệm Phật thì chẳng những mẹ ông đƣợc
lợi, mà thật ra công đức niệm Phật của chính mình càng lớn. Bởi
thế, Phật dạy ngƣời mỗi khi tụng kinh, trì chú, niệm Phật, làm các
công đức đều hồi hƣớng cho pháp giới chúng sanh. Bình thời,
còn vì pháp giới chúng sanh [là những kẻ] chẳng can hệ gì đến
mình hồi hƣớng, huống hồ mẹ mất mà chẳng chí tâm vì mẹ niệm
Phật ƣ?
Có thể vì hết thảy chúng sanh hồi hƣớng là đã hợp với thệ
nguyện Bồ Ðề của Phật, nhƣ một giọt nƣớc gieo vào biển cả liền
đƣợc rộng sâu nhƣ biển cả. Nếu nhƣ chƣa đến đƣợc biển, đừng
nói là một giọt nƣớc; cho dù là trƣờng giang, sông cái tất nhiên
vẫn khác với biển cả một trời, một vực! Nhƣ vậy, làm điều gì cho
ngƣời thân và cho hết thảy mọi ngƣời đều là để tự bồi đắp
phƣớc đức của chính mình đó thôi!
Biết đƣợc nghĩa này, ngƣời có  tâm hiếu thì tâm hiếu lại càng
thêm tăng trƣởng. Kẻ không hiếu tâm cũng sẽ phát khởi tâm
hiếu, thỉnh Tăng niệm Phật suốt bốn mƣơi chín ngày, càng hay!
Lúc niệm, anh em ông phải có ngƣời tham dự cùng niệm. Phụ nữ
bất tất phải tới ngồi sau chúng Tăng; bởi lẽ niệm Phật nhiều ngày
sẽ trở nên quen biết nhau, có thể khiến ngƣời khác nẩy sanh
hiềm nghi. Nên xếp riêng một nơi niệm Phật cho phụ nữ, hoặc để
họ ngồi sau màn, ra vào theo cửa riêng, hai bên chẳng trông thấy
nhau.
Làm nhƣ vậy để làm gƣơng cho làng xóm, mở bày khuôn phép
tốt lành. Nếu để lung tung không giới hạn, lỡ ngƣời khác bắt
chƣớc theo, lâu ngày ắt nảy sanh mối tệ. Ngƣời xƣa lập pháp tuy
là thƣợng thƣợng nhân vẫn tuân theo khuôn phép của hạ hạ
nhân nên tệ hại mới không nảy sanh!                                                                            146
* Những thuyết “đảnh thánh, nhãn sanh thiên” (3)
thật sự có chứng cứ, nhƣng Quang sợ kẻ vô tri cứ chăm chút
thăm dò hơi nóng lạnh. Ý tôi muốn nói là: Nếu có tín nguyện, lâm
chung chánh niệm phân minh, ắt đƣợc vãng sanh, chẳng cần cứ
phải thăm dò hơi nóng lạnh để làm chứng cứ! Cho nên nói: Cũng
chẳng phải chỉ có một cách. Chỉ e thăm dò nhiều lƣợt đến nỗi
gây lầm lỡ [cho ngƣời đã mất]. Chẳng thể chẳng biết!
* Hãy nên đem hết thảy việc nhà và ngay cả cái sắc thân của
chính mình đây thảy đều buông toàn bộ xuống hết. Từ trong cái
tâm chẳng nhiễm mảy trần trì thánh hiệu vạn đức hồng danh,
nghĩ mình sắp chết, ngoại trừ việc niệm Phật cầu tiếp dẫn chẳng
khởi một tạp niệm nào. Làm đƣợc nhƣ vậy, nếu tuổi thọ đã tận
sẽ quyết định vãng sanh Tây Phƣơng, siêu phàm nhập thánh.
Nếu tuổi thọ chƣa tận, sẽ quyết định tiêu nghiệp, lành bệnh, huệ
rạng, phƣớc cao. Nếu chẳng nghĩ nhƣ thế, cứ si ngốc chỉ cầu
chóng lành bệnh thì chẳng những bệnh chẳng thể chóng lành,
trái lại còn nặng thêm. Giả sử nhƣ tuổi thọ đã hết, ắt sẽ theo
nghiệp chìm nổi vĩnh viễn không có dịp thoát khỏi nỗi khổ ở Sa
Bà này!
* Ngƣời lâm chung đƣợc trợ niệm ắt sẽ đƣợc vãng sanh. Ðã
không đƣợc trợ niệm, lại còn khóc lóc, xáo động, khiến ái tình,
sân hận khởi lên làm cho ngƣời chết khó khỏi bị đọa lạc. Cực
hiểm, cực hiểm! Ông thành tựu đƣợc việc vãng sanh cho mẹ
cũng là chánh nhân tịnh nghiệp của tam thế chƣ Phật. Ấy là:
Ngay trong trần lao mà hành Phật sự, công đức ấy thù thắng hơn
những công đức tầm thƣờng cả vạn phần.
* Lâm Chung Châu Tiếp (mái chèo lâm chung)                                                                            147
Phật chế Tăng khi mất phải hỏa thiêu vốn là để họ rời lìa đƣợc
cái thân phần đoạn giả dối, chứng đƣợc Pháp Thân chân
thƣờng. Vì thế, từ khi Phật chế lập điều ấy đến nay, Tăng chúng
kính dùng cấm chế ấy làm thƣờng quy. Tiếc là đạo pháp ngày
càng suy đồi, lâu ngày tệ nạn phát sanh. Nhƣ nay Thích tử vội
vàng lo hỏa thiêu cho xong việc, chẳng tuân cấm chế. Mỗi khi
ngƣời bệnh vừa thở hắt ra, liền vội thay áo, dời động để kịp nhập
khám một hai ngày, rồi liền hỏa thiêu. Có thể nói là rất trái nghịch
chế định của Phật!
Phật nói con ngƣời có tám thức, tức là tri thức. Năm thức đầu là
Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân. Thức thứ sáu là Ý. Thức thứ bảy là
Mạt Na, còn gọi là Truyền Tống Thức. Thức thứ tám là A Lại Da,
còn gọi là Hàm Tàng Thức. Khi con ngƣời sanh ra, chỉ có thức
thứ tám này đến trƣớc nhất, các thức kia đến sau. Ðến lúc chết,
thức thứ tám này cũng ra đi sau cùng; các thức khác lần lƣợt đi
trƣớc.
Thức thứ tám chính là linh thức của con ngƣời, thế tục thƣờng
gọi là “linh hồn”. Thức thứ tám này thông linh nên khi con ngƣời
mới nhập thai mẹ, nó liền đến trƣớc. Vì thế, con trong bụng mẹ
liền biết hoạt động. Ðến khi chết, sau khi dứt hơi, nó chẳng đi
ngay, phải đợi đến khi toàn thân lạnh giá, không còn một điểm
nào còn ấm nữa, thức ấy mới chịu đi. Khi thức đã đi, thân này sẽ
không còn mảy may tri giác nào.
Nếu chỗ nào còn ấm là thức ấy còn chƣa rời đi. Ðộng chạm đến
vẫn biết đau khổ. Lúc ấy, kỵ nhất là các sự mặc áo, xếp chân,
dời động v.v... Nếu hơi động đến sẽ đau khổ khó chịu đựng nổi;
bất quá miệng không nói đƣợc, thân chẳng động đƣợc đó thôi!
Xét theo kinh dạy, ba thứ hơi nóng, thọ mạng và thức thƣờng
chẳng rời nhau. Nhƣ ngƣời sống có hơi ấm thì thức còn hiện
hữu. Thức còn hiện hữu thì tuổi thọ chƣa hết. Xƣa nay có kẻ                                                                             148
chết đi dăm ba bữa rồi sống lại, chép rõ ràng trong
sách vở có thể tra cứu đƣợc.
Nho Giáo cũng có cái lễ để ba ngày rồi mới đại liệm, do quyến
thuộc yêu mến, vẫn hy vọng ngƣời chết vạn nhất sống lại chăng?
Còn Tăng sĩ ta, tuy chẳng mong sống lại, nhƣng cũng chẳng thể
chẳng quản gì đến nỗi thống khổ [của vong giả], cứ tự tiện dời
động để kịp di quan, thiêu hóa. Lòng từ bi để đâu? Cổ nhân nói:
“Thố tử hồ bi, vật thƣơng kỳ loại” (thỏ chết, cáo buồn; loài vật
thƣơng xót nhau). Loài vật còn nhƣ thế, huống hồ cùng là loài
ngƣời ƣ? Huống hồ lại còn cùng là Phật tử nữa ƣ?
Vả nữa, thói đời khi đau đớn tột bậc sẽ dễ nổi sân tâm. Do sân
tâm rất dễ bị đọa lạc. Nhƣ kinh nói vua A Kỳ Ðạt lập chùa tháp
Phật, công đức vòi vọi. Lúc lâm chung, ngƣời hầu cầm quạt lỡ để
rớt trúng mặt vua. Vua bị đau, nổi sân, chết đọa làm thân rắn.
Nhờ có công đức, sau gặp đƣợc sa-môn vì rắn thuyết pháp. Do
nghe pháp nên bèn thoát thân rắn, đƣợc sanh lên trời. Xem đó,
biết rằng: Khi thần thức của ngƣời chết chƣa đi hẳn thì mặc áo,
dời động và lập tức thiêu hóa ngay sẽ khiến ngƣời ấy đau đớn
nổi sân, càng thêm đọa lạc, há chẳng phải là nhẫn tâm hại lý cố
bày trò thảm độc ƣ?
Hãy thử nghĩ ngƣời chết có oán cừu chi với mình; chỉ vì hảo tâm
thành ra ác duyên! Nếu bảo sự còn mờ mịt, biết cậy vào đâu để
suy xét, thì những điều chép trong kinh điển chẳng đáng tin
chăng? Ðến giờ đây, các thói tệ lƣu hành nói chung là do ngƣời
sống chẳng biết thƣơng cho nỗi khổ của ngƣời chết, chỉ tính
xong việc cho nhanh nên chẳng nhọc công xem kỹ ấm lạnh. Do
đấy, trở thành thói quen, dù có ai nhắc đến lại cƣời là vu vơ, đến
nỗi ngƣời chết phải chịu khổ nạn! Ô hô! Ðiều khổ nhất trên đời
không gì bằng sanh tử. Sanh nhƣ rùa còn sống bị bóc mai, tử
nhƣ cua bị nhúng nƣớc sôi. Tám khổ cùng nấu, đau đớn chẳng
nói nổi!                                                                            149
Xin những ai chăm sóc bệnh nhân hãy lƣu tâm cẩn
thận, chớ cùng bệnh nhân tán nhảm chuyện gẫu khiến tâm họ
tán loạn, cũng đừng buồn bã, khóc kể om sòm. Hãy nên khuyên
bệnh nhân buông hết thân tâm, một dạ niệm Phật để cầu vãng
sanh. Lại nên trợ niệm khiến cho bệnh nhân nƣơng theo tiếng
niệm Phật của  mình để nhớ kỹ trong tâm. Nếu có tiền tài hãy
thỉnh Tăng chúng chia ban niệm Phật, khiến cho tiếng niệm Phật
ngày đêm không ngớt, hòng tai ngƣời bệnh luôn nghe Phật hiệu,
có thể quyết định nhờ vào Phật từ lực vãng sanh Tây Phƣơng.
Còn nhƣ không có tiền của thì cả nhà phát tâm trợ niệm để kết
duyên cuối cùng.
Về việc sắp đặt hậu sự, chớ bàn bạc ngay trƣớc mặt bệnh nhân.
Chỉ nên gõ dẫn khánh, cao tiếng niệm Phật, khiến cho từng câu
lọt vào tai bệnh nhân ngõ hầu trong tâm ngƣời bệnh thƣờng
chẳng lìa Phật. Tiếng mõ vốn đục, trợ niệm lâm chung trọn chẳng
nên dùng. Bệnh nhân nằm hay ngồi nên để tùy ý, chớ nên di
động, cả nhà cứ chuyên tâm niệm Phật. Ðợi đến lúc toàn thân đã
lạnh hết, tức là thần thức đã đi hết rồi, đợi thêm hai tiếng nữa
mới đƣợc tắm rửa, thay áo. Nếu nhƣ thân đã lạnh hóa cứng thì
nên dùng nƣớc nóng xoa nắn, dùng vải thấm nƣớc nóng áp vào
khủy tay, đầu gối, cổ chân, đợi giây lát, những chỗ đó sẽ mềm
mại trở lại. Lúc ấy mới xếp chân cho ngƣời chết nhập quan. Cho
đến lúc mọi việc xong xuôi hết cả, vẫn phải thƣờng niệm Phật.
Tất cả những việc nhƣ lễ sám, tụng kinh đều chẳng có lợi ích
rộng lớn bằng niệm Phật. Phàm hết thảy các quyến thuộc dù là
tại gia hay xuất gia đều phải tuân hành cách này thì kẻ còn,
ngƣời mất đều đƣợc lợi ích lớn lao. Hơn nữa, Ðức Phật ta khi
Niết Bàn, vốn nằm trên hông phải, cứ để nhƣ vậy nhập quan trà-
tỳ. Ngƣời đời nay cứ thuận theo tự nhiên. Nếu ngồi mất thì đặt
vào khám. Nếu nằm mất thì đặt vào quan tài, cốt sao thỏa đáng.
Nhƣng ngƣời đời nay phong tục đã thành thói, sợ họ chẳng cho
nhƣ vậy là đúng, cũng nên lắng nghe, suy nghĩ để quyết định sao
cho tiện.                                                                            150
Còn nhƣ ngƣời chết rồi có các cảnh tƣợng thiện ác,
vốn là có chứng cứ thật sự. Ngƣời sanh vào thiện đạo hơi nóng
từ dƣới bốc lên trên; ngƣời sanh vào ác đạo, hơi nóng từ trên tỏa
xuống dƣới. Nếu nhƣ cả thân lạnh hết, khí nóng tụ lại trên đầu
bèn là sanh trong thánh đạo. Hơi nóng ở mắt sanh trong thiên
đạo, ở ngực sanh trong nhân đạo, ở bụng sanh ngạ quỷ đạo, ở
gối sanh trong súc sanh đạo, ở bàn chân sanh trong địa ngục
đạo. Vì thế có bài kệ:
Ðảnh thánh, nhãn sanh thiên,
Nhân tâm, ngạ quỷ phúc,
Súc sanh tất cái ly,
Ðịa ngục cƣớc bản xuất.
(Ðảnh: thánh; mắt: sanh thiên,
Ngực: ngƣời, bụng: ngạ quỷ;
Từ gối ra: súc sanh,
Ðịa ngục: bàn chân nóng)
Ôi! Ðại sự sanh tử chẳng ai tránh đƣợc, chỉ có một điều phải thật
thận trọng: ngƣời săn sóc bệnh nhân phải dùng đồng thể bi tâm
để giúp hoàn thành đại sự vãng sanh. Cổ nhân nói:
Ngã kiến tha nhân tử,
Ngã tâm nhiệt nhƣ hỏa,
Bất thị thục tha nhân,
Khán khán luân ngã đáo.                                                                            151
(Ta thấy ngƣời khác chết,
Ruột ta nóng nhƣ lửa,
Nào phải mình ai kia,
Rồi ta cũng đến lƣợt!)
Nhân duyên, quả báo cảm ứng chẳng sai! Muốn cầu tự lợi trƣớc
phải lợi ngƣời! Soạn thiên này để bảo khắp đồng bào, khẩn
khoản mong mọi ngƣời chú ý!
5. Khuyên nên giữ lòng thành kính
      * Nhập đạo nhiều môn, chỉ do chí hƣớng mỗi ngƣời mà thâm
nhập một môn, trọn chẳng có một pháp nhất định. Nhƣng nhất
định phải: 1. Thành. 2. Cung kính. Hai điều này dù cho tất cả chƣ
Phật tận đời vị lai đều  xuất thế cả vẫn chẳng thể khác đƣợc.
Chúng ta đã là phàm phu sát đất muốn mau tiêu nghiệp lụy, mau
chứng Vô Sanh, chẳng dốc sức vào hai việc này thì ví nhƣ cây
không rễ lại mong tƣơi tốt, chim không cánh lại mong bay lên, có
đƣợc hay chăng?

      * Thế tục đọc sách tuyệt không kính nể. Sáng dậy, chẳng
buồn rửa ráy, súc miệng. Ði tiêu xong chẳng thèm gột rửa. Hoặc
còn bỏ sách nơi giƣờng, ghế, hoặc làm gối lót đầu để đêm ngủ
đọc luôn, bỏ chung với đồ lót, áo quần. Sách nào đặt trên bàn để
đọc thì bỏ lẫn lộn với các vật khác, xem lời hiền thánh nhƣ mớ
giấy cũ nát. Hoàn toàn không có ý chăm chút, không mảy may
kính trọng.                                                                            152
Thậm chí những sách coi chơi của phụ nữ những
nhà thƣ hƣơng đều là kinh truyện, tôi tớ những nhà giàu có lau
chùi đồ đạc đều dùng  [những tờ giấy có in chép] văn chƣơng.
Bao thứ khinh nhờn khó lòng thuật tỉ mỉ. Thói tệ tích tập đã lâu,
quen mắt chẳng quan tâm đến. Nếu chẳng chỉ rõ họa phƣớc,
chắc chắn khó tránh lỗi khinh nhờn. Chƣa đƣợc ích gì, đã mắc
lỗi lớn trƣớc! Thƣơng những kẻ vô tri ấy nên phải chỉ dạy trƣớc.
      * Một pháp niệm Phật thật rất giản dị, rất rộng, rất lớn, nhƣng
phải khẩn thiết chí thành đến cùng cực mới hòng cảm ứng đạo
giao, đƣợc lợi ích thật sự ngay trong đời này! Nếu lƣời nhác,
biếng trễ, không mảy may kính nể, dù gieo đƣợc viễn nhân, vẫn
mắc tội khinh nhờn chẳng thể tƣởng tƣợng nổi. May ra đƣợc
sanh vào cõi trời, cõi ngƣời, quyết khó lòng cao dự hải hội.
Ðối với tƣợng Phật nên tƣởng nhƣ đức Phật thật, chẳng đƣợc
coi giống nhƣ gỗ, đất, đồng, sắt v.v... Kinh điển chính là thầy của
tam thế chƣ Phật, là Pháp Thân xá-lợi của Nhƣ Lai, cũng nên
xem nhƣ Ðức Phật thật sự, chẳng đƣợc coi nhƣ giấy mực. Lúc
đối trƣớc kinh tƣợng, hãy nên nhƣ trung thần thờ thánh chúa,
nhƣ con hiếu đọc di chúc. Làm đƣợc nhƣ thế, không nghiệp
chƣớng nào chẳng tiêu, không phƣớc huệ nào chẳng đủ!
Hiện tại, hàng sĩ đại phu học Phật rất nhiều, nhƣng đa số chỉ đọc
kinh văn, hiểu ý nghĩa, dùng đó để phô phang ngoài miệng hòng
đƣợc tiếng là bậc thông gia mà thôi. Còn nhƣ cung kính, chí
thành, y giáo tu trì, thật khó có đƣợc một ai!
Tôi thƣờng nói: “Muốn hƣởng lợi ích thật sự từ Phật pháp, phải
cầu nơi cung kính. Có một phần cung kính sẽ tiêu đƣợc một
phần tội nghiệp, tăng một phần phƣớc huệ. Có mƣời phần cung
kính sẽ tiêu đƣợc mƣời phần tội nghiệp, tăng mƣời phần phƣớc
huệ. Nếu chẳng cung kính đến nỗi khinh mạn thì tội nghiệp càng
tăng, phƣớc huệ càng giảm. Buồn thay!”                                                                            153
      * Lễ, tụng, trì, niệm, các thứ tu trì đều phải lấy thành kính làm
chủ. Nếu thành kính đến cùng cực thì công đức nhƣ trong kinh
nói: Còn ở địa vị phàm phu chƣa thể viên đắc, nhƣng sở đắc
cũng đã khó nghĩ khó bàn! Nếu không thành kính, có khác chi hát
tuồng, những trò khổ, sƣớng, buồn, vui đều là giả trang, chẳng
phát xuất từ bên trong. Dù có công đức, cũng chẳng thể vƣợt
quá cái phƣớc si ám của cõi nhân thiên đó thôi. Nhƣng do cái si
phƣớc ấy ắt sẽ tạo ác nghiệp, cái khổ tƣơng lai có lúc nào
xong?

      * Nói đến thành, nói đến cung kính, lời lẽ ấy cả thế gian đều
biết, nhƣng đạo lý này cả thế gian đều mê muội. Ông X. nọ do tội
nghiệp sâu nặng, mong tội nghiệp tiêu trừ để báo ân Phật,
thƣờng tìm cầu những khuôn mẫu tu trì tốt đẹp của cổ đức. Nhờ
đó, ông biết rằng Thành và Cung Kính thật là bí quyết cực diệu
để siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử. Vì thế, ông thƣờng
cùng kẻ hữu duyên nhắc đi, nhắc lại điều này.

* Ðối với việc xem kinh, nếu muốn làm pháp sƣ để tuyên dƣơng
cho đại chúng thì hãy đọc kinh văn trƣớc, tiếp đó xem các chú
sớ. Nếu tinh thần chẳng sung túc, kiến giải chẳng hơn ngƣời,
chớ có mất công nhọc nhằn tâm lực, uổng phí năm tháng.
Nếu muốn tùy phận đƣợc lợi ích thật sự, phải chí thành khẩn
thiết thanh tịnh tam nghiệp. Hoặc trƣớc hết phải đoan tọa chốc
lát, lắng định thân tâm, rồi mới lễ Phật, đọc ra tiếng; hoặc chỉ im
lặng xem. Hoặc lễ Phật xong, đoan tọa chốc lát, sau đó mới mở
kinh [ra xem]. Cũng phải thân đoan nghiêm, ngồi ngay ngắn nhƣ
đối trƣớc thánh dung, đích thân lắng nghe viên âm, chẳng dám
manh nha một niệm biếng nhác, chẳng dám khởi một niệm phân                                                                             154
biệt. Ðọc một loạt từ đầu đến cuối, dù là văn hay
nghĩa đều nhất loạt chẳng dùng lý lẽ để hiểu.
Ðọc kinh nhƣ thế, ngƣời lợi căn đối với mỗi mỗi Không lý sẽ lãnh
ngộ đƣợc, chứng pháp Thật Tƣớng; còn kẻ căn cơ độn kém
cũng tiêu trừ đƣợc nghiệp chƣớng, tăng trƣởng phƣớc huệ. Lục
Tổ nói: “Ðãn khán Kim Cang kinh, tức năng minh tâm kiến tánh”
(chỉ xem kinh Kim Cang liền có thể minh tâm kiến tánh) là nói về
cách xem kinh nhƣ trên đây, cho nên bảo là “đãn” (chỉ). Kinh Ðại
Thừa đều có công năng minh tâm kiến tánh, chứ nào phải mình
kinh Kim Cang?
Nếu cứ một mực phân biệt câu này nghĩa nhƣ thế nào, đoạn này
nghĩa là gì thì toàn là thuộc về phàm tình, vọng tƣởng, xét đoán,
suy lƣờng, làm sao ngầm phù hợp với ý Phật, lãnh ngộ trọn vẹn
ý kinh; nhân đó, nghiệp chƣớng tiêu diệt, phƣớc huệ tăng cao
cho đƣợc? Nếu biết cung kính thì còn gieo đƣợc chút thiện căn.
Nếu cứ làm giống hệt nhƣ cách đọc sách Nho của kẻ học rộng
sẽ thành hạng ngƣời vƣớng phải tội khinh nhờn sừng sững nhƣ
non, thăm thẳm nhƣ vực, dùng nhân lành chiêu lấy quả ác vậy.
Cổ nhân chuyên trọng nghe kinh vì tâm chẳng thể khởi phân biệt.
Nhƣ có ngƣời đọc kinh ra tiếng, một ngƣời khác ở cạnh nhiếp
tâm lắng nghe mỗi chữ, mỗi câu cho thật phân minh. Tâm kẻ ấy
chuyên chú, chẳng dám duyên theo hết thảy thanh sắc bên
ngoài. Nếu chỉ hơi phóng túng liền bị đoạn tuyệt ngay, chẳng
quán thông nổi văn nghĩa!
Ngƣời tụng có kinh văn để nƣơng theo, chẳng phải dốc trọn tâm,
nhƣng cũng phải tụng cho rõ ràng vì ngƣời nghe chỉ nhờ vào
tiếng tụng. Nếu ngƣời tụng phóng túng một chút liền thành đứt
đoạn. Nếu nghe đƣợc nhƣ thế, công đức bằng với công đức của
ngƣời chí thành, cung kính tụng. Nếu ngƣời tụng chỉ thiếu cung
kính đôi chút thì công đức khó bằng nổi kẻ nghe.                                                                            155
Ngƣời đời nay xem kinh Phật nhƣ giấy cũ. Trên án
kinh để lẫn các tạp vật. Cầm lấy kinh chẳng rửa tay, miệng chẳng
súc sạch, lắc lƣ thân mình, giở chân, rung đùi, thậm chí phóng
thí (4), gãi chân, buông lung hết thảy chẳng kiêng sợ gì, còn
hòng xem kinh để đƣợc phƣớc, tiêu tội! Chỉ có hạng ma vƣơng
muốn diệt Phật pháp là tán thán, cho là hoạt bát viên dung, là
phù hợp sâu xa với diệu đạo không chấp trƣớc của Ðại Thừa!
Hàng Phật tử chân thật tu hành trông thấy cảnh ấy chỉ còn biết
đau xót thầm, nƣớc mắt đầm đìa, than thở ma quyến hoành
hành, chẳng biết làm sao!
Ngài Trí Giả tụng kinh hoát nhiên đại ngộ, lặng lẽ nhập định, nào
phải do tâm phân biệt mà đƣợc đâu! Một vị cổ đức chép kinh
Pháp Hoa, nhất tâm chuyên chú liền đạt “niệm cực tình vong”,
cho đến lúc trời tối mịt vẫn chép kinh nhƣ thƣờng. Thị giả vào hỏi
trời đã tối mịt sao vẫn còn chép, Ngài liền xòe tay ra, chẳng trông
thấy lòng bàn tay. Xem kinh nhƣ thế là cũng chuyên tâm dốc chí
giống nhƣ tham thiền khán thoại đầu, trì chú, niệm Phật. Do dụng
lực lâu ngày, sẽ có một ngày đƣợc hoát nhiên quán thông.
Minh Tuyết Kiệu Tín thiền sƣ, ngƣời ở Phủ Thành, Ninh Ba
không biết chữ, trung niên xuất gia, tận lực khổ công tham cứu,
nhẫn đƣợc những việc ngƣời khác chẳng thể nhẫn, làm đƣợc
việc ngƣời khác chẳng thể làm. Khổ hạnh của ngài ngƣời khác
khó đạt đƣợc. Lâu ngày, đại triệt, đại ngộ, miệng nói ra điều gì
đều khéo léo khế hợp cùng Thiền cơ. Tuy chẳng biết chữ, chẳng
viết đƣợc, nhƣng lâu ngày Ngài liền biết chữ! Lâu sau, Ngài còn
tung hoành ngọn bút, nghiễm nhiên trở thành một bậc đại thƣ
pháp.
Những sự lợi ích này đều là từ chẳng phân biệt, chuyên tinh
tham cứu mà có. Ngƣời xem kinh cũng nên lấy đó làm gƣơng!                                                                            156
* Lúc xem kinh tuyệt đối chẳng đƣợc khởi tâm phân
biệt thì tự nhiên vọng tƣởng phải tiềm phục, thiên chân phát hiện.
Nếu muốn nghiên cứu nghĩa lý hoặc giở xem các chú sớ hãy
dành một thời gian khác để chuyên nghiên cứu. Trong lúc nghiên
cứu, tuy chẳng nghiêm túc nhƣ lúc xem kinh, cũng chẳng đƣợc
hoàn toàn không cung kính. Bất quá, so với lúc xem kinh, thƣ
thái hơn một chút.
Nghiệp chƣa thể tiêu, trí chƣa thể rạng thì phải lấy việc xem kinh
làm chính, việc nghiên cứu chỉ đại lƣợc kèm theo. Nếu không,
suốt ngày quanh năm chỉ lo nghiên cứu, dù nghiên cứu đến mức
nhƣ vẹt mây thấy mặt trăng, mở cửa thấy núi, cũng chỉ là bàn
suông ngoài miệng, chẳng hề can hệ mảy may đến thân tâm,
tánh mạng, sanh tử chi cả! Ngày ba mƣơi tháng Chạp xảy đến
chẳng dùng đƣợc mảy may!
Nếu có thể xem kinh [theo cách] nhƣ trên vừa nói, ắt sẽ nghiệp
tiêu, trí rạng, ba thứ tình kiến sẽ trở về “chốn quê hƣơng chẳng
hề tồn tại” (ý nói: sẽ biến mất không tăm tích). Nếu chẳng xem
kinh đƣợc nhƣ thế, chẳng những ba thứ tình kiến chƣa chắc
chẳng sanh, còn e do sức túc nghiệp, tà kiến sẽ phát khởi, bác
không nhân quả, và các thứ phiền não: giết, trộm, dâm, dối sẽ
nối tiếp nhau nổi dậy nhƣ lửa cháy hừng hực, nhƣng vẫn cứ cho
mình là ngƣời hành Ðại Thừa, hết thảy vô ngại! Lại còn vin vào
câu nói “Tâm bình hà lao trì giới?” (tâm bình nào phải nhọc công
giữ giới?) của Lục Tổ để cho rằng phá hết các giới mà chẳng phá
mới thật sự là trì giới. Thật là tu hành khó đạt chân pháp vậy!
Sở dĩ chƣ Phật, chƣ Tổ chủ trƣơng Tịnh Ðộ là để nhờ vào Phật
từ lực chế phục nghiệp lực, chẳng cho chúng phát hiện. Vì thế
nên lấy niệm Phật làm chánh, xem kinh làm trợ hạnh!
* Ðức Nhƣ Lai đã diệt độ, những cái còn lại chỉ là kinh và tƣợng.
Nếu coi tƣợng bằng đất, gỗ, vàng, tƣợng vẽ v.v... là đức Phật                                                                             157
thật sẽ diệt đƣợc nghiệp chƣớng, phá đƣợc phiền
hoặc, chứng tam muội, thoát sanh tử. Nếu coi đó chỉ là đất, gỗ,
vàng, tranh vẽ thì tƣợng cũng chỉ là đất, gỗ, vàng, tranh vẽ mà
thôi! Nếu khinh nhờn đất, gỗ, vàng, tranh vẽ chẳng có lỗi gì,
nhƣng nếu khinh nhờn tƣợng Phật bằng đất, gỗ, vàng, tranh vẽ
thì tội tầy trời. Ðọc tụng kinh Phật, lời Tổ, phải coi nhƣ Phật tổ
đang hiện diện nói cho ta nghe, chẳng dám móng khởi chút biếng
nhác nào!
Làm đƣợc nhƣ vậy, tôi bảo ngƣời ấy ắt sẽ cao đăng chín phẩm
ngay trong đời này. Nếu không, chỉ là dạo chơi trong pháp môn,
bất quá đƣợc lợi ích là biết nhiều, thấy nhiều, nói đƣợc rành rẽ,
chứ chẳng mảy may thọ dụng đƣợc lợi ích chân thật chi, vẫn chỉ
là chuyện nghe bên đƣờng, nói bên lề mà thôi! Cổ nhân đối với
Tam Bảo đều giữ lòng tôn kính thật sự, chứ chẳng chỉ bàn bạc ơ
hờ rồi thôi. Ngƣời đời nay miệng còn chẳng buồn bàn đến một
chữ, huống là thực hành ƣ?
* Ấn Quang thấy những ngƣời trích máu chép kinh gần đây chỉ là
tạo nghiệp vì trọn chẳng cung kính. Mỗi lần trích máu, liền trích
rất nhiều. Vào tiết Xuân Thu, qua hai ba ngày máu liền hƣ thối.
Mùa Hạ, để nửa ngày máu liền tanh hôi, vẫn cứ dùng để chép.
Có ngƣời còn đem máu phơi khô, mỗi lần chép liền dùng nƣớc
hòa máu khô nghiền ra để chép. Lại còn chép luộm thuộm, chẳng
cung kính mảy may.
Ðúng là trò trẻ con đùa giỡn, chẳng phải là dùng máu để biểu lộ
lòng chí thành, mà chỉ là trích máu chép kinh để đoạt cái danh
mình là ngƣời chân thật tu hành thôi!
* Chép kinh chẳng giống nhƣ viết tự bình (5), chủ yếu là dốc tinh
thần vào, chứ chẳng cần xinh khéo. Chép kinh nên nhƣ tiến sĩ                                                                             158
chép sách. Mỗi một nét bút chẳng đƣợc cẩu thả, viết
tắt. Dạng chữ dùng phải là dạng chánh thức. Nếu tọa hạ (6) viết
theo thể loại viết trát là không đƣợc. Xƣa nay, ngƣời ta hay dùng
các thể loại hành thƣ hay thảo thƣ để chép kinh, Quang tôi tuyệt
đối chẳng tán thành!
* Ngƣời đời nay chép kinh mặc sức ngoáy bút, thật chẳng phải là
chép kinh, chỉ là mƣợn dịp để luyện chữ đồng thời lƣu lại bút tích
cho hậu thế đó thôi! Chép kinh nhƣ thế không phải là hoàn toàn
vô ích, nhƣng chẳng qua chỉ tạo thành cái nhân đắc độ trong đời
tƣơng lai, mà cái tội khinh nhờn cũng chẳng nhỏ nhặt gì!
* ... (lƣợc bỏ đoạn này không dịch vì Tổ luận về thể loại chữ nên
dùng để chép kinh. Ngài trách một vị cƣ sĩ khi chép kinh đã nệ
cổ, tự tiện sửa đổi những chữ trong kinh theo lối viết cổ. Thiển
nghĩ, đoạn này vô ích đối với những độc giả không biết chữ Hán,
nên không dịch ra)
* Nếu đối với pháp môn Tịnh Ðộ chẳng thể dốc hết một lòng
quyết chí tu trì; đối với việc tuân giữ lòng thành kính, khắc kỷ, giữ
lễ cứ muốn cho là chẳng muốn chấp trƣớc, hòng khéo che đậy
những thứ sơ sài, tán loạn, phóng dật, thì những lợi ích ngài đạt
đƣợc chẳng giống với cái hiểu biết từ chỗ thấy hiểu kém cỏi của
Quang tôi. Những điều khác trong bộ Văn Sao tạp nhạp của
Quang đã nói đủ cả, nên chẳng dông dài nữa.
Ðối với việc xem kinh, chỉ có cung kính mới đƣợc lợi ích thật sự.
Nếu chẳng cung kính, dù có đƣợc lợi ích thì lợi ích ấy chẳng qua
là nƣơng theo kinh văn hiểu ý nghĩa, chứ nghiệp tiêu, trí rạng,
thầm ngộ tự tâm trọn chẳng thể cầu may nhƣ thế đƣợc! Huống                                                                             159
hồ còn đeo cái lỗi khinh nhờn chẳng thể nói hết nổi
đƣợc! Ðây chính là bệnh chung của cả thế gian, thật là buồn đau,
khóc hận, thở dài sƣờn sƣợt vậy!
* Chẳng thể lập riêng nghi thức lễ Phật cho ngƣời cực bận. Chỉ
chí thành, khẩn thiết, miệng xƣng Phật hiệu, thân lễ chân Phật,
cứ thành kính nhƣ Phật đang hiện diện là đƣợc!
* Chẳng thể lễ bái xá lợi, chẳng thể thân cận  tùng lâm, cũng
chẳng sai sót gì! Cốt sao trông thấy tƣợng Phật liền tƣởng nhƣ
đức Phật thật; thấy kinh Phật, lời Tổ, tƣởng Phật, tƣởng Tổ đang
đích thân giảng dạy cho mình. Chí cung chí kính, chẳng lƣời
nhác, chẳng xao nhãng chính là suốt ngày thấy Phật, suốt ngày
thân cận chƣ Phật, Bồ Tát, Tổ Sƣ, thiện tri thức, xá lợi, tùng lâm.
* Tri thức gởi vải trắng cho biết đến năm Nhâm Ngọ sẽ in. Ðiều
này tội lỗi đến mức cùng cực, bởi lẽ đã sử dụng danh hiệu Bồ
Tát một cách điếm nhục, khinh nhờn đến mức cùng tột. Huống
hồ có nơi còn khinh miệt ngồi lên nữa. Năm Quang Tự thứ 20, tôi
từng thấy một lần ở Phổ Ðà, năm 21 ở chùa A Dục Vƣơng lại
thấy. Tôi lấy làm lạ, than cùng điện chủ điện Xá Lợi. Ông bảo:
“Ðấy là phong tục của vùng Ninh Ba”. Tôi tự thẹn mình không có
sức để ngăn ngừa thói tục xấu ác này. Nếu nhƣ Quang tôi là chủ
nhân một phƣơng ắt sẽ đến nơi thanh minh lỗi hại của việc này,
ngõ hầu những ngƣời có tín tâm chỉ đƣợc lợi ích, chẳng mắc
điều tổn hại ấy!                                                                            160
* Hết thảy tôn kinh Ðại Thừa Hiển Mật đức Ðại Giác
Thế Tôn đã nói đều dạy lý vốn duy tâm, đạo hợp Thật Tƣớng,
khắp ba đời chẳng đổi, cả mƣời cõi cùng tuân trở về nguồn, quay
lại cội, là đạo sƣ của chƣ Phật, dẹp khổ, ban vui, là cha lành của
chúng sanh. Nếu có thể dốc cạn lòng thành kính lễ tụng, thọ trì
thì mình lẫn ngƣời đều đƣợc lợi ích thù thắng, u - hiển cùng gội
ân quang, nhƣ Nhƣ Ý châu, nhƣ vô tận tạng, lấy chẳng hết, dùng
chẳng tận, tùy tâm hiện lƣợng, sở nguyện đều mãn.
Kinh Lăng Nghiêm nói: Cầu vợ đƣợc vợ, cầu con đƣợc con, cầu
tam muội đƣợc tam muội, cầu trƣờng thọ đƣợc trƣờng thọ. Nhƣ
thế cho đến cầu Niết Bàn đƣợc đại Niết Bàn. Ðại Niết Bàn là cứu
cánh quả đức. Nếu luận về Nhƣ Lai bổn tâm thì thật sự toàn bộ
Khế Kinh chỉ là để giảng điều này. Nhƣng chúng sanh chí nguyện
hẹp kém, chƣa chí thành đến mức cùng cực nên chẳng thể khế
nhập ngay đƣợc.
Vì thế, phải thuận theo tâm hạnh của họ để thỏa mãn sở nguyện
của mỗi ngƣời. Nếu là bậc túc căn sâu dày sẽ liền đốn minh tự
tánh, triệt chứng duy tâm, phá phiền hoặc, tiến ngay vào Bồ Ðề,
viên mãn phƣớc huệ, mau thành Giác Ðạo để đạt đƣợc toàn bộ
lợi ích của Khế Kinh, phô trọn bản hoài của Nhƣ Lai.
Ví nhƣ một trận mƣa thấm khắp, cỏ cây đều tƣơi tốt. Cây lớn sẽ
chọc mây, che lấp ánh mặt trời; cây nhỏ sẽ dài phân, tăng tấc.
Ðạo vốn duy nhất Chân Nhƣ, nhƣng tùy tâm mà lợi ích có thù
thắng, có kém hèn. Nhƣng nếu đã trồng thiện căn, rốt rồi cũng
thành Phật quả. Dù chẳng thể đạt đƣợc ngay lợi ích lớn lao,
cũng tạo thành nhân độ thoát. Nghe tiếng cái trống bôi thuốc độc,
xa gần đều chết. Ăn chút kim cang, quyết định chẳng tiêu. Trƣớc
phải dùng dục để lôi kéo, sau mới hòng chứng nhập Phật trí, là
nói về lẽ này đấy!                                                                            161
* Kinh dạy thân ngƣời khó đƣợc, Phật pháp khó
nghe. Nếu chẳng phải xƣa đã có nhân duyên, tựa đề các bộ kinh
Phật còn chẳng đƣợc nghe, huống là đƣợc thọ trì, đọc tụng hòng
tu nhân chứng quả? Nhƣng những điều Nhƣ Lai đã dạy chỉ dựa
trên lý vốn sẵn có trong tâm của chúng sanh. Ngoài tâm tánh ra,
trọn không có một pháp nào để đƣợc!
Nhƣng chúng sanh còn mê, chẳng thể liễu tri, huyễn sanh vọng
tƣởng  chấp trƣớc đối với Chân Nhƣ Thật Tƣớng. Do vậy khởi
tham - sân - si, tạo giết - trộm - dâm, mê trí huệ trở thành phiền
não, khiến thƣờng trụ trở thành sanh diệt, trải bao kiếp số nhiều
nhƣ bụi trần, chẳng thể trở lại. May gặp các kinh điển Ðại Thừa
hiển mật do đức Nhƣ Lai nói, mới biết hạt châu vẫn còn nguyên
nơi vạt áo, Phật tánh vẫn thƣờng còn, kẻ hèn hạ làm khách đó
vốn là con ông trƣởng giả. Trời ngƣời sáu nẻo nào phải chỗ
mình ở, Thật Báo, Tịch Quang chính là quê nhà sẵn có.
Nghĩ lại từ vô thỉ đến nay, chƣa đƣợc nghe Phật nói, tuy sẵn đủ
tâm tánh này, vô cớ phải chịu luân hồi oan uổng! Thật đúng là
đau đớn ứa lệ, tiếng [gào khóc] vang động cõi đại thiên! Lòng tan
từng mảnh, ruột đứt từng tấc. Ân ấy, đức ấy hơn hẳn thiên địa,
cha mẹ cả trăm ngàn vạn lần. Thân nghiền, xƣơng nát chẳng
báo đáp nổi!
* Tăng, tục ngày nay giở xem kinh Phật chẳng mảy may cung
kính, bao thứ khinh nhờn khó thể thuật tỉ mỉ từng thứ. Thói quen
lƣu hành đã lâu, coi đó là thuận mắt, những điều khinh nhờn khó
bề kể hết. Coi pháp ngôn của Nhƣ Lai nhƣ giấy cũ rách nát.
Ðừng nói chi kẻ chẳng biết chỉ thú của kinh, trọn không lợi ích;
ngay cả những ngƣời hiểu sâu xa nghĩa kinh cũng chỉ là tam
muội nơi cửa miệng, tỏa sáng ngoài mặt. Nhƣ kẻ đói kể chuyện
ăn, nhƣ ngƣời nghèo đếm của báu, tuy có công nghiên cứu,
tuyệt không đƣợc ích lợi thực chứng! Huống hồ cái tội khinh                                                                             162
nhờn đã ngập cả trời, nên thời hạn thọ khổ phải đâu
chỉ hết kiếp! Tuy là nhân lành, chiêu cảm ngƣợc thành ác quả.
Dù có thành cái nhân đắc độ cho tƣơng lai, khó tránh nhiều kiếp
chịu đủ các khổ.
Ðem tấm lòng ôm ấp nỗi thảm thƣơng này dám bày tỏ những
điều rơm rác để mong ai nấy vâng làm theo lời Phật, ngõ hầu chỉ
đƣợc lợi ích, chẳng bị tổn hại.
* Kinh Kim Cang nói: “Nhƣ chỗ nào có kinh điển thì chỗ đó có
Phật, là đệ tử phải tôn trọng”. Lại nói: “Nơi nơi chốn chốn nếu có
kinh này thì hết thảy thế gian, trời, ngƣời, a-tu-la đều phải nên
cúng dƣờng. Phải biết chỗ ấy chính là tháp [Phật], đều phải nên
cung kính, làm lễ, nhiễu quanh, dùng các thứ hoa hƣơng để rải
lên trên ấy. Vì sao phải nhƣ vậy? Là vì hết thảy chƣ Phật và
pháp Vô Thƣợng Chánh Ðẳng Chánh Giác của chƣ Phật đều
xuất phát từ kinh này”.
Trong các kinh Ðại Thừa, kinh nào cũng dạy ngƣời phải cung
kính kinh điển, chứ chẳng phải một kinh. Ấy là vì các kinh Ðại
Thừa là mẹ của chƣ Phật, là thầy của Bồ Tát, là Pháp Thân xá-
lợi của tam thế Nhƣ Lai, là thuyền từ thoát khổ của cửu giới
chúng sanh. Dù cao đăng Phật Quả, vẫn còn phải kính pháp
hòng báo đền nguồn gốc, chẳng quên đại ân. Vì thế, kinh Niết
Bàn nói: “Pháp là mẹ Phật, Phật từ Pháp sanh”.
Tam thế Nhƣ Lai đều cúng dƣờng Pháp; huống hồ phàm phu sát
đất khắp thân toàn là nghiệp lực, nhƣ tội nặng bị tù, giam cầm
trong ngục lâu ngày, không do đâu đƣợc thoát ra! May sao nhờ
thiện căn túc thế đƣợc thấy kinh Phật, nhƣ tù đƣợc lệnh phóng
thích, mừng rỡ vô ngần, bèn dùng ngay pháp ấy để mãi mãi từ
biệt tam giới, vĩnh viễn xuất ly lao ngục sanh tử, tự chứng tam
thân, về thẳng quê nhà Niết Bàn. Nhờ nghe kinh mà đƣợc vô                                                                             163
biên lợi ích, há nên do tri kiến cuồng vọng bèn chẳng
kiêng nể, khác nào tục nho đọc sách, tự tiện khinh nhờn ƣ?
* Ðạo của Thánh Hiền chỉ là Thành và Minh. Thánh, Cuồng phân
biệt chỉ trong một niệm. Chẳng niệm Thánh ắt biến thành Cuồng,
khắc chế cuồng niệm bèn trở thành Thánh. Lẽ nắm  - buông,
đƣợc - mất ví nhƣ thuyền chèo ngƣợc nƣớc, chẳng tiến phải lùi,
chẳng thể chẳng gắng sức chống chọi mà lơi lỏng chút nào.
Phải biết rằng một chữ Thành, thánh lẫn phàm cùng có một Chân
Tâm hệt nhƣ nhau chẳng khác. Một chữ Minh phải luôn giữ gìn,
xem xét, là cách để đạt đạo từ phàm chí thánh. Nhƣng trong địa
vị phàm phu, trong những sinh hoạt hằng ngày, muôn cảnh chen
nhau, chẳng nhận biết, soi xét một cảnh sẽ khó tránh trong chớp
mắt liền nẩy sanh những tình tƣởng trái lẽ. Tình tƣởng ấy đã
sanh, chân tâm liền bị vƣớng mối tệ, nên hành vi nào cũng đều
chẳng trung chánh. Nếu chẳng vận dụng một phen công phu thiết
thực trừ khử cho sạch thì ngày càng tệ hơn, chẳng biết đã tuột
xuống tận đáy. Uổng cho cái tâm làm thánh sẵn có vĩnh viễn bị
chìm đắm trong loài phàm ngu, chẳng đáng buồn sao?
Nhƣng làm thánh chẳng khó, chỉ là tự làm sáng cái đức sáng của
chính mình. Muốn làm sáng cái đức sáng thì phải từ “trí tri cách
vật” mà hạ thủ. Nếu chẳng thể cực lực hiểu rõ, trừ khử những
mối nhân dục (tham muốn của con ngƣời) thì Chân Tri sẵn có
quyết khó thể hiển hiện triệt để đƣợc!
* Dù là trai chủ thỉnh pháp hay các Sƣ tác pháp, ai nấy đều kiệt
thành tận kính thì lợi ích chẳng thể nói đƣợc nổi. Nhƣ Xuân về,
khắp cõi đất thảo mộc đều nảy nở xanh tƣơi; trăng sáng vằng
vặc giữa trời, sông ngòi thảy đều hiện bóng. Do đó, ngƣời đƣơng
sống sẽ nghiệp tiêu, trí rạng, chƣớng tận, phƣớc tăng, tiên vong                                                                             164
đều sanh Tịnh Ðộ, sở cầu không gì chẳng đƣợc toại
ý, lại khiến cho oán thân bao kiếp, pháp giới hàm thức cùng gội
Tam Bảo ân quang, cùng kết duyên chủng Bồ Ðề.
Nếu trai chủ chẳng thành kính thì công đức xuất tiền chỉ hữu
hạn, nhƣng tội lỗi khinh mạn thì vô cùng. Tăng chúng chẳng
thành kính, chính là thổi ống bễ thành kinh, gõ chày cối thành lễ
(7), lúc Tam Bảo, long thiên giáng lâm cứ xử sự lỗ mãng, luộm
thuộm, tắc trách, mà không đến nỗi núi tội ngất ngƣởng, biển
phƣớc cạn khô, sống mắc tai vạ, chết bị đày phạt há có đƣợc
chăng?
(1)   Bổn địa: là ứng với Tích Hóa mà nói. Bổn là gốc, là Pháp
Thân, Tích là sự hóa hiện để hóa độ chúng sanh. Bổn địa là nói
đến sự chứng ngộ thật sự của Ngài.
(2)   Truy tiến: làm các công đức hồi hƣớng cho ngƣời đã quá
vãng.  
(3)   Ðảnh thánh, nhãn sanh thiên... là thuyết cho rằng khi ngƣời
chết, căn cứ vào chỗ nào còn giữ đƣợc hơi nóng, sẽ biết đƣợc
ngƣời chết sanh về đâu, nhƣ đảnh đầu nóng sẽ sanh vào cõi
thánh, nóng ở mắt sanh vào cõi trời v.v...
(4)   Phóng thí: đánh trung tiện (break wind, passing gas).
(5)   Tự bình: những bức thƣ họa, hoặc chữ viết trên quạt, trên
giấy, trên lụa để phô diễn tài thƣ pháp.
(6)   Tọa hạ: tiếng tôn xƣng ngƣời khác, thƣờng dùng để gọi
ngƣời có chức vụ.
(7)   Ý nói: đọc kinh không thành kính chỉ có âm điệu nhịp nhàng
nhƣ thợ rèn thổi bễ, đánh các pháp khí làm lễ nhƣng chẳng                                                                             165
thành kính khác gì ngƣời giã gạo, cứ nhịp chày đều
đều cho xong việc.
Xem Tiếp: Phần 4
ẤN QUANG ÐẠI SƢ GIA NGÔN LỤC
PHẦN 4
VI. KHUYÊN CHÚ TRỌNG NHÂN QUẢ
1. Luận về lý nhân quả

      * Một pháp nhân quả là bƣớc đầu nhập môn của Phật giáo,
mà cũng là kế sách trọng yếu để thành ý, chánh tâm, tu thân, tề
gia, trị quốc, bình thiên hạ.                                                                            166
       * Nhân quả là phƣơng tiện lớn lao để thánh
nhân thế gian và xuất thế gian bình trị thiên hạ, độ thoát chúng
sanh. Nếu nay chẳng lấy nhân quả làm nhiệm vụ cấp bách để
cứu quốc, cứu dân, dù ông có trí xảo, đạo đức cao siêu đến mấy
cũng chỉ uổng công, vì chẳng giảng đạo lý cũng nhƣ không có
vƣơng pháp vậy!
      * Thánh hiền đời xƣa không ai là chẳng dè dặt, kinh sợ để tự
rèn luyện, gìn giữ mình, nên tâm họ chẳng bị cảnh phú quý, cùng
- thông xoay chuyển. Cùng thì riêng thân mình thiện, đạt thì khiến
cả thiên hạ cùng thiện. Ngƣời đời nay, trong những hành vi, lời lẽ
thƣờng ngày, trong vòng cha con, anh em, chồng vợ, mỗi mỗi
đều chẳng thể nhƣ pháp.
Ngƣời có chút tri kiến bèn lầm mong làm bậc cao nhân lỗi lạc:
chƣa có quyền bèn mặc tình cuồng vọng luận nghị mù quáng để
mê hoặc ngƣời đời; đã có quyền vị rồi, bèn tỏ rõ cái ác niệm bạo
ngƣợc tàn nƣớc hại dân. Gốc bệnh là do lúc ban đầu, cha mẹ,
thầy bạn chƣa từng dùng đạo nhân quả báo ứng để chỉ bảo cho
kẻ ấy. Nếu biết nhân quả báo ứng đôi chút thì khởi tâm động
niệm ắt đều kiêng dè, chẳng dám phóng túng. Dù chẳng mong
thành thánh, thành hiền, muốn chẳng kinh sợ, dè  dặt nhƣ vào
vực sâu, nhƣ đi trên băng mỏng cũng không thể đƣợc!
Vì thế, những ngƣời thiên tƣ cao phải bắt đầu từ những điều
thiển cận, chớ cho là điều lành nhỏ nên không làm, chớ cho là
điều ác nhỏ rồi cứ làm. Cứ vun bồi từng ít một sẽ thành tánh. Ví
nhƣ cây nhỏ đã mọc thẳng, đến lớn muốn uốn cong chẳng thể
đƣợc!
      * Y gia trị bệnh, gấp thì trị ngọn, thong thả bèn trị gốc. Ví nhƣ
có ngƣời yết hầu ủng thũng, ăn uống khó nuốt xuống, thở ra khó                                                                             167
khăn; trƣớc hết phải tiêu trừ chứng thũng, sau đấy
mới căn cứ trên gốc bệnh, điều hòa tạng phủ. Nếu chẳng trừ
trƣớc chứng thũng ấy, ngƣời đó lăn đùng ra chết, dù có lƣơng
phƣơng, diệu dƣợc trị đƣợc gốc bệnh cũng chẳng làm gì đƣợc!
Nhân quả chính là diệu pháp để tiêu trừ chứng bệnh thũng ngày
nay; nhƣng một pháp Nhân Quả trị đƣợc bệnh cả gốc lẫn ngọn.
Kẻ sơ cơ nƣơng vào đó sẽ cải ác tu thiện. Ngƣời thông hiểu
nƣơng theo đó có thể đoạn Hoặc chứng Chân, thông trên, suốt
dƣới. Dù là hàng phàm phu sát đất cho đến bậc viên mãn Phật
Quả đều chẳng thể lìa pháp này, chứ nhân quả nào phải chỉ trị
đƣợc mỗi bệnh ngọn ƣ!
      * Một pháp nhân quả chính là lò luyện lớn để nung phàm,
luyện thánh của thánh nhân thế gian, xuất thế gian. Nếu lúc ban
đầu chẳng hiểu rõ nhân quả thì sau khi đã thông Tông, thông
Giáo, sẽ rất có thể bị lầm lẫn nhân quả. Ðã lầm nhân quả, đọa
lạc ắt sẽ có phần, không cách gì siêu thăng. Ðừng bảo lý này
thiển cận rồi coi thƣờng! Đức Nhƣ Lai đã thành Chánh Giác,
chúng sanh đọa lạc tam đồ đều chẳng ra ngoài nhân quả.
Nhƣng tâm lƣợng của phàm phu hẹp nhỏ, có lẽ không lãnh hội
đƣợc những lẽ nhân quả lớn lao đã nói trong kinh. Hãy dùng
những điều thiển cận trong thế gian để làm phƣơng tiện lãnh hội
những điều thù thắng ấy. Chẳng hạn nhƣ đối với bài Âm Chất
Văn của Văn Xƣơng Ðế Quân, sách Thái Thƣợng Cảm Ứng
v.v... xin hãy đọc kỹ, suy xét tƣờng tận, làm theo, thì ai nấy đều
là lƣơng dân, ngƣời ngƣời đều có thể liễu sanh thoát tử.
Năm trƣớc, Quang từng khắc An Sĩ Toàn Thƣ, bản khắc để tại
Dƣơng Châu, các nơi phát hành kinh đều có. Cuốn sách này thật
là một tác phẩm trọng yếu để làm cõi đời hiền dịu, dân chúng
hiền lành vậy!                                                                            168
      * Xƣa kia, ông Bạch Cƣ Dị hỏi Ô Sào thiền sƣ: “Thế nào là
đại ý Phật pháp?” Ngài Ô Sào đáp: “Ðừng làm các điều ác, vâng
giữ các điều lành”. Họ Bạch bảo: “Hai câu nói ấy, đứa bé lên ba
cũng nói đƣợc”. Ngài Ô Sào bảo: “Tuy đứa bé lên ba nói đƣợc,
ông già tám mƣơi làm chẳng xong”. Phải biết lời nói này chính là
lời nói thiết yếu quan trọng nhất đối với hết thảy ngƣời học Phật.
      * Hai câu “Ðừng làm các điều ác...” chính  là đại ý của hết
thảy kinh giới của tam thế chƣ Phật, chớ nên coi thƣờng. Ngay
trong mỗi ý niệm vừa phát khởi của chính mình hãy nên suy xét
kỹ, nếu có thể suy xét đến cùng cực thì còn có thể thành đƣợc
Phật đạo, huống hồ là các quả vị phƣớc huệ khác nữa!
      * Dạy giới thiện (ngũ giới, thập thiện) để mở ra con đƣờng
trời - ngƣời phẳng phiu. Hiển nhân quả để bày phƣơng cách xu
tỵ (xu là hƣớng tới, tỵ là tránh né) tốt lành. Nói đến giới thiện thì:
a. Ngũ Giới:
Chẳng sát là Nhân; chẳng trộm là Nghĩa; chẳng tà dâm là Lễ;
chẳng nói dối là Tín; chẳng uống rƣợu thì tâm thƣờng trong trẻo,
chí ngƣng lặng, thần chẳng hôn mê nên lý hiện, tức là Trí. Trì
trọn Ngũ Giới chẳng đọa tam đồ, luôn sanh trong nhân đạo. Năm
điều này nói chung tƣơng đồng với Ngũ Thƣờng (nhân, nghĩa, lễ,
trí, tín) của đạo Nho, nhƣng Nho giáo chỉ dạy tận nghĩa, nhà Phật
còn giảng thêm về quả báo.
b. Thập Thiện:                                                                            169
Chẳng giết, chẳng trộm, chẳng tà dâm, gọi là ba
nghiệp nơi thân. Chẳng nói dối, chẳng nói thêu dệt, chẳng nói
lƣỡi đôi chiều, chẳng ác khẩu, gọi là bốn nghiệp nơi miệng.
Chẳng tham, chẳng sân, chẳng si, gọi là ba nghiệp nơi ý. Những
điều này xét về đại thể, giống nhƣ Ngũ Giới, nhƣng ngũ giới đa
phần nói về thân, Thập Thiện đa phần nói về Tâm. Ðầy đủ Thập
Thiện quyết định sanh vào thiên giới.
Còn nhƣ các điều dạy về luân lý nhƣ hiếu với cha, từ với con,
kính anh, nhƣờng em... đều là muốn cho ai nấy đều tận bổn
phận không khiếm khuyết, thuận theo tƣớng thế gian để tu pháp
xuất thế. Nếu nói rộng về nhân quả báo ứng thì hào ly chẳng sai.
Ðọa địa ngục hay sanh thiên chỉ do tự mình chiêu cảm lấy. Ðức
Nhƣ Lai tâm bi chí cực, muốn cho chúng sanh vĩnh viễn lìa khổ,
chỉ hƣởng các điều vui; vì thế, Ngài chẳng tiếc hiện tƣớng lƣỡi
rộng dài, vì các chúng sanh tận tình tuyên diễn.
Kinh dạy: “Bồ Tát úy nhân, chúng sanh úy quả” (Bồ Tát sợ nhân,
chúng sanh sợ quả). Nếu chẳng muốn nhận quả khổ, phải đoạn
trừ nhân ác trƣớc đã! Nếu luôn tu thiện nhân, ắt quyết định
thƣờng hƣởng quả vui! Ðây chính là điều kinh Thƣ bảo: “Tác
thiện giáng tƣờng, tác bất thiện giáng ƣơng”(Làm thiện thì điều
tốt lành giáng xuống. Làm điều bất thiện, tai ƣơng giáng xuống),
kinh Dịch nói: “Tích thiện tất hữu dƣ khánh, tích bất thiện tất hữu
dƣ ƣơng” (Tích thiện sự vui có thừa, chất chứa điều chẳng lành
tai ƣơng ắt có thừa!)
Nhƣng nhà Nho chỉ xét trên đời hiện tại và con cháu mà nói, còn
Phật xét trên cả ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai để luận. Phàm tình
chẳng hiểu thấu, bèn cho là chuyện mông lung, chẳng chịu tin
nhận. Nhƣ kẻ mù cãi lời ngƣời dẫn đƣờng, tự đi vào đƣờng
hiểm, muốn chẳng rớt hầm, sụp hố có đƣợc hay chăng?                                                                            170
* Ðề xƣớng nhân quả báo ứng là kính vâng theo tâm
của thiên địa và thánh nhân để thành tựu tánh đức nhân nghĩa,
đạo đức của ngƣời đời. Nếu coi nhân quả báo ứng là chuyện mờ
mịt, không cách nào khảo sát thì chẳng những trái nghịch với tâm
của thiên địa, thánh nhân, mà thần thức của mình còn vĩnh viễn
đọa trong ác thú.
Nếu bậc trí giả chẳng phấn phát ý chí ƣu thời mẫn thế để tu đức
mình, kẻ hạ ngu không kiêng sợ gì, dám làm điều ác thì quyền
dƣỡng dục của thiên địa, thánh nhân bị chèn ép chẳng đƣợc phô
bày, cái lý sẵn có trong tâm tánh của chúng ta ẩn mất chẳng
hiện. Họa hại ấy chẳng thể nói đƣợc!
Nhƣng lời lẽ của thánh nhân thế gian giản lƣợc, lại chỉ bàn về
đời này và con cháu, còn những việc trƣớc khi sanh ra, sau khi
chết đi, từ vô thỉ đến nay theo nhân duyên tội phƣớc luân hồi lục
đạo... đều chƣa luận rõ. Vì thế, những kẻ thấy biết nông cạn tuy
hằng ngày đọc những lời dạy về nhân quả báo ứng của thánh
hiền vẫn chẳng tin nhân quả báo ứng.
Ðại giáo của đức Nhƣ Lai hiển dƣơng cái huyền diệu nơi tâm
tánh của chúng ta, sự tinh vi của nhân quả ba đời. Tất cả những
thuyết “cách trí” (trí tri cách vật), thành, chánh (chánh danh), “tu
thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, và pháp “đoạn hoặc chứng
chân, liễu sanh thoát tử”, không pháp nào chẳng giảng đủ. Vì
thế, những điều Phật dạy về cha hiền, con hiếu, anh nhƣờng, em
kính, chồng xƣớng vợ theo, chủ nhân từ, tớ trung thành, ai nấy
tận hết bổn phận có khác gì những điều thánh nhân thế gian đã
dạy đâu!
Thế nhƣng, với mỗi một điều, Phật lại khai thị nhân trƣớc quả
sau; đấy chính là điều thánh nhân thế gian chẳng thể làm nổi! Lời
dạy “tận nghĩa, dốc trọn bổn phận” chỉ để dạy hàng thƣợng trí,
chẳng thể chế ngự kẻ hạ ngu. Nếu biết nhân quả báo ứng thì
thiện - ác, họa - phƣớc rành rành nhƣ nhìn vào lửa; ai lại không
tìm tốt, tránh xấu, tránh họa đạt phƣớc cơ chứ?                                                                            171
* Kinh Hoa Nghiêm nói: “Hết thảy chúng sanh đều có đủ trí huệ,
đức tƣớng của Nhƣ Lai. Nhƣng vì vọng tƣởng, chấp trƣớc, nên
chẳng thể chứng đắc”. Do vậy, biết rằng: trí huệ, đức tƣớng
chúng sanh và Phật đều đồng, tức là Tánh Ðức. Do có vọng
tƣởng chấp trƣớc và lìa vọng tƣởng chấp trƣớc nên chúng sanh
và Phật khác nhau. Ðấy chính là Tu Ðức.
Tu Ðức có thuận, có nghịch. Thuận tánh mà tu thì càng tu càng
gần. Tu đến cùng cực thì triệt chứng, chứng đƣợc rằng hoàn
toàn không có gì để đắc cả. Còn nghịch tánh mà tu thì càng tu
càng xa. Tu đến cùng cực sẽ vĩnh viễn đọa trong ác đạo, đọa
nhƣng không có gì mất cả. Hiểu đƣợc điều này thì ngu cũng là
hiền, hiền cũng là ngu, thọ cũng là yểu, yểu cũng là thọ, [những
mong ƣớc] phú quý, cháu con đầy đàn đều diệt sạch. Mỗi mỗi
đều làm chủ đƣợc thì có cái để nƣơng dựa cũng coi nhƣ không,
không có cái để nhờ cậy cũng coi nhƣ có. Nhƣ núi cao chẳng thể
trèo lên đƣợc, ngƣời ta không có cách nào, thì chẳng ngại gì đục
núi, xếp bậc, sẽ cũng có thể lên đến chót núi.
Con ngƣời xƣa nay chẳng biết nghĩa lý “do tâm tạo nghiệp, do
tâm chuyển nghiệp”, không ít kẻ đại thông minh, học vấn rộng,
giở trò bỏ sạch công lao ngƣời trƣớc khiến di hại bao kiếp. Nếu
chẳng tu đức, dù thân đạt tới mức giàu trùm thiên hạ, quý nhƣ
thiên tử, địa vị đứng đầu các quan, thanh thế hiển hách nhƣ
hàng tể phụ, há chẳng có kẻ bị tru lục, diệt môn ngay trong đời
này đó ƣ? Những điều mình đạt đƣợc đó đều chẳng thể nƣơng
dựa đƣợc!
Ông Viên Liễu Phàm hiểu rõ điều này nên đối với những thứ
đƣợc hƣởng thọ đều bảo chẳng phải do “tiền nhân” (nhân đời
trƣớc) định sẵn. “Tiền nhân”, tục gọi là “thiên” (trời). “Thiên định
thắng nhân” tức là tiền nhân khó chuyển. Nhân định cũng thắng
thiên, tức là tu trì để chuyển nghiệp thì tiền nhân chẳng đủ để ỷ
lại. Vì thế, lấy nhân hiện tại làm nhân để tiêu trừ tiền nhân. Nếu                                                                             172
buông lung làm xằng, kết quả sẽ ngƣợc lại. Hiểu rõ
điều này thì muốn ngu lại thành hiền, muốn tầm thƣờng lại trở
thành siêu quần, bạt tụy, đều là do giữ lòng tu đức, tùy thời khéo
dạy mà thôi!
* Mạng là gì? Chính là quả báo của những điều đã làm trong đời
trƣớc. Lại nữa, điều đạt đƣợc do làm đúng theo đạo nghĩa mới
gọi là Mạng. Những điều đạt đƣợc do làm chẳng đúng theo đạo
nghĩa thì chẳng đƣợc gọi là Mạng. Vì sau khi đạt đƣợc nhƣ vậy,
cái khổ đời sau chẳng cam nghe thấy! Nhƣ trộm cƣớp tiền tài
của ngƣời, tạm thời dƣờng nhƣ giàu sƣớng, một khi quan phủ
biết ra, ắt sẽ đầu một nơi, thân một nẻo! Lẽ nào với cái tạm thời
đƣợc vui, lại cho là Mạng?
Lực là gì? Chính là nói đến những cái mình làm ngay trong đời
này. Có hai thứ làm: Một là tài trí chuyên dùng mƣu mẹo biến trá.
Hai là chuyên dùng sự khắc kỷ, giữ lễ để tu trì.
Cái Mạng do Liệt Tử nói đó hỗn độn,  chẳng phân; cái Lực của
ông ta nói đó đa phần chú trọng về mƣu mẹo, biến trá. Bởi thế,
đến nỗi Lực bị Mạng đè ép, không cách gì đáp đƣợc [câu chất
vấn sau]: “Khổng Tử bị khốn đốn nơi biên giới nƣớc Trần, nƣớc
Sái; Ðiền Hằng lấy nƣớc Tề làm tánh mạng, còn có thể nói là biết
Mạng ƣ?”
Khổng Tử chẳng gặp vua hiền, chẳng thể khiến thiên hạ trị an,
chính là do nghiệp lực của muôn dân tạo ra nhƣ vậy, can dự chi
đến Khổng Tử! Nhan Uyên yểu thọ, nghĩa lý cũng giống nhƣ thế.
Ðiền Hằng có đƣợc nƣớc Tề là do soán đoạt mà có, sao gọi là
Mạng đƣợc? Tuy hiện thời còn là vua Tề, nhƣng khi hơi thở
không hít vào đƣợc, liền thành tù nhân trong A Tỳ địa ngục. Ðấy
mới là Mạng, vì ông ta dạy ngƣời chẳng tu đạo nghĩa, mặc tình
cƣớp đoạt!                                                                              173
Bởi thế, tôi mới nói: “Liệt Tử chẳng biết Mạng. Chẳng
thấy Mạnh Tử luận về Mạng đó ƣ? Ắt phải cùng lý tận tánh đến
mức nhƣ thế mới gọi là Chân Mạng. Còn những điều chẳng do
đạo nghĩa mà đƣợc, chẳng do đạo nghĩa mà mất, đều chẳng
đƣợc gọi là Mạng. Liệt Tử luận về Lực đa phần thuộc về tài trí
mƣu mẹo, biến trá, [là những điều] hiền thánh chẳng thèm nói
tới. Những điều hiền thánh nói đến đều là khắc kỷ, giữ lễ để tu
trì”.
“Thánh mất niệm thành cuồng, cuồng khắc chế niệm thành
thánh. Nhà tích thiện ắt sự vui có thừa, nhà tích điều chẳng lành,
ắt tai ƣơng có thừa. Làm lành trăm điều tốt lành giáng. Làm điều
chẳng lành trăm tai ƣơng trút xuống. Gỗ phải theo dây mực mới
ngay, vua phải nghe lời can gián mới thành thánh. Làm điều
nhân ái sẽ dẫn tới phƣớc lành; dù gặp phải cảnh hung hiểm trái
nghịch cũng chỉ nhẹ nhàng. Năm năm mƣơi tuổi, biết bốn mƣơi
chín năm trƣớc là sai trái; muốn giảm bớt lỗi nhƣng vẫn chƣa
thể. Muốn mình đƣợc sống thêm năm mƣời năm nữa để học
Dịch hầu không mắc lỗi lớn. Ai cũng có thể là Nghiêu, Thuấn,
kiêng giữ những điều chẳng nên nhìn, kinh sợ những điều chẳng
nên nghe, đều là Lực”. Đấy là những lời của Nho gia.
Còn nhà Phật bảo hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều sẽ
thành Phật để họ sám hối nghiệp cũ, cải ác tu thiện, mong họ
đừng làm các điều ác, vâng làm các việc lành. Dùng Giới giữ
thân, chẳng làm điều phi lễ. Dùng Định nhiếp tâm, chẳng khởi
vọng niệm. Dùng Huệ đoạn Hoặc, thấy rõ bổn tánh. Đấy đều là
những Lực để khắc kỷ, giữ lễ tu trì. Hành theo đó, còn thành
đƣợc Phật đạo, huống hồ là những quả vị thấp hơn ƣ! Vì thế,
kinh Lăng Nghiêm nói: Cầu vợ đƣợc vợ, cầu con đƣợc con, cầu
trƣờng thọ đƣợc trƣờng thọ, cầu tam muội đƣợc tam muội. Nhƣ
thế cho đến cầu Đại Niết Bàn đắc Đại Niết Bàn. Đại Niết Bàn là
Phật Quả rốt ráo. [Những điều ấy] đều là do tu trì theo đúng giáo
pháp mà đƣợc, Lực ấy rất lớn, chẳng thể hạn lƣợng.                                                                            174
Ông Viên Liễu Phàm gặp Khổng tiên sinh bói các
việc trƣớc sau, việc nào cũng đều ứng nghiệm cả, bèn cho là
nhất định phải có Mạng (số mạng). Sau ông đƣợc Vân Cốc thiền
sƣ khai thị, tận lực tu trì. Những điều ông Khổng đã đoán, chẳng
trúng một mảy. Ông Viên Liễu Phàm là bậc hiền giả, dù có nhầm
lẫn làm điều gì chẳng đúng, lời đoán của họ Khổng cũng chẳng
linh. Do đấy, ta biết rằng hiền thánh dạy đời chỉ trọng tu trì. Đức
Nhƣ Lai dạy ngƣời cũng giống nhƣ thế. Vì  thế, tất cả những
pháp môn Đại, Tiểu, Quyền, Thật Phật đã nói, không pháp nào
chẳng khiến chúng sanh trừ khử Hoặc nghiệp huyễn vọng, triệt
chứng Phật Tánh sẵn có. Vì thế, đời có kẻ cực ngu, cực độn, tu
trì lâu ngày liền đạt đƣợc đại trí huệ, đại biện tài.
Liệt Tử quy hết thảy mọi sự về Mạng (số mạng), gây trở ngại chí
mong thành thánh, thành hiền của con ngƣời, cổ vũ cái tâm gian
ác, soán đoạt của ngƣời. Dƣới là phải chịu họa hại vô cùng, trên
là làm nhụt khí lực quyết chí, ƣu thời mẫn thế đến nỗi chung thân
chẳng dự vào bậc Thánh Hiền, cứ làm một ngƣời hèn hạ, thấp
kém. Thiên sách ấy hoàn toàn vô ích cho đời, nào có giá trị gì
đáng để nghiên cứu đâu!
* Tôi thƣờng nói: “Ngƣời trong cõi đời, trong mƣời phần, chết
trực tiếp bởi sắc dục có đến bốn phần, chết gián tiếp vì sắc dục
cũng đến bốn phần”. Do sắc dục mà hao tổn, phải chịu đựng các
thứ cảm xúc khác mà chết. Đối với những cái chết ấy, không ai là
chẳng đổ cho số mạng, biết đâu rằng: Do tham sắc mà chết đều
chẳng phải là số mạng!
Mạng vốn nằm trong tay những ai giữ lòng thanh tịnh, trinh khiết,
chẳng tham dục sự. Tham sắc là tự giết hại mình, bảo là số
mạng sao đƣợc? Còn những ngƣời do mạng mà sanh, mạng tận
bèn chết, bất quá chỉ một hai phần thôi. Do vậy, biết rằng quá
nửa thiên hạ là hạng uổng tử. Cái họa này rất dữ dội, có một
không hai trong đời. Chẳng đáng buồn ƣ? Chẳng đáng sợ ƣ?                                                                            175
Nhƣng chẳng tốn một đồng, chẳng nhọc tí ti sức lực
gì, lại có thể trở thành bậc đức hạnh chí cao, hƣởng an lạc chí
đại, con cháu quý hiển, phƣớc ấm vô cùng, đời sau đƣợc quyến
thuộc trinh lƣơng, chỉ có mỗi việc giới dâm mà thôi! Đối với việc
hành dâm chánh đáng giữa vợ chồng, ở phần trƣớc tôi đã thuật
qua về lẽ lợi hại, ở đây chẳng nhắc lại nữa. Còn đối với việc tà
dâm, vô liêm, vô sỉ, cực uế, cực ác, chính là dùng cái thân ngƣời
để làm chuyện súc sanh.
Vì thế, nếu gái đẹp đến cợt nhả, đàn bà yêu kiều đến xin chung
chạ, quân tử coi đó là mối họa ƣơng không gì lớn bằng, bèn cự
tuyệt, thì phƣớc chiếu rạng ngời, hoàng thiên ban ân. Kẻ tiểu
nhân coi đó là hạnh phúc không chi lớn bằng bèn thâu nạp, ắt
đến nỗi bị tai tinh xung chiếu, quỷ thần tru lục. Quân tử do họa
đƣợc phƣớc, tiểu nhân do họa càng thêm họa. Vì thế, mới nói:
“Họa phƣớc vô môn, duy nhân tự chiêu” (họa phƣớc không cửa,
do ngƣời tự chuốc lấy). Nếu đối với cái ải nữ sắc, ngƣời đời
chẳng thể triệt để thấu hiểu thì [những sự nhƣ] đức hạnh chí cao,
an lạc chí đại, con cháu quý hiển, phƣớc ấm vô cùng, đời sau
quyến thuộc trinh thục sẽ bị mất hết trong giây phút hoan lạc mà
thôi! Xót thay!
* Hai chữ Nhân Quả gồm trọn hết thảy các pháp thế gian, xuất
thế gian không sót chút gì. Những thánh nhân thế gian không ai
chẳng dạy nhân quả, nhƣng do chuyên chú nơi đạo xử thế,
muốn cho nó đƣợc kế tục, đƣợc lƣu truyền, nên chỉ hạn cuộc
trong đời này và thế hệ trƣớc, thế hệ sau, chẳng nói những
chuyện trƣớc lúc sanh ra, sau khi chết đi và những điều kể từ vô
thỉ trƣớc đến tận đời vị lai sau.
Kẻ hậu học chẳng thể hiểu rõ ý của thánh hiền bèn cho rằng
ngƣời, vật có sự sống là do khí thiên địa ngẫu nhiên thấm vào
hình hài mà thôi. Còn đến lúc chết, hình hài mục nát, hồn cũng
phiêu tán, không nhân, không quả, trở thành Đoạn Diệt Kiến. Đã                                                                             176
cô phụ thánh giáo, còn mê muội tánh linh của mình
đến cùng cực vậy! Khổng Tử khen ngợi sách Chu Dịch, ngay câu
đầu tiên, Ngài nói: “Nhà tích thiện ắt sự vui có thừa, nhà tích bất
thiện ắt tai ƣơng có thừa”...
Điều thứ hai là nếu chẳng dùng quá khứ, hiện tại, vị lai để luận
thì những điều trời giáng xuống phần nhiều mâu thuẫn với những
ngôn luận của thánh nhân, chánh lệnh của bậc minh quân (chẳng
hạn nhƣ gian đảng vinh hoa, trung thần bị tru lục; Nhan Uyên
chết yểu, Đạo Chích trƣờng thọ...) Nếu biết tiền nhân, hậu quả
thì [sẽ hiểu] những sự cùng, thông, đƣợc, mất đều do tự mình
chuốc lấy. Dù có gặp nghịch cảnh cũng chẳng oán, chẳng hận,
chỉ thẹn đức mình kém cỏi, chẳng thấy lỗi lầm của trời - ngƣời,
vui biết mạng trời, không lúc nào là chẳng tự tại tiêu dao!
* Hết thảy những kẻ chẳng hiểu thấu tột cùng lý sâu và những kẻ
vô tri, vô thức, nếu nghe nói đến lý tánh, phần nhiều đề cao
thánh cảnh, nhƣng vẫn tự làm phàm phu, chẳng chịu mạnh mẽ
gắng sức khởi đầu từ Sự. Nếu bảo cho họ biết nhân quả ba đời
quá khứ, hiện tại, vị lai dù thiện hay ác đều có quả báo, ắt sẽ sợ
ác quả mà đoạn ác nhân, tu thiện nhân hòng đƣợc thiện quả.
Thiện - ác chẳng ngoài ba nơi thân - khẩu - ý. Đã biết nhân quả
sẽ tự phòng giữ thân - miệng, rửa lòng gột ý. Dù ở trong nhà tối,
phòng kín, vẫn luôn nhƣ đang ở trƣớc Thiên Đế, chẳng dám
móng khởi chút bỉ ổi nào, kẻo vƣớng phải tội vạ! Đấy chính là đại
pháp “trí tri, thành ý, chánh tâm, tu thân” để dạy khắp hết thảy
chúng sanh thƣợng, trung, hạ căn của đức Đại Giác Thế Tôn
vậy. Tuy thế, kẻ cuồng sợ bị câu thúc, bảo đó là chấp tƣớng; kẻ
ngu nhằm tránh khỏi bị xấu mặt, bèn bảo đó là chuyện vu vơ. Trừ
hai hạng ngƣời này ra, có ai lại chẳng tin nhận?
Vì thế, ngài Mộng Đông nói: “Ngƣời khéo luận về tâm tánh sẽ
chẳng thể bỏ đƣợc nhân quả. Ngƣời tin sâu nhân quả cuối cùng                                                                             177
ắt sẽ thấy cực rõ tâm tánh ấy”. Lý này lẽ tất nhiên
phải nhƣ thế. Phải biết rằng: Từ địa vị phàm phu cho đến khi viên
chứng Phật Quả, đều chẳng ra ngoài nhân quả. Kẻ nào chẳng tin
nhân quả đều là hạng tự đánh mất thiện nhân, thiện quả, luôn
tạo ác nhân, luôn chịu ác quả, trải kiếp số nhƣ bụi trần, luân
chuyển trong ác đạo, chƣa thể xuất ly vậy. Buồn thay!
* Phật pháp lƣu thông lợi ích vô lƣợng. Ngƣời căn tánh sâu sẽ
lãnh hội sâu xa, liền minh tâm kiến tánh, đoạn Hoặc chứng chân.
Ngƣời căn cơ cạn lãnh hội nông cạn, cũng vẫn có thể cải ác tu
thiện, cầu thành Thánh, thành Hiền. Ấy là do đức Nhƣ Lai lập
giáo, dù chánh yếu là vì xuất thế, nhƣng Phật tùy thuận cơ nghi,
khuyến dụ lần lần, nên đối với đạo xử thế, Ngài cũng phát huy
trọn khắp, không bỏ sót mảy may điều thiện nào! Gặp cha nói về
từ, gặp con nói về hiếu, anh nhƣờng em kính, chồng xƣớng vợ
theo, phàm hết thảy những đạo luân thƣờng hằng ngày Phật dạy
trọn chẳng khác gì với những điều Nho Giáo đã nói.
Chỗ khác biệt là: đối với mỗi điều ấy, Phật đều chỉ rõ nhân quả
ba đời, thiện ác báo ứng, khiến cho ngƣời nghe đem lòng kính
sợ, chẳng dám vƣợt phạm. Dù ở trong nhà tối, phòng kín,
thƣờng nhƣ đang ở trƣớc Phật, trời. Đến cả hạng tham tàn bạo
ác, trọn chẳng có tín tâm, nghe mãi chuyện nhân quả báo ứng,
tâm cũng thầm bị chế phục, cũng chẳng đến nỗi mƣời phần khốc
liệt. Cứ xem thời Liệt Quốc, có tục giết ngƣời tuẫn táng (1), giết
càng nhiều càng vinh hiển; đến khi Phật giáo truyền sang Đông
mới chấm dứt đƣợc thói tục ấy. Điều ấy đủ để chứng minh vậy.
* Đời này đã cách thời Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Võ cả ba
bốn ngàn năm, tình đời, lòng ngƣời so với thời cổ khác xa lắm.
Nhƣng do biết lục đạo luân hồi theo nghiệp thăng trầm, sanh lên
trời, đọa xuống địa ngục, ngƣời biến ra thú, thú sanh làm ngƣời,                                                                             178
nên dù là hạng cùng hung cực ác ƣơng ngạnh khó
giáo hóa, trọn không có tín tâm cũng bị pháp này (nhân quả)
chiết phục.
Dù coi rẻ mạng ngƣời, trong tâm vẫn tiềm ẩn một chút sợ hãi ảnh
hƣởng của nhân quả, nên chƣa đến nỗi thập phần bạo ác. Nhƣ
các chƣ hầu thời Liệt Quốc đem bầy tôi, ái thiếp và bá tánh bắt
giết tuẫn táng theo cả mấy chục, mấy trăm ngƣời, chẳng coi đó
là sai; trái lại, còn cho là vẻ vang nữa. Chẳng phải là do pháp
nhân quả mà thời này hiền hơn đời trƣớc ƣ? Châu Văn Vƣơng
ân trạch thấm đến cả xƣơng khô, thế mà chỉ mấy trăm năm,
phong tục giết ngƣời tuẫn táng đã lan khắp thiên hạ. Dù Lão,
Trang, Khổng, Mạnh cùng ra đời, đều chẳng thể vãn hồi đƣợc
phong tục suy đồi ấy.
Từ sau khi Phật pháp truyền sang phƣơng Đông, lý sanh tử, luân
hồi, nhân quả báo ứng sáng rực trong đời. Chẳng kể chƣ hầu,
ngay cả kẻ hƣớng mặt về Nam xƣng “trẫm” (2) cũng chẳng dám
làm. Dù có kẻ dám làm, cũng chẳng dám coi giết nhiều ngƣời là
vinh. Nếu không có pháp này, chỉ có cái thuyết “chánh tâm, thành
ý” để đề cao lòng trung thứ, dốc lòng đùm bọc nhau hòng dứt trừ
tục tuẫn táng trong toàn dân, tôi e rằng càng nhọc nhằn khuyên
lơn, thói tệ ấy càng thêm thịnh hành!
Huống nữa, Nho gia chỉ biết trị đạo, chẳng rõ tự tâm, muốn bài
xích Phật pháp, cƣỡng lập môn đình, đều nói là chết rồi là vĩnh
viễn diệt, không còn đời sau nữa. Nếu không có lẽ sanh tử, luân
hồi, nhân quả báo ứng của đức Nhƣ Lai thấm nhuần khắp tâm
ngƣời thì những ngƣời đời sau đƣợc chánh mạng, chết tốt lành
càng hiếm hơn nữa.
Đấy chỉ là pháp thiển cận nhất trong Phật pháp, còn có thể trừ
khử đƣợc thói tàn sát, huống hồ là đại pháp viên đốn chí cực sâu
xa. Thế trí phàm tình há thể suy lƣờng đƣợc một phần trong vạn
phần lợi ích của Phật pháp ƣ?                                                                            179
* Phật pháp rộng lớn, không gì chẳng bao gồm, không điều nhỏ
nhặt nào lại chẳng nêu lên. Chẳng những thế, nƣơng theo đó
còn có thể đoạn Hoặc chứng chân, liễu sanh thoát tử. Đấy chính
là đạo “cách vật trí tri, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, minh
minh đức, chỉ ƣ chí thiện” (3).
Nếu thấu hiểu Phật pháp thì sự chỉ một nửa, nhƣng công gấp
bội. Bởi lẽ, những điều thánh nhân thế gian nói chỉ nhằm dạy con
ngƣời tận hết bổn phận; chỉ bậc thƣợng trí mới có thể tuân hành
triệt để. Nếu là hạng căn tánh trung, hạ, sẽ chểnh mảng, coi
thƣờng. Phật pháp dạy rõ các sự lý: nhân quả báo ứng, sanh tử,
luân hồi, và hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều có thể
thành Phật... Nếu là bậc thƣợng trí ắt sẽ chứng đƣợc Phật tánh
sẵn có; kẻ hạ ngu sẽ chẳng dám phóng túng, càn rỡ vì sợ cái
khổ đời vị lai; tất nhiên sẽ cải ác hƣớng thiện, mong thành thánh,
thành hiền. Dù ở trong nhà tối, phòng kín, vẫn thƣờng nhƣ đang
đối trƣớc Phật, trời.
Đức Nhƣ Lai dùng Tam Quy, Ngũ  Giới, Thập Thiện để nhiếp
khắp chúng nam nữ tại gia. Tu Ngũ Giới, Thập Thiện sẽ thắng
đƣợc thói tàn sát, bỏ thói kiêu bạc, trở thành thuần hòa, vĩnh viễn
thoát khỏi ác báo tam đồ, thƣờng hƣởng sự khoái lạc cõi nhân
thiên. Pháp nông cạn nhất còn nhƣ thế, huống hồ là pháp sâu
nhất.
Vì thế biết rằng: Nhƣ Lai là đại sƣ ba cõi, là cha lành của bốn
loài, là thánh nhân của các thánh, là trời của các trời. Bởi thế,
vua thánh tôi hiền, bậc thông đạt, không ai chẳng tuân lời Phật
dạy tu tập, hộ trì, lƣu thông. Trong hết thảy pháp lấy tâm làm gốc,
chỉ có mỗi Phật pháp là phát minh đến chỗ rốt ráo!
2. Giảng nhân quả về mặt Sự                                                                            180
      * Kinh dạy: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. Bồ Tát sợ
gặp phải ác quả, nên đã đoạn sẵn ác nhân từ trƣớc. Do vậy, tội
chƣớng tiêu diệt, công đức viên mãn thẳng đến khi thành Phật
mới thôi. Chúng sanh thƣờng tạo ác nhân, muốn tránh ác quả,
nhƣ ở trƣớc mặt trời lại muốn không có bóng, cứ nhọc nhằn rảo
chạy.
Thƣờng thấy kẻ ngu vô tri vừa làm chút điều lành liền mong đại
phƣớc. Vừa gặp phải nghịch cảnh bèn bảo làm lành mắc họa,
chẳng có nhân quả. Từ đó, cái tâm ban đầu lùi sụt, đâm ra báng
bổ Phật pháp. Họ nào biết đến ý chỉ huyền áo “báo thông ba đời,
chuyển biến do tâm”.
Hiện đời làm thiện, làm ác; hiện đời đƣợc phƣớc, mắc họa thì gọi
là “hiện báo”. Đời này làm thiện, làm ác, đời sau đƣợc phƣớc,
mắc họa, gọi là “sanh báo”. Đời này làm thiện, làm ác, đến đời
thứ ba, hoặc đời thứ tƣ, hoặc mƣời, trăm, vạn đời sau, hoặc đến
vô lƣợng vô biên kiếp sau mới hƣởng phƣớc, mắc họa, thì gọi là
“hậu báo”. Hậu báo sớm, chậm bất định. Phàm những nghiệp đã
tạo, tuyệt đối không có nghiệp nào lại chẳng có báo.
“Chuyển biến do tâm” là ví nhƣ có ngƣời đã tạo ác nghiệp, sẽ
phải đọa mãi trong địa ngục, chịu khổ cả bao kiếp dài lâu. Về
sau, kẻ ấy sanh lòng hổ thẹn lớn lao, phát đại Bồ Đề tâm, cải ác
tu thiện, tụng kinh, niệm Phật, tự hành, dạy ngƣời hành, cầu
sanh Tây Phƣơng. Do đó, trong đời này, ngƣời ấy bị ngƣời khinh
miệt hoặc mắc chút bệnh khổ, hoặc phải tạm chịu bần cùng, và
gặp hết thảy chuyện chẳng nhƣ ý. Nghiệp vĩnh viễn đọa địa ngục
chịu khổ bao kiếp dài lâu mình đã tạo trƣớc đây liền bị tiêu diệt,
lại còn có thể liễu sanh thoát tử, siêu phàm nhập thánh. Đấy là
điều Kim Cang đã nói: “Nếu có ngƣời thọ trì kinh này bị ngƣời
khác khinh rẻ, ngƣời ấy do tội nghiệp đời trƣớc đáng đọa ác đạo,
nhƣng vì đời này bị ngƣời đời khinh rẻ nên tội nghiệp đời trƣớc
liền bị tiêu diệt, sẽ đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề”. Đây
chính là ý nghĩa “chuyển biến do tâm”.                                                                            181
* Thế nhân gặp chút tai ƣơng nếu chẳng oán trời, cũng sẽ trách
ngƣời, tuyệt chẳng có ý tƣởng trả nợ, sanh tâm sám hối tội lỗi.
Phải biết rằng: trồng dƣa đƣợc dƣa, gieo đậu đƣợc đậu, trồng cỏ
dại chẳng thể đƣợc thóc tốt, gieo gai góc chớ mong lúa nếp.
Kẻ làm ác đƣợc phƣớc [thì phƣớc đó] là do  đời trƣớc đã vun
trồng sâu dày. Nếu chẳng làm ác thì phƣớc càng thêm lớn. Ví
nhƣ con em nhà giàu, ăn xài phung phí, xem vàng nhƣ đất,
chẳng bị đói lạnh ngay là do vàng nhiều. Nhƣng nếu ngày ngày
cứ nhƣ thế, dù giàu đến trăm vạn, chẳng đƣợc mấy năm cũng
nhà tan, ngƣời chết, mất sạch sành sanh cả!
Làm lành mắc họa là do tội nghiệp đời trƣớc sâu nặng. Nếu
chẳng làm lành thì tai ƣơng càng lớn. Ví nhƣ ngƣời phạm trọng
tội, chƣa bị hành hình, lập đƣợc công nhỏ; do công nhỏ nên
chẳng thể xá tội hoàn toàn, nhƣng đã đổi nặng thành nhẹ. Nếu
có thể ngày ngày lập công, do công càng nhiều, càng lớn nên tội
hết, đƣợc xá miễn; lại đƣợc phong hầu bái tƣớng, tƣớc vị thế tập
dài lâu cùng vận nƣớc.
* Phải biết rằng: điều trái nghịch xảy đến cứ thuận theo, mới gọi
là “lạc thiên” (vui theo mệnh trời). Tu thân, gieo đức mới gọi là
“tận tánh”. Đời có kẻ ngu chẳng biết thiện ác đời trƣớc, chỉ thấy
việc tốt xấu trƣớc mắt, thấy làm thiện mắc họa bèn bảo “thiện
chẳng đáng làm”; thấy làm ác đƣợc phƣớc bèn bảo “ác chẳng
đáng kiêng”.
Chẳng biết thiện báo, ác báo chẳng phải là chuyện một sớm, một
chiều, phải xảy ra dần dần. Ví nhƣ ba thƣớc băng, nào có phải là
trời lạnh một buổi đã kết thành đƣợc đâu! Trăm sông đầy ắp
nƣớc nào có phải là trời nóng một ngày mà tan đƣợc băng đâu!
Chớ nên oán trời, trách ngƣời, cũng đừng do dự, hối hận, lui sụt;                                                                             182
hãy nên học theo cách tu thân của ông Du Tịnh Ý,
cách lập mạng của ông Viên Liễu Phàm!
* Nhƣ Lai giảng kinh: báo thông tam thế. Phàm ngƣời sanh con,
đại lƣợc có bốn nhân.
Thứ nhất là hiện báo, nghĩa là đời này làm thiện, làm ác, đời này
hƣởng phƣớc, mắc họa. Nhƣ sĩ tử rèn luyện văn chƣơng khoa
cử, thân đời này đƣợc công danh. Điều này mắt phàm thấy
đƣợc.
Thứ hai là sanh báo, nghĩa là đời này làm thiện, làm ác, đời sau
hƣởng phƣớc, mắc tội. Nhƣ tổ phụ có trọng học vấn thì con cháu
mới hiển đạt. Điều này mắt phàm chẳng thấy đƣợc, nhƣng thiên
nhãn còn thấy đƣợc (đời này, đời sau đều là ƣớc theo ngƣời đó
mà nói. Đối với việc cách đời, dùng thí dụ để giảng cho dễ hiểu,
nên tạm dùng tổ phụ và con cháu. Đừng chấp vào văn mà đánh
mất ý nghĩa. Mong lắm thay!)
Thứ ba là hậu báo, tức là đời này làm thiện, làm ác, đến đời thứ
ba, hoặc bốn, năm, sáu, bảy đời, hoặc mƣời, trăm, ngàn, vạn
đời, hoặc một, mƣời, trăm, ngàn, vạn kiếp, hoặc là đến vô lƣợng
vô biên hằng hà sa kiếp mới hƣởng báo thiện hay ác. Nhƣ
vƣơng nghiệp nhà Thƣơng, nhà Châu xƣa kia, thật sự bắt nguồn
từ việc ông Tắc giúp vua Thuấn, ông Khiết phò vua Vũ.
Nếu là chuyện trong ba bốn đời, thiên nhãn còn thấy đƣợc. Nhƣ
trong trăm ngàn vạn kiếp, thiên nhãn chẳng thấy đƣợc, nhƣng
đạo nhãn của Thanh Văn còn thấy đƣợc. Nếu là vô lƣợng vô
biên hằng hà sa kiếp, chỉ ngũ nhãn viên minh của đức Nhƣ Lai
mới thấy đƣợc nổi. Đấy còn chƣa phải là cảnh giới thuộc đạo
nhãn của Thanh Văn, huống hồ là thiên nhãn, nhục nhãn ƣ!                                                                            183
Hiểu ý nghĩa của ba thứ báo này thì chuyện làm
thiện đƣợc phƣớc, làm ác tai họa giáng xuống, thánh ngôn vốn
chẳng sai lầm. Phú quý, bần tiện, thọ, yểu, cùng, thông, mạng
trời chƣa từng thiên vị. Cảnh duyên xảy đến nhƣ hình ảnh hiện
trong gƣơng. Kẻ trí chỉ quan tâm đến vẻ mặt ở ngoài gƣơng,
ngƣời ngu uổng công ghét hình ảnh hiện trong gƣơng. Chuyện
trái nghịch xảy đến, vui chịu mới gọi là “lạc thiên”. Chẳng oán,
chẳng trách mới gọi là “lập mạng”.
Con có bốn nhân là: một là báo ân, hai là báo oán, ba là trả nợ,
bốn là đòi nợ.
- Báo ân nghĩa là trong đời trƣớc cha mẹ có ân với con, nên nó
sanh vào làm con để hầu hạ, phụng dƣỡng, sống thờ, chết chôn.
Cho nên [cha mẹ còn] sống ắt chăm sóc, chết thì cúng giỗ. Thậm
chí tận tụy với vua, lợi dân, tên lƣu sử xanh, khiến thiên hạ hậu
thế kính ngƣời ấy bèn kính luôn cả cha mẹ, nhƣ các ông: Tăng
Lỗ Công, Trần Trung Tú, Vƣơng Quy Linh, Sử Đại Thành (Ba
ông Tăng, Trần, Vƣơng đều là bậc danh thần đời Tống. Ông Sử
là trạng nguyên đầu đời Thanh. Bốn ông cùng tin Phật, nhƣng chỉ
mình Trung Tú ngộ nhập rất sâu. Do ông đời trƣớc là cao tăng
nên tuy hƣởng phú quý vẫn không quên mất bổn nhân). Con
hiếu, cháu hiền trong đời này đều thuộc về loại này.
- Báo oán là đời trƣớc cha mẹ từng phụ ân con, nên sanh vào
làm con để báo oán. Lúc nhỏ ngỗ nghịch khiến cha mẹ buồn
lòng, lớn lên gây họa khiến cha mẹ mắc vạ lây. Lúc sống, ngọt
bùi chẳng đoái, chết đi phải mang nhục dƣới chín suối. Lại còn
những trƣờng hợp quá đáng, con có quyền vị trọng yếu, mƣu
chuyện phi pháp, diệt môn tàn tộc, quật mồ cuốc mả, khiến cho
thiên hạ hậu thế thóa mạ kẻ ấy, chửi lây cả cha mẹ. Nhƣ Vƣơng
Mãng, Tào Tháo, Đổng Trác, Tần Cối v.v... chính là loại này.
- Đền nợ là đời trƣớc mắc nợ cha mẹ tiền tài. Nay để đền trả bèn
sanh làm con. Nếu  nợ nhiều sẽ làm con suốt đời. Nếu nợ ít,                                                                             184
chẳng thể tránh khỏi giữa chừng chết trƣớc cha mẹ,
nhƣ: học sắp thành tài bèn mất mạng, buôn bán vừa có lời bèn
chôn thân.
- Đòi nợ là đời trƣớc cha mẹ nợ tiền tài của con, nó bèn sanh
vào làm con để đòi nợ. Nợ nhỏ sẽ uổng công biếu xén mời thầy,
dạm vàng hỏi vợ, dạy răn các thứ, những mong con đƣợc thành
ngƣời, nhƣng đại hạn chợt xảy đến, hốt nhiên chết mất. Nợ lớn
thì chẳng chỉ có thế, ắt còn phải mất nghiệp phá sản, nhà bại,
ngƣời mất mới thôi!
* Chuyện trong thiên hạ đều có nhân duyên. Sự đƣợc thành hay
chăng đều do nhân duyên xui khiến. Dù có ngƣời làm cho việc
thành hay hoại, nhƣng quyền lực thật sự là do nhân trƣớc của ta,
chứ chẳng do duyên hiện tại. Hiểu điều này sẽ vui biết mạng trời,
chẳng oán, chẳng trách, làm đúng theo địa vị, chẳng chứng nhập
mà tự đạt đƣợc vậy.  
* Với chuyện vun bồi đức hãy nên thƣờng xem các sách [Thái
Thƣợng] Cảm Ứng, Âm Chất Văn. Với điều thiện sẽ tùy phận, tùy
lực mà hành. Với điều ác bỏ đi nhƣ oán, nhƣ thù. Ông Viên Liễu
Phàm hành pháp Công Quá Cách, nhận chân đƣợc bản thể,
chẳng mảy may buông lung. Vì thế, mạng vốn chẳng thọ bèn
đƣợc thọ, không có đại công danh bèn đƣợc đại công danh,
không con bèn có con.
* Phàm những ngƣời hiển đạt nhờ khoa cử, tổ phụ họ đều có đại
âm đức. Nếu không âm đức, cậy sức ngƣời để hiển đạt, sau này
ắt gặp đại họa; chẳng thà không hiển đạt còn hơn. Xem khắp
cuộc đời của các bậc đại thánh, đại hiền xƣa nay, đều là do tổ                                                                             185
phụ họ tích đức mà nên. Đại phú, đại quý cũng thế.
Con cháu họ sanh ra phú quý, chỉ biết hƣởng phƣớc tạo nghiệp,
quên mất công tổ phụ một phen vun bồi. Do đấy, chôn vùi tổ đức,
phá sạch tổ nghiệp, cam chịu bần tiện. Đấy chính là bệnh chung
của kẻ phú quý trong cả cõi đời.
Đời đời giữ cho đức tổ tiên vĩnh cửu chẳng bị chìm lấp chỉ có mỗi
nhà họ Phạm ở Tô Châu là bậc nhất từ xƣa đến nay. Từ Văn
Chánh Công (Phạm Trọng Yêm) đời Tống đến nay, đến mãi cuối
đời Thanh, hơn tám trăm năm, gia phong chẳng suy sụp, con
cháu nối tiếp nhau đỗ đạt, đáng gọi là nhà thƣ hƣơng đời đời.
Nhà họ Bành ở Trƣờng Châu từ đầu đời Thanh đến nay, khoa
bảng đứng đầu thiên hạ. Nhà ấy có bốn năm ngƣời đỗ trạng
nguyên, có lúc cả mấy anh em cùng làm quan cực phẩm. Nhƣng
họ đời đời sùng phụng Phật pháp, dù là trạng nguyên, tể tƣớng
vẫn hằng ngày đọc Cảm Ứng, Âm Chất Văn để noi gƣơng thành
ý, chánh tâm, tận tụy thờ vua, giúp dân.
Gã cuồng sanh kia bảo những sách ấy là để hạng ông già, bà cả
quê mùa tin theo, chẳng những chẳng biết vì sao thánh hiền là
thánh hiền, mà còn chẳng biết vì sao ngƣời là ngƣời nữa kia!
Sống làm thây đi, thịt chạy, chết mục nát cùng cỏ cây. Lại còn ác
nghiệp khó tiêu, vĩnh viễn trầm luân trong ác đạo. Gã ấy cứ vênh
váo tự coi mình là hạng học rộng thông suốt, đến nỗi đời sau,
những danh từ “thiên, địa, phụ mẫu” còn chẳng đƣợc nghe đến,
còn đáng gọi là hay ƣ?
* Đừng có nói nhà mình nghèo hèn, chẳng thể rộng chứa âm
đức, hành phƣơng tiện lớn. Phải biết rằng ba nghiệp thân - khẩu
- ý đều ác thì không có gì ác bằng, còn nếu ba nghiệp thân  -
khẩu - ý đều thiện thì không có chi thiện bằng!
Nhƣ có ngƣời ngu chẳng tin nhân quả, chẳng tin tội phƣớc báo
ứng ngông nghênh, ngạo ngƣợc, dựa theo những điều đã nói                                                                             186
trong An Sĩ Toàn Thƣ mà giảng cho kẻ ấy, khiến hắn
bắt đầu tin nhân quả dần dần, kế đó thâm tín Phật pháp, cuối
cùng là vãng sanh Tây Phƣơng, liễu sanh thoát tử. [Độ] một
ngƣời nhƣ thế, công đức vô lƣợng vô biên, huống hồ là nhiều
ngƣời.
Nhƣng mình phải nghiêm túc không tỳ vết mới cảm ứng đƣợc
ngƣời chung quanh. Vợ con mình tin nhận, vâng làm, ngƣời khác
trông thấy mới ham thích, nào  phải đâu là tiền của nhiều [mới
tích chứa âm đức đƣợc]!
* Ngƣời sanh trong thế gian có đƣợc cái vốn để thành đức, thành
tài, dựng công lập nghiệp, và có đƣợc một tài, một nghề để nuôi
thân cùng gia đình, đều là do sức chủ trì của văn tự mà đƣợc
thành tựu. Chữ nghĩa là của cải quý báu nhất trong thế gian, có
thể khiến kẻ phàm thành thánh, biến kẻ ngu thành trí, kẻ nghèo
hèn thành phú quý, kẻ tật bệnh trở thành khỏe mạnh. Đạo mạch
thánh hiền đƣợc lƣu truyền thiên cổ; kinh doanh nuôi sống mình
và gia đình, để của cải lại cho con cháu, không việc gì chẳng nhờ
vào sức lực chữ nghĩa. Nếu trên đời không có chữ nghĩa, hết
thảy sự lý sẽ đều chẳng thành lập đƣợc, con ngƣời cũng chẳng
khác gì cầm thú!
Chữ nghĩa đã có công sức nhƣ thế, tất nhiên phải nên trân trọng,
yêu tiếc. Trộm thấy ngƣời đời nay mặc tình khinh thƣờng, làm
nhơ chữ nghĩa, đúng là xem của cải chí bảo khác gì phân, đất!
Đời này chẳng bị giảm phƣớc, tổn thọ; đời sau cũng bị vô tri, vô
thức đấy thôi! Chẳng những chớ xem thƣờng, làm ô uế, vứt bỏ
những văn tự hữu hình; đối với những văn tự vô hình cũng
chẳng đƣợc khinh thƣờng, ô uế, vứt bỏ! Nếu chẳng ra sức thực
hành “hiếu, đễ, trung, tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ” là đã mất cả tám
chữ. Tám chữ ấy đã mất thì sống là loài cầm thú mặc áo, đội mũ;
chết sẽ đọa tam đồ, ác đạo!                                                                            187
3. Giải thích về nguyên do của kiếp vận

      * Sự khổ trong Sa Bà chẳng thể nói hết nổi. Dù trong thời
thanh bình, hằng ngày vẫn gặp cảnh khổ não. Vì chúng sanh quá
quen với những cảnh khổ ấy đã lâu nên chẳng biết đó thôi! Gần
đây, Trung Quốc trải mấy phen binh lửa, đã là khổ chẳng thể nói.
Ngoài thế giới, các nƣớc đại chiến đã ba năm, ngƣời chết gần cả
ngàn vạn, khai mào nạn binh kiếp bậc nhất. Tình hình chiến tranh
vẫn còn mạnh mẽ, chẳng biết mức độ khốc liệt sẽ đến đâu, lặng
im suy nghĩ, thật đáng kinh sợ vậy.
Nguyên nhân là do nƣớc nọ tận lực muốn chiếm đoạt, tàn diệt
nƣớc kia, nhƣng cũng do ác nghiệp xƣa kia của chúng sanh
chiêu cảm ác báo nên mới đến nỗi cực kỳ tàn khốc nhƣ thế. Nay
nghe lời này, phải nên mạnh mẽ phát  khởi đại tâm cầu mau
đƣợc vãng sanh. Sau đấy sẽ trở vào Sa Bà phổ độ hết thảy.
Kinh dạy: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả”. Bồ Tát sợ chiêu
lấy ác quả nên đoạn ác nhân. Ác nhân đoạn rồi, ác quả không
sanh từ đâu đƣợc. Chúng sanh đua nhau tạo nhân ác, ắt phải
lãnh quả ác. Đến lúc lãnh quả ác, chẳng biết tự sám hối nghiệp
trƣớc, lại còn tạo thêm ác pháp để chống chọi lại. Thế nên oan
oan tƣơng báo trải bao kiếp không ngừng. Chẳng đáng buồn
sao? Chẳng đáng sợ sao? Biết vậy rồi, chẳng lẽ nào lại chẳng
cầu sanh Tây Phƣơng!
      * Cõi đời đang lúc Kiếp Trƣợc, cƣớp bóc, giết hại lẫn nhau.
Chẳng có lá bùa hộ thân, sẽ khó tránh khỏi họa hại đƣợc mãi! Lá
bùa hộ thân vừa nói đó cũng chỉ là chí thành lễ niệm A Di Đà
Phật mà thôi! Quán Âm Đại Sĩ thệ nguyện rộng  sâu, nghe tiếng
cứu khổ, có cảm ắt ứng. Ngoài việc sáng chiều lễ Phật ra, hãy                                                                             188
nên lễ niệm thêm Đại Sĩ sẽ ngầm đƣợc gia hộ, tự có
thể chuyển họa thành phƣớc, biến tai nạn thành điều tốt lành mà
mình chẳng biết.

* Thiên hạ loạn lạc, kẻ thất phu phải có trách nhiệm. Ngƣời
ngƣời ai nấy dốc tấm lòng thành, ai nấy tận lực hiếu đễ, ai nấy
làm điều từ thiện: giúp đỡ kẻ cô quả, cứu kẻ hoạn nạn, thƣơng
xót kẻ nghèo, kiêng giết, phóng sanh, ăn chay, niệm Phật. Ngƣời
có thiện cảm, trời ắt ứng phƣớc, tự nhiên mƣa thuận, gió hòa,
dân yên, vật mạnh, quyết chẳng đến nỗi trời thƣờng giáng các tai
nạn: lụt, hạn, ôn dịch, châu chấu, gió lốc, động đất... Thời tiết
điều hòa, đƣợc mùa, nhân dân lạc nghiệp.
Lại thêm từ hòa, nhân nhƣợng tập quen thành thói. Dù có một
hai kẻ ngu độn cũng sẽ biến thành hiền lành. Nếu thƣơng xót kẻ
quân tử trên xà nhà (4), hắn sẽ dứt tuyệt vĩnh viễn thói trộm cắp;
chu cấp cho đứa rình rập nhà kín, từ đấy về sau nó sẽ trở thành
ngƣời lành. Cổ nhân dùng nhân từ để cai trị, chân thành yêu dân,
nên còn cảm hóa đƣợc cả dị loại. Các điềm lành nhƣ: hổ chẳng
vào nơi trấn nhậm, cá sấu bỏ đi nơi khác... chép trong sử sách,
nào phải chỉ có một chuyện! Nếu ai nấy thật sự có thể dùng lòng
từ thiện cảm động nhau, quyết chẳng đến nỗi thƣờng có các tai
họa: thổ phỉ, đao binh, giầy xéo, cƣớp bóc!
* Nên biết rằng: Phật pháp lấy nhân quả báo ứng làm đạo
nguyên thủy trọng yếu để hạ học thƣợng đạt. Nay kẻ trên không
giữ đạo, kẻ dƣới chẳng tuân phép tắc, tàn hại lẫn nhau, lấy giết
chóc làm vui, chỉ cốt sao thỏa thích ý mình, chẳng đoái quốc gia
còn mất, dân tình thống khổ. Đấy đều là do chẳng biết nhân quả
báo ứng mà nên nỗi. Tôi thƣờng nói: “Nhân quả là phƣơng tiện
lớn lao để thánh nhân thế gian và xuất thế gian bình trị thiên hạ,
độ thoát chúng sanh”. Trong lúc này chẳng đề xƣớng sự lý nhân                                                                             189
quả báo ứng, sanh tử, luân hồi, mà muốn thiên hạ
thái bình, nhân dân an lạc, dù Phật, Tổ, thánh hiền cùng ra đời
cũng chẳng biết làm sao đƣợc!
* Thế đạo suy sụp, lòng ngƣời bạc bẽo là do Nho Gia chẳng biết
đạo là ở chỗ cung kính thực hành, cứ một bề đuổi theo cái ngọn.
Phàm đối với những nghĩa lý nhƣ khắc kỷ, giữ lễ, ngăn lòng tà,
giữ lòng thành, họ chẳng cần biết đến, cứ lo thuộc lòng từ
chƣơng hòng làm cái vốn để tấn thủ trong đời, khiến cho cái đạo
khen ngợi, giáo hóa, dƣỡng dục của thánh nhân trở thành ngón
nghề để thâu đoạt danh lợi. Đấy thật là báng nhục thánh hiền,
trái nghịch thiên địa đến cùng cực!
Do vậy, ngƣời đọc sách tâm chẳng hiểu nghĩa sách, thân chẳng
hành theo đạo lý dạy trong sách. Ngƣời làm văn cứ phô diễn đạo
lý hiếu đễ, trung tín, lễ nghĩa, liêm sỉ chẳng sót mảy may, nhƣng
xét đến ý nghĩ, việc làm, tuyệt chẳng có chút mảy may nào liên
quan đến những điều ấy cả. Khác nào con hát diễn tuồng, khổ,
sƣớng, vui, buồn, cố làm giống nhƣ thật, chứ thật sự ra những
tâm trạng ấy chẳng mảy may liên quan gì đến chính mình cả!
Thói tệ ấy đã nẩy, dần dà biến thành quá mức.
Ngƣời có thiên tƣ quen thói cuồng vọng, thẹn phải theo vết
Nghiêu, Thuấn, Châu, Khổng, bèn muốn tiến lên, rốt cuộc phế bỏ
kinh điển thánh hiền, sùng thƣợng Âu hóa. Một ngƣời đề xƣớng,
trăm kẻ hùa theo, trở thành phong trào đến nỗi những kẻ tiểu
nhân hèn kém tầm thƣờng muốn thỏa ý niệm mặc sức phóng
túng không kiêng kỵ của mình bèn vội vã đề xƣớng dẹp bỏ
cƣơng thƣờng đạo lý gây trở ngại cho họ,  muốn gấp rút thực
hành chủ trƣơng tệ hại gây hại lớn lao cho quần chúng, khiến
dân không có pháp gì để an, đến nỗi thiên tai, nhân họa liên tục
giáng xuống. Vận nƣớc nguy ngập, dân không lẽ sống. Ví nhƣ đi
đêm bỏ đuốc, vƣợt biển bỏ thuyền, lại mong chẳng bị té ngã,
chìm đắm, há có đƣợc chăng?                                                                              190
* Gần đây thế đạo nhân tâm suy sụp, chìm đắm đến cùng cực.
Thiên tai, nhân họa liên tục giáng xuống. Ngƣời biết lo cho đời,
biết các nghiệp quả ấy đều do sát hại khởi lên. Nếu đã biết vật
còn chẳng nên giết, quyết chẳng lẽ nào giết ngƣời. Do vậy, ai
nấy ôm lòng từ thiện, nâng đỡ lẫn nhau, tự thay đổi đƣợc phong
tục, chiêu cảm đƣợc thiên hòa vậy.
* Phải biết rằng phóng sanh chính là để ngăn ngừa giết chóc.
Muốn tránh giết chóc thì phải bắt đầu bằng ăn chay. Nếu nhƣ ai
nấy đều kiêng giết, ai nấy đều ăn chay thì nhà nhà tu tập từ thiện,
ngƣời ngƣời tuân hành đề cao lễ nghĩa, phong tục thuần mỹ, khí
hậu điều hòa, mùa màng sung túc, có đâu đến nỗi kiếp đao binh
khởi, kẻ này ngƣời kia tàn hại lẫn nhau! Đấy chính là  nhiệm vụ
căn bản trọng yếu, thanh tịnh đúng đắn để vãn hồi thiên tai, nhân
họa. Phàm những ai muốn cửa nhà yên vui, thân tâm khang
ninh, thiên hạ thái bình, nhân dân an lạc, xin hãy cầu nơi việc
phóng sanh kiêng giết, ăn chay, niệm Phật thì cầu gì lại chẳng
đƣợc!
* Gần đây thiên tai nhân họa liên tiếp xảy ra quá đỗi, số ngƣời tử
vong quá nhiều càng thảm. Há nào phải đạo trời bất nhân đâu,
thật ra là do ác nghiệp trong bao kiếp và trong đời này chiêu cảm
đó thôi. Tuyệt đối chẳng có chuyện không nhân lại đƣợc quả,
cũng tuyệt đối chẳng có chuyện tạo thiện nghiệp lại bị quả ác!
Chỉ vì tri kiến phàm phu chẳng thể biết rõ nhân duyên túc thế,
nên tựa hồ có trƣờng hợp lẽ ra chẳng đáng đƣợc nhƣng lại
đƣợc. Nếu có thể xem trọn nhiều kiếp, nhiều đời, sẽ thấy mỗi
một quả báo thiện hay ác ta phải nhận đều nhƣ tiếng vọng đi
theo âm thanh, nhƣ bóng theo hình, trọn chẳng sai khác!                                                                            191
      * Nay thế đạo nhân tâm suy sụp, khuyết hãm đã đến cực
điểm. Nếu chẳng dùng nhân quả, báo ứng, sanh tử, luân hồi và
“hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều có thể thành Phật”
để dạy dỗ, quyết khó lòng đạt đƣợc hiệu quả! Do một niệm tâm
tánh của chúng ta bất biến tùy duyên, tùy duyên bất biến, hễ gặp
tịnh duyên bèn chứng Tam Thừa và Phật pháp giới; gặp duyên
mê nhiễm sẽ thành nhân thiên và tứ ác thú pháp giới. Dù mƣời
pháp giới thăng trầm, khổ vui khác xa nhau nhƣ trời với đất,
nhƣng tâm tánh vốn sẵn có ấy tại phàm chẳng giảm, tại tánh
chẳng tăng.
Nếu hiểu kỹ nghĩa này, dù có táng thân mất mạng, quyết chẳng
chịu bỏ đi tịnh duyên đã ngộ để theo đuổi nhiễm duyên đến nỗi
luân hồi mãi mãi, chẳng thể thoát nổi! Vì thế, biết rằng các pháp:
nhân quả, báo ứng, sanh tử, luân hồi v.v... chính là đại đạo trị cả
gốc lẫn ngọn, là nguyên do của cả phàm lẫn thánh, là phƣơng
tiện lớn lao để thánh nhân thế gian, xuất thế gian bình trị thiên
hạ, độ thoát chúng sanh. Trong lúc này, nếu bỏ đi pháp này, dù
Nghiêu, Thuấn, Vũ, Thang, Văn, Vũ, Châu, Khổng cùng ra đời,
cũng chẳng làm gì đƣợc!
      * Ba cõi chẳng yên hệt nhƣ nhà lửa, các khổ đầy dẫy thật
đáng kinh sợ! Chúng sanh ngu si dù chịu khổ lớn chẳng cầu xuất
ly. Dù sẵn có Phật tánh, nhƣng vì mê muội, trái nghịch, lại khởi
Hoặc tạo nghiệp đến nỗi trải kiếp số nhƣ trần sa không cách nào
giải thoát. Chẳng đáng buồn ƣ? Huống nay thế đạo, lòng ngƣời
nguy hãm, chìm đắm đến cùng cực, sát kiếp thê thảm từ xƣa
chƣa từng nghe.
Lại thêm trào lƣu tân học bác không nhân quả, chê những lời
nghị luận đạo đức của thánh hiền là hủ bại, vu vơ, mặc tình đề
xƣớng những ý kiến mình ức đoán. Kẻ quáng dẫn lũ mù, lôi nhau                                                                             192
vào lửa, đến nỗi thiên tai, nhân họa liên tục giáng
xuống. Lũ dân ngây ngô thật đáng thƣơng xót. Bởi thế, những
ngƣời có tâm lo cho đời bèn mạnh mẽ phát đại chí muốn cứu
giúp dân. Những nghiệp quả ấy đều do chỉ biết tự tƣ, tự lợi,
chẳng biết nhân quả ba đời, thiện ác báo ứng, tƣởng là ngƣời
chết đi, thần thức liền diệt, chẳng có linh hồn tùy theo nhân
duyên tội phƣớc thọ sanh trong trời ngƣời hay đọa vào tam đồ,
ác đạo!
Nếu thiện hay ác cũng đều bị diệt mất nhƣ nhau, lẽ nào chẳng
tùy ý làm bất cứ chuyện gì cốt sao thân tâm khoái lạc ƣ? Do vậy,
đối với những việc nghịch thiên trái lý, tổn ngƣời lợi mình, cùng
với giết hại sanh mạng cốt sao thỏa thích miệng bụng, bèn đua
nhau tƣng bừng làm, chẳng e dè chi!
Nếu nhƣ biết đến nhân quả ba đời sẽ liền sợ phải thọ báo, chẳng
dám móng khởi chút ý niệm, huống hồ là thực hành những việc
ấy ƣ? Vì vậy, biết rằng: sự lý nhân quả ba đời, sanh tử, luân hồi
do đức Phật ta giảng chính là huệ nhật trong đêm dài vô minh.
Niệm Phật cầu sanh Tây Phƣơng Cực Lạc thế giới chính là
thuyền từ trong biển khổ sanh tử. Muốn vãn hồi kiếp vận, bỏ qua
pháp này, không còn cách chi!
4.  Giảng những điểm trọng yếu về việc giới sát

* Đại đức của trời đất là Sanh, đại đạo của Nhƣ Lai là Từ. Ngƣời,
vật tuy khác, tâm tánh là đồng. Nhƣ Lai xem khắp cả tam thừa
lục phàm đều nhƣ con một. Vì sao vậy? Do họ đều có Phật tánh,
đều có thể thành Phật. Tam thừa hãy để đó. Lục phàm là trời,
ngƣời, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục. Tuy có cao thấp
khác nhau, khổ vui khác nhau, nhƣng đều chƣa đoạn đƣợc Hoặc
nghiệp, chƣa ra khỏi sanh tử. Phƣớc trời nếu hết liền phải đọa                                                                             193
xuống. Tội trong địa ngục nếu tiêu bèn lại sanh lên.
Hệt nhƣ bánh xe, hết lên cao lại xuống thấp.
Ta nay may đƣợc thân ngƣời, lẽ ra phải khéo léo bày cách để
cứu giúp, thƣơng tiếc sanh mạng loài vật, thể hiện đức hiếu sanh
của trời đất, thể hiện lòng nhân trắc ẩn trong tâm ta. Ấy là vì các
loài vật và ta cùng sống trong vòng trời đất, cùng hƣởng sự sanh
trƣởng, dƣỡng dục của trời đất. Lại cùng biết tham sống, cùng
biết sợ chết. Ngƣời có lòng nhân đối với xƣơng khô còn nhặt lấy
đem chôn, đối với cỏ cây còn để mọc dài chẳng chặt, nào chịu vì
sƣớng bụng miệng mà khiến cho các loài vật trên cạn, dƣới
nƣớc phải chịu nỗi khổ cắt, xẻ, nung nấu ƣ?
Phải biết rằng các loài vật từ vô thỉ đến nay cũng từng ở địa vị
cao sang, tôn quý, oai quyền hiển hách, chẳng biết mƣợn oai
quyền để ban bố ân đức; trái lại cậy quyền tạo nghiệp, khiến cho
ác nghiệp chất chứa nhƣ rừng, đọa trong dị loại. Miệng chẳng
nói đƣợc, tâm không suy nghĩ, thân không tài khéo nên mắc phải
nạn này. Tuy thịt mềm bị cƣỡng ăn là chuyện đã đành, nhƣng
oán hận đã kết, há chẳng đời đời kiếp kiếp lo báo thù cái oán
niệm này chăng?
Ví dù con ngƣời chẳng nghĩ đến nỗi khổ của những con vật bị
giết, lẽ nào chẳng sợ oán nghiệp kết sâu, thƣờng bị chúng giết
lại hay sao? Lại chẳng sợ tàn hại loài vật của trời, trời sẽ đoạt
mất phƣớc thọ của mình hay sao? Ngƣời nào mong cho quyến
thuộc đoàn tụ, thọ mạng dài lâu, thân tâm yên vui, các duyên nhƣ
ý, rất nên phát tâm đại bi, thực hành phóng sanh, khiến cho thiên
địa quỷ thần thảy đều thƣơng xót tấm lòng thành thƣơng loài vật
của ta sẽ khiến cho những điều mình mong mỏi đƣợc thành tựu.
Nếu cậy mình có tiền tài, mình có trí lực, bày ra đủ cách bắt lấy
các con vật hòng thỏa mãn bụng miệng mình, chẳng kể đến nỗi
thống khổ của chúng, há còn đáng gọi là con ngƣời đứng cùng
với trời đất thành tam tài chăng? Nhƣng ta với chúng cùng trong
sanh tử từ vô thỉ đến nay, cố nhiên chúng đều là cha, mẹ, anh,                                                                             194
em, thê thiếp, con cái của mình, mình cũng là cha
mẹ, anh em, thê thiếp, con cái của chúng. Mỗi con vật ấy trong
khi làm ngƣời hoặc lúc trong dị loại, từng bị ta giết; ta cũng trong
lúc làm ngƣời, hoặc trong lúc làm dị loại, từng bị chúng giết. Làm
kẻ oán, ngƣời thân, sanh ra nhau, giết hại nhau.
Lặng im suy nghĩ, thẹn chẳng muốn sống nữa! Hãy gấp rút sửa
đổi, hối hận, vẫn còn là chậm, huống hồ cứ quen thói cũ, vẫn
chấp mê tình, cho rằng trời sanh ra dị loại vốn là để làm thức ăn
cho con ngƣời ƣ? Ta vẫn còn đầy đủ Hoặc nghiệp nên không
cách nào thoát ra ngoài luân hồi đƣợc. Vạn nhất, chúng nó tội đã
diệt, lại sanh làm ngƣời, thiện căn phát sanh, nghe pháp tu hành,
đoạn Hoặc chứng Chân, đạt thành Phật đạo. Nếu ta đọa lạc, còn
mong chúng sẽ rủ lòng từ cứu viện ngõ hầu lìa khổ đƣợc vui,
chứng đƣợc Phật tánh. Há nên cậy vào sức mạnh một thời để
đạt [cái khổ] bao kiếp dài lâu không đƣợc cứu vớt chăng?
* Phải biết: Ngƣời cùng loài vật cùng mang cái thân huyết nhục
này, cùng có tánh linh tri, cùng sanh trong vòng trời đất. Chỉ do
đây kia tội phƣớc bất đồng, đến nỗi đời này hình chất thông linh
hay ngu xuẩn sai khác. Cậy ta mạnh hiếp loài yếu, dùng thịt
chúng nó no đẫy bụng mình, khoái lòng thích chí, cho đó là
phƣớc báo. Chẳng biết rằng một khi phƣớc lực đã tận, nghiệp
báo hiện tiền, lúc bị ngƣời giết chóc, thân chẳng kháng cự lại
đƣợc, miệng chẳng nói nổi, trong lòng buồn sợ, đau đớn, khổ sở,
mới biết chuyện ăn thịt là một tội vạ lớn vậy.
Ngƣời ăn thịt đúng là La Sát, dù chẳng giết ngƣời để ăn thịt cũng
không đƣợc. Vì thế, kinh Lăng Nghiêm nói: “Do ngƣời ăn dê, dê
chết thành ngƣời, ngƣời chết thành dê. Nhƣ thế cho đến mƣời
loại sanh vật. Chết chết, sống sống, ăn nuốt lẫn nhau, ác nghiệp
cùng sanh đến cùng tột đời vị lai”.                                                                            195
Lại còn nhiều kiếp đến nay sanh ra lẫn nhau. Đã
không có đạo lực để cứu tế, nỡ nào để chúng nó bị dao xả cực
khổ, hòng miệng lƣỡi mình hƣởng vị ngon chăng? Trong kinh
Nhập Lăng Già, đức Thế Tôn bao lần quở trách chuyện ăn thịt.
Có đoạn chép: “Hết thảy chúng sanh từ vô thỉ đến nay ở trong
sanh tử luân hồi chẳng ngơi. Không ai chẳng từng làm cha mẹ,
anh em, quyến thuộc nam nữ cho đến bằng hữu thân ái, kẻ hầu.
Qua đời khác, phải thọ các thân chim, thú... sao lại dùng chúng
nó để ăn?” Phàm những ai sát sanh ăn thịt, nếu nghĩ đến điều
này, ắt sẽ giật mình kinh sợ, tỉnh ngộ, thà tự giết mình, chẳng thể
giết hết thảy loài vật nữa!
* Ta cùng hết thảy chúng sanh đều trong luân hồi; từ vô thỉ đến
nay thay phiên sanh ra nhau, lần lƣợt giết nhau. Cố nhiên ai nấy
đều từng là cha mẹ, anh em, chị em, con cái của chúng ta, ta
cũng từng là cha mẹ, anh em, chị em, con cái của mỗi kẻ đó. Cố
nhiên, bọn họ do sức ác nghiệp trùng trùng ở trong loài ngƣời
hoặc trong dị loại bị ta giết hại, ta cũng do sức ác nghiệp trùng
trùng ở trong loài ngƣời hoặc trong dị loại bị chúng giết hại. Trải
kiếp dài lâu, sanh ra nhau, giết lẫn nhau, trọn chẳng ngừng nghỉ.
Phàm phu chẳng biết, Nhƣ Lai thấy thấu triệt. Chẳng nghĩ thì
thôi, hễ nghĩ đến, hổ thẹn, đau xót khôn ngăn!
Ta nay may nhờ phƣớc thiện đời trƣớc sanh trong loài ngƣời, tất
nhiên nên giải trừ oán hận, tháo mối trói buộc, kiêng giết, phóng
sanh, khiến cho hết thảy những loài có sanh mạng ấy đều đƣợc
yên ổn. Lại còn vì chúng nó niệm Phật hồi hƣớng Tịnh Độ khiến
chúng đƣợc độ thoát. Nếu nhƣ chúng nó nghiệp nặng chẳng
đƣợc sanh ngay, nƣơng vào công đức từ thiện này, chắc chắn
khi lâm chung sẽ vãng sanh Tây Phƣơng. Đã vãng sanh rồi, liền
đƣợc siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử, vĩnh viễn thoát
khỏi luân hồi, dần dần chứng đƣợc Phật Quả.                                                                            196
Vả nữa, thƣơng yêu loài vật, phóng sanh, cổ thánh
tiên hiền đều làm chuyện ấy. Vì thế, kinh Thƣ chép chim, thú, cá,
ba ba đều cảm mến Văn Vƣơng. Văn Vƣơng thƣơng xót cả
xƣơng khô, huống hồ gì loài vật có tri giác! Còn nhƣ Giản Tử thả
chim bồ câu, Tử Sản nuôi cá, Tùy Hầu cứu rắn, Dƣơng Bảo thả
chim sẻ. Đấy là do tấm lòng nhân bình đẳng của Thánh Hiền,
chứ họ nào biết đến nghĩa lý: mỗi loài hàm linh xuẩn động đều có
Phật tánh, lần lƣợt thăng trầm, làm kẻ oán, ngƣời thân lẫn nhau,
tƣơng lai quyết định thành Phật.
Mãi đến khi đại giáo truyền sang Đông, lý nhân quả ba đời,
chúng sanh - Phật - tâm bình đẳng vô nhị mới đƣợc sáng rực
trong đời. Phàm là bậc đại thánh, đại hiền, không ai là chẳng
kiêng giết, phóng sanh, hòng vãn hồi sát kiếp, hòng bồi đắp
phƣớc quả, dứt đao binh hầu làm nền tảng cho ngày tháng an
vui. Cổ nhân nói: “Dục tri thế thƣợng đao binh kiếp; tu thính đồ
môn bán dạ thanh” (Muốn biết binh đao trên cõi thế, lò mổ nên
nghe tiếng giữa đêm). Lại nói: “Dục đắc thế gian vô binh kiếp, trừ
phi chúng sanh bất thực nhục” (muốn cho thế giới thái bình, trừ
phi nhân loại đồng tình ăn chay). Do vậy, biết rằng kiêng giết,
phóng sanh chính là kế sách tốt lành nhổ sạch rễ, lấp tận nguồn
để cứu đời vậy.
* Nếu nói: “Kẻ quan, quả, cô, độc (5), bần cùng hoạn nạn đâu
đâu cũng có, sao chẳng chu cấp cho họ, cứ khăng khăng lo cho
bọn dị loại chẳng quan hệ chi với mình? Chẳng phải là đảo lộn
chuyện hoãn  - gấp, nặng  - nhẹ ƣ?” Đáp rằng: Ông chƣa biết
nguyên do đức Nhƣ Lai dạy ngƣời kiêng giết, phóng sanh. Ngƣời
và vật tuy khác, Phật tánh vốn đồng. Chúng do ác nghiệp đắm
chìm trong dị loại, ta do thiện nghiệp may đƣợc làm thân ngƣời;
chẳng tăng thêm lòng lân tuất, lại còn mặc sức ăn nuốt. Một mai
phƣớc ta đã hết, tội chúng nó đã tận, khó tránh bị nắm đầu đền
nợ, no thỏa bụng miệng chúng.                                                                            197
Phải biết rằng: đao binh đại kiếp đều do sát nghiệp
đời trƣớc cảm thành. Nếu không có sát nghiệp, dù thân gặp phải
giặc cƣớp, chúng sẽ khởi tâm lành, chẳng chém giết mình.
Huống hồ là đối với những tai nạn ngang trái: ôn dịch, nƣớc
lửa... ngƣời kiêng giết, phóng sanh, tuyệt ít gặp phải. Vì thế, biết
rằng: bảo vệ loài vật vốn là để bảo vệ mình, kiêng giết mới hòng
khỏi bị trời giết, quỷ thần giết, đạo tặc giết, vị lai oan oan tƣơng
báo giết.
Đối với kẻ quan, quả, cô độc, bần cùng, hoạn nạn, cũng nên tùy
phần tùy sức chu cấp, chứ nào phải ngƣời kiêng giết phóng sanh
tuyệt chẳng thực hiện công đức ấy! Nhƣng những kẻ quan,
quả... dù thật đáng thƣơng xót, vẫn chƣa đến nỗi lâm vào tử địa.
Loài vật nếu chẳng đƣợc cứu chuộc ngay, sẽ lập tức phải lên
chảo, thớt để thỏa miệng bụng con ngƣời.
Lại còn có kẻ nói: Loài vật vô tận, phóng sanh đƣợc mấy? Đáp:
Phải biết rằng, một việc phóng sanh chính là để khiến đồng nhân
phát khởi thiện tâm tối thắng cứu giúp khắp sanh mạng loài vật,
mong họ thể nhận đƣợc cái ý gấp thả, trong tâm động lòng xót
thƣơng, chẳng nỡ ăn nuốt.  Đã chẳng ăn nuốt sẽ thôi săn bắt.
Vậy thì hết thảy loài vật bay trên không, bơi dƣới nƣớc sẽ tự tại
bay, chạy, bơi lội trong nơi sanh sống của chúng, tức là chẳng
phóng sanh mà phóng sanh khắp cả, đấy chẳng phải là cả thiên
hạ trở thành một cảnh hay sao?
Dù không phải ai cũng làm đƣợc nhƣ vậy, nhƣng một ngƣời
chẳng nỡ ăn thịt đã có vô lƣợng sanh mạng loài vật trên cạn,
dƣới nƣớc khỏi bị tàn sát; huống hồ nào phải chỉ có một ngƣời
[không nỡ ăn thịt] thôi ƣ? Lại vì hết thảy đồng nhân trong hiện tại,
vị lai, dứt trừ cái nhân quan - quả - cô - độc, bần cùng, hoạn nạn,
tạo cái duyên trƣờng thọ, không bệnh, phú quý, yên vui, cha con
xum họp, vợ chồng giai lão.
Đấy chính là thực hiện sự chu cấp, giúp đỡ sẵn, để đời đời, kiếp
kiếp trong vị lai vĩnh viễn chẳng có những nỗi khổ quan quả...                                                                             198
hƣởng thọ dài lâu những sự vui: trƣờng thọ v.v... há
chẳng đáng gọi là khiến cho khắp hết thảy đều đƣợc hƣởng
phƣớc ƣ? Há nên thờ ơ bỏ qua? Ông nghĩ kỹ đi: kiêng giết
phóng sanh, rốt ráo chính là khăng khắng vì con ngƣời, nào phải
cứ cắm đầu lo cho loài vật, đảo lộn chuyện hoãn - gấp, nặng -
nhẹ đâu!
* Một niệm tâm tánh của hết thảy chúng sanh và một niệm tâm
tánh của tam thế chƣ Phật trọn chẳng phải hai. Nhƣng do mê
chƣa ngộ nên bao kiếp dài lâu luân hồi trong lục đạo, mãi không
ngừng nghỉ. Tuy đƣờng lành trời ngƣời so với tam đồ ác đạo khổ
vui khác xa nhau, nhƣng đều là thuận theo nghiệp lực thiện ác
cứ luân hồi mãi! Thiện đạo chẳng đáng tin cậy, ác đạo thật đáng
sợ. Há chẳng nên vun bồi nhân lành, cứ tạo càn ác nghiệp, cứ
cậy mình mạnh, hiếp đáp kẻ yếu, bắt lấy hết thảy chúng sanh
trên cạn, dƣới nƣớc giết ăn chăng?
Trƣớc kia, khi Phật giáo chƣa truyền sang, thánh nhân Nho giáo
đều dùng luân thƣờng thế gian để giảng dạy. Đối với Phật tánh
sẵn có của chúng ta và sự chuyển biến, thăng trầm, luân hồi lục
đạo, cũng nhƣ chuyện đoạn Hoặc, chứng Chân, siêu phàm,
nhập thánh, dù là Lý hay Sự đều chƣa giảng ra. Vì thế chẳng
cấm giết, nhƣng cái tâm bất nhẫn đã nêu tỏ lắm rồi trong các lời
dạy để lại cho đời.
Chẳng hạn nhƣ, kinh Thƣ nói chim, thú, cá, ba ba đều quyến
luyến, sách Luận Ngữ nói thả câu nhƣng chẳng vãi chài, chẳng
bắn ban đêm. Mạnh Tử thấy sống, không nỡ thấy chết; nghe
tiếng chẳng nỡ ăn thịt. Kinh Lễ chép: Chƣ hầu chẳng vô cớ mổ
trâu; đại phu chẳng vô cớ giết dê, kẻ sĩ chẳng vô cớ giết chó,
lợn; thứ dân chẳng vô cớ ăn món ngon. “Món ngon” chính là thịt
vậy.                                                                            199
Đủ thấy rằng: đối với việc sát sanh, Nho Giáo cũng
chẳng phải không hạn chế vậy, chỉ là quyền biến để dạy dỗ, chứ
chƣa thể vĩnh viễn cấm hẳn đƣợc. Có duyên cớ mới giết, cố
nhiên kẻ giết cũng ít. Vô cớ chẳng ăn thịt thì trong một năm ăn
thịt đƣợc mấy ngày? Hậu thế, sự giáo hóa suy đồi, quen thói tàn
nhẫn, bèn coi chuyện ăn thịt nhƣ chuyện cơm bữa trong nhà, chỉ
cốt sao khoái khẩu, chẳng biết đến nỗi khổ của loài vật.
Đến khi Phật giáo truyền sang Đông thì chân lý, sự thật thƣờng
trụ vĩnh viễn “hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh” và “mê thì
luân hồi sanh tử, trọn không lúc nào xong”, “ngộ thì triệt chứng
Niết Bàn” mới đƣợc xiển minh rốt ráo. Mới biết rằng các dị loại
này nọ đều là cha mẹ trong quá khứ, là chƣ Phật trong vị lai.
Chẳng những chẳng dám giết ăn, lại còn mong cho chúng nó đều
đƣợc sống yên ổn. Do vậy, vua thánh, tôi hiền, bậc triết sĩ, bậc
hồng nho, đa phần đều kính tuân lời Phật giáo huấn, tài bồi lòng
nhân của chính mình. Hoặc là ăn chay, bỏ hẳn ăn mặn, hoặc là
kiêng giết, phóng sanh. Những lời lẽ tốt lành, hành vi hay đẹp ấy
đƣợc chép trong các sử sách cũng chỉ là để mong ngƣời đời sau
cùng tu tâm từ, thƣơng xót loài vật, cùng thấy Phật tánh.
Do ác nghiệp nhân duyên, đọa trong đƣờng súc sanh. Ta nay
may đƣợc sanh trong loài ngƣời, nếu chẳng tăng thêm lòng lân
tuất, cứ mặc tình sát hại, khó tránh đời sau oan oan tƣơng báo.
Kinh Lăng Nghiêm nói: “Giết thân mạng chúng, hoặc ăn thịt
chúng, trải vi trần kiếp ăn lẫn nhau, giết lẫn nhau giống nhƣ bánh
xe lăn, hết lên cao lại xuống thấp, chẳng có lúc ngừng. Trừ xama-tha và lúc Phật xuất thế, chẳng thể ngƣng nghỉ đƣợc”.
Nhƣng đạo xa-ma-tha thật chẳng dễ đắc, Nhƣ Lai xuất thế cũng
khó gặp gỡ, dám đâu chẳng học theo gƣơng tiên hiền, chẳng
tuân lời Phật dạy. Suy cái tâm sợ chết của mình mà cứu vớt loài
đợi bị nấu nƣớng kia để mong tiêu trừ túc nghiệp, vun bồi căn
lành, dứt vĩnh viễn cái nhân sát hại, cùng chứng quả trƣờng thọ
vậy!                                                                            200
* Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều là cha mẹ quá khứ,
là chƣ Phật vị lai. Lập cách cứu giúp còn e chƣa kịp, há nên để
thỏa miệng bụng mình, bèn giết hại thân xác chúng nó ƣ? Phải
biết rằng các loài vật bay trên không, lặn dƣới nƣớc đều có cái
tâm linh minh giác tri, nhƣng vì túc nghiệp sâu nặng đến nỗi hình
thể khác xa, miệng chẳng nói đƣợc. Xem tình cảnh chúng đi tìm
cái ăn, tránh né cái chết, sẽ nhận ra chúng có khác gì con ngƣời
đâu!
Chúng ta nhờ sức túc phƣớc, may đƣợc làm ngƣời, tâm có trí lự,
phải nên luôn nghĩ đến dân chúng và loài vật cùng [sanh từ] một
bọc cha trời, mẹ đất, mới chẳng phụ bạc cái lẽ con ngƣời đứng
cùng trời đất thành tam tài vậy! Do cùng đƣợc trời đất sanh
thành, nuôi nấng, phải mong cho mọi ngƣời cùng loài vật đều
đƣợc sống yên ổn, cùng đƣợc trời che, đất chở, cùng vui ngày
tháng mới phải. Nếu nhƣ chẳng hiểu thấu cái đức hiếu sanh của
trời đất, buông lung ý niệm tham ăn tục uống của chính mình,
cậy mình khỏe, hiếp kẻ yếu, ăn thịt nó để no đẫy bụng mình, ắt
đến ngày nào đó, túc phƣớc đã hết, sát nghiệp hiện tiền, muốn
chẳng thay đầu, đổi mặt, bị chúng nó ăn, giết trở lại, há có đƣợc
chăng?
Vả nữa, ăn thịt có chất độc, do lúc chúng bị giết tâm oán hận kết
lại. Bởi thế, khi ôn dịch lƣu hành, ngƣời ăn chay rất ít ngƣời bị
nhiễm phải. Hơn nữa, thịt là vật uế trƣợc. Ăn vào máu sẽ bẩn,
tinh thần tối tăm, thấy mạnh mẽ ngay đó, nhƣng hiệu quả tan đi
rất nhanh, rất dễ tạo thành đầu mối cho bệnh tật. Rau cỏ là vật
thanh khiết, ăn vào khí thanh, trí rạng, khỏe mạnh lâu, già chậm,
có nhiều chất bổ. Tuy đây là lời bàn thông thƣờng về phép vệ
sinh, nhƣng thật sự là lời luận cùng tột về tánh. Do thói quen kéo
dài đến nỗi mê man chẳng tỉnh.
Phải biết rằng: ngƣời nhân ắt thƣơng yêu loài vật. Ngƣời giết loài
vật quyết khó thể là ngƣời có lòng nhân, do tánh quen khiến                                                                             201
thành nhƣ thế. Vì vậy, thánh vƣơng trị thế, chim thú
cá, rùa đều sung sƣớng. Đạo sáng dạy dân thì gậy nhựa dính,
ná bắn đạn đều bỏ sạch. Thử nghĩ: Từ xƣa đến nay, phàm là kẻ
tàn nhẫn tham ăn tục uống, phần nhiều dòng dõi bị tuyệt diệt.
Ngƣời nhân ái tử tế, con cháu ắt hƣng thạnh. Kẻ khởi đầu thói
ác, Khổng Tử đoán nó vô hậu; kẻ mặc sức ăn thịt, Nhƣ Lai dự ký
ắt phải đền trả. Xin chớ nói suông xa lánh bếp núc (6), đấy chỉ là
cách nói quyền biến thuận theo thế tục, phải vĩnh viễn dứt hẳn đồ
hôi tanh thì mới là xứng lý thật nghĩa.
* Tâm tánh chúng sanh giống hệt nhƣ Phật. Do nghiệp thiện - ác,
báo phân ra ngƣời, thú. Ngƣời có trí huệ, thú không tài khéo.
Cậy mạnh hiếp yếu, giết để ăn thịt. Làm con trong nhà ngƣời ta
chẳng ngoài [lý do đã] thiếu nợ nặng. Huống hồ giết thân mạng
chúng chỉ cốt sƣớng miệng, oán hận cố kết, trải bao kiếp đòi nợ
lẫn nhau. Thử nghĩ đến điều ấy, trong tâm đau thƣơng.
* Nguyên hết thảy chúng sanh trên cạn, dƣới nƣớc, không một
loài nào chẳng biết đớn đau, khổ, vui, không một loài nào chẳng
biết tham sống sợ chết, nhƣng không con vật nào chẳng phải là
cha mẹ, anh em, chị em, vợ con, bạn bè, thân quyến trong vô
lƣợng kiếp của ta. Lại không có một loài nào chẳng thể trong đời
vị lai, gieo sâu thiện căn, tu trì Tịnh nghiệp, đoạn Hoặc  chứng
Chân, viên thành Phật đạo. Chỉ vì túc thế ác nghiệp, phải đọa
trong dị loại.
Vì thế phải nên sanh lòng thƣơng xót sâu xa, hộ trì chúng, khiến
mỗi con vật đều đƣợc sống yên vui, há nên cậy mạnh hiếp yếu,
hoặc dùng trí đoạt lấy, hoặc dùng tiền của đoạt lấy, khiến hết
thảy bọn chúng bị dồn vào miệng bụng mình? Tuy chúng nó sức
chẳng chống chọi đƣợc, tâm đã kết mối hận dằng dặc; cho nên
đời đời, kiếp kiếp xoay vần giết nhau. Sƣớng miệng bụng một                                                                             202
lúc, giết thân mạng nhiều kiếp. Sánh với chuyện tự
giết mình còn khốc liệt gấp bội! Sao lại khổ sở làm chuyện chuốc
lấy ƣơng họa này, há có phải là ngu mê đến cùng cực chăng?
Xƣa nƣớc Lỗ có hai gã dũng sĩ, chỉ nghe tên nhau chứ chƣa gặp
mặt. Một bữa gặp nhau, mua rƣợu cùng uống. Một gã bảo:
“Không có thịt chẳng vui, hãy đi mua thịt!” Gã kia bảo: “Thịt của
tôi với anh đây, còn tìm đâu nữa!” Gã thứ nhất bảo ý kiến ấy rất
hay, bèn trễ áo xẻo thịt mình, hai bên cùng ăn. Kẻ kia lại cắt thịt
mình, đƣa cho bạn ăn. Dƣơng dƣơng tự đắc, bảo là tình bạn
chúng ta tình ý chân thật tột bậc. Vừa cắt vừa ăn mãi cho đến
chết. Những ngƣời trông thấy đều than: “Hai gã ngu!”
Do vì ăn thịt, ngƣời đời tạo các sát nghiệp đến nỗi bao kiếp xoay
vần giết hại lẫn nhau. So với hai gã dũng sĩ kia càng khốc liệt
hơn! Do không mắt huệ, chẳng biết hậu báo, lại coi là chuyện
đắc ý để khoe khoang, kiêu hãnh, chê kẻ ăn chay là mê tín cùng
là bạc phƣớc. Thế tục tán thành, nào biết là sai!
Vì thế, trong các kinh Đại Thừa Phạm Võng, Lăng Nghiêm, Lăng
Già v.v... đức Nhƣ Lai đã cực lực phơi bày cái họa sát sanh ăn
thịt, có thể nói là lòng chân từ đại bi nhổ rễ lấp nguồn vậy. Gần
đây, sát kiếp thảm khốc, thiên cổ chƣa từng nghe, lại còn các tai
vạ: nƣớc, lửa, tật dịch, gió lốc, động đất, hạn hán, lụt lội... thình
lình xảy ra. Nói chung đều là do sát nghiệp duyên khởi đến nỗi
thế đạo, nhân tâm càng ngày càng thấp. Do vậy, thiên tai, nhân
họa liên tiếp xảy ra, nhƣ đứng trƣớc tấm gƣơng, chẳng thể tránh
khỏi bị soi bóng.
* Thế tục mê hoặc, coi ác là thiện, coi tạo nghiệp là tu phƣớc, [kẻ
nhƣ vậy] rất  nhiều. Điều mắt nhìn thấy thảm, lòng thấy xót xa
nhất không gì bằng chuyện cúng tế quỷ thần. Phú quý đại gia
luôn giết con vật lớn để tế: một mặt để cầu đƣợc nhiều phƣớc,
một mặt để phô phang mình giàu có. Còn những nhà nghèo khó                                                                             203
cũng phải giết gà, giết vịt để cầu thần thƣờng bảo
hộ, khiến cho phƣớc thọ tăng thêm, lâu dài hơn, mọi việc đều
nhƣ ý.
Chẳng biết thiên địa lấy hiếu sanh làm đức, quỷ thần lấy thiên địa
làm chủ tể các sự, há chẳng phải là tâm ấy trái thiên nghịch địa
ƣ? Vì hƣởng một kỳ tế lễ của ta khiến cho vô số sanh mạng cùng
chịu nỗi khổ cắt xẻ, ông thần ấy còn đáng gọi là một vị chánh
thần thông minh, chánh trực, thƣởng thiện, phạt ác nữa chăng?
Nguyên do là bọn ngu phu tham ăn, chỉ mƣợn danh quỷ thần,
giết thú lớn, vật nhỏ, cốt sao thỏa thích bụng miệng, quen dần
thành thói, chẳng biết là đã tạo đại ác nghiệp!
Bảo là cúng quỷ thần, thần có ăn đâu? Huống hồ đã gọi là thần,
ắt phải vâng giữ đức thông minh, chánh trực, ắt phải chuẩn theo
việc thiện hay ác mà giáng phƣớc hay gieo vạ. Há phải đâu ai sát
sanh cúng bái mình, dù nó làm ác vẫn cứ giáng phƣớc; kẻ nào
chẳng sát sanh cúng tế mình, dù có làm thiện cũng cứ gieo vạ ƣ?
Nếu vậy, tâm hạnh của ông thần ấy có khác gì tâm hạnh của bọn
tiểu nhân vô lại nơi chợ búa đâu? Làm sao xƣng là ông thần
thông minh, chánh trực đƣợc nữa? Đã là một vị thần thông minh,
chánh trực, chắc chắn chẳng vì thói yêu tà, quỷ quái này mà
chẳng tuân thủ đạo đức, nhân nghĩa!
* Ngƣời đời chỉ biết ăn thịt là ngon, bèn vì ý niệm tham cầu thứ
hôi thối, tanh tƣởi ấy, cho rằng thần thánh cũng giống nhƣ vậy.
Từ đấy kẻ nọ ngƣời kia bắt chƣớc nhau, chẳng biết là trái. Ví
nhƣ giòi tửa ăn phân, nghĩ thiên tiên cũng phải tham ƣa vị ngon
này, bèn thƣờng muốn dâng lên để cầu đƣợc ban thƣởng phƣớc
khánh!
Những con vật bị giết kia phần nhiều đều là những kẻ trong đời
trƣớc sát sanh cúng tế quỷ thần ngõ hầu chính mình có dịp ăn
thịt, nay phải đền trả quả báo sát sanh khi ấy. Thế nhƣng hết                                                                             204
thảy kẻ ngu nghe nói đến chuyện sát sanh tế thần
bèn vui mừng, hớn hở, coi đấy là chuyện làm phƣớc, chẳng biết
tƣơng lai sẽ phải biến thành những giống vật ấy. Lúc bị ngƣời
giết, có miệng chẳng nói đƣợc, không cách nào thoát khỏi.
Huống những ai đã thâm nhập Phật pháp, đã thọ đại giới nhà
Phật, là bậc cao nhân lỗi lạc suốt đời ăn chay, do ham muốn ăn
thịt bèn vô cớ bịa chuyện, giết vô số sanh mạng để cúng tế. Cái
tội nghịch trời, trái lý, dối thánh, khinh hiền ấy khiến cho đời đời
kiếp kiếp sẽ mãi mãi làm các loài vật bị giết chóc ấy, há chẳng
đáng buồn bã lắm sao?
* Ngƣời đời mắc bệnh cùng bị những tai nạn nguy hiểm, chẳng
biết niệm Phật tu thiện, lại lầm lạc cầu đảo quỷ thần, đến nỗi sát
hại sanh mạng. Nghiệp tăng thêm nghiệp, thật đáng thƣơng xót!
Ngƣời sống trong đời có những cảnh duyên gì, đa phần là do túc
nghiệp.
Đã mắc bệnh khổ, nên niệm Phật tu thiện, sám hối túc nghiệp,
nghiệp tiêu bệnh sẽ lành. Hạng quỷ thần kia chính họ còn đang
trong biển nghiệp, sao có thể tiêu nghiệp cho ngƣời khác đƣợc?
Dù là vị chánh thần có đại oai lực đi nữa thì oai lực của vị ấy so
với oai lực của Phật, Bồ Tát khác chi lửa đom đóm sánh với ánh
sáng mặt trời! Đệ tử Phật chẳng hƣớng về Phật, Bồ Tát cầu đảo,
lại hƣớng về quỷ thần cầu đảo, chính là tà kiến, chính là trái
nghịch lời Phật dạy. Không thể không biết điều này!
Thêm nữa, hết thảy chúng sanh đều là cha mẹ quá khứ, là chƣ
Phật vị lai, lẽ ra nên kiêng giết, phóng sanh, yêu tiếc mạng sống
loài vật, chớ nên theo tri kiến thế tục, cho rằng dâng thức ngon
lành lên cha mẹ mới là hiếu. Kẻ chƣa nghe Phật pháp chẳng biết
sự lý luân hồi lục đạo, lầm tƣởng đấy là hiếu, còn tha thứ đƣợc.
Chứ nếu là ngƣời đã nghe Phật pháp, giết phụ mẫu, thân thuộc
quá khứ để phụng dƣỡng cha mẹ hiện tại và dùng trong tang tế                                                                             205
v.v... chẳng những chẳng phải là hiếu đạo, mà còn
thành ngỗ nghịch nữa!
Bởi vậy, do nghe nghĩa đế chân thật của Phật pháp những ngƣời
thông đạt đều chẳng chịu làm theo những pháp quyền tạm của
thế tục. Bởi những pháp tạm bợ ấy chỉ thuận theo mê tình thế tục
mà lập, chẳng phải là đạo thấy thấu suốt nhân quả ba đời của
đức Nhƣ Lai vậy!
* Trong các ác nghiệp, chỉ có sát nghiệp là nặng nhất. Khắp dƣới
gầm trời, không một ai chẳng tạo sát nghiệp. Dù cả đời chẳng sát
sanh, nhƣng hằng ngày ăn thịt tức là hằng ngày sát sanh! Bởi
chẳng giết, chắc chắn chẳng có thịt! Kẻ mổ thịt, kẻ săn bắt, kẻ
đánh cá đều là để cung cấp cho nhu cầu của ngƣời ăn thịt, họ
giết hại thay cho mình.
Nhƣng một ải ăn thịt - ăn chay thật sự là nguyên nhân chẳng nhỏ
khiến chúng ta thăng hay trầm, thiên hạ bình trị hay loạn lạc vậy.
Những ai yêu thân mình và yêu thƣơng khắp cả mọi ngƣời trên
cõi đời, muốn đƣợc trƣờng thọ, an lạc, chẳng mắc phải tai họa
ngoài ý muốn, phải lấy việc kiêng giết, ăn chay làm diệu pháp
bậc nhất để vãn hồi thiên tai, nhân họa.
Một niệm tâm tánh của hết thảy chúng sanh chẳng khác với chƣ
Phật, cũng chẳng khác với một niệm tâm tánh của chúng ta. Chỉ
vì túc thế ác nghiệp đọa vào dị loại; vì thế, phải sanh lòng thƣơng
xót lớn lao, lẽ đâu mặc sức giết chóc? Ngƣời đời vô tri bị tập tục
trói chặt, thƣờng coi sát sanh ăn thịt là vui, chẳng nghĩ đến các
con vật bị giết ôm nỗi thống khổ, oán hận nhƣ thế nào!
Cậy mạnh hiếp yếu, coi là chuyện đƣơng nhiên; một khi đao binh
khởi lên, tình cảnh khác gì những con vật bị giết. Đốt cháy nhà
cửa ngƣơi, hãm hiếp vợ con ngƣơi, cƣớp tiền tài của ngƣơi, giết
thân mạng ngƣơi, ngƣơi vẫn chẳng dám dùng lời ác chửi nó vì                                                                             206
sức chẳng chống chọi lại đƣợc. Loài vật bị giết cũng
vì chẳng có sức chống cự lại đƣợc; nếu nó kháng cự đƣợc, tất
nhiên nó sẽ cắn xé kẻ toan giết nó đến cùng. Sao không đối với
cảnh khổ ấy, hãy thử nghĩ lại xem!
Loài vật cùng ta đều tham sống sợ chết. Ta đã có trọn vẹn cái
thể chất đội trời đạp đất này, lẽ ra phải nên hỗ trợ đất trời sanh
thành, dƣỡng dục, khiến cho các loài chim, thú, cá, rùa kia đều
sống yên vui. Nỡ nào giết thân mạng chúng để vui sƣớng bụng
miệng mình ƣ? Do sát nghiệp cố kết đến nỗi phát sanh cái họa
đao binh do ngƣời gây ra và các thiên tai: nƣớc, lửa, hạn, lụt, đói
kém, tật dịch, gió lốc, địa chấn, biển trào, sông ngập v.v... nối tiếp
nhau giáng xuống.
Giống nhƣ biếu quà cuối năm, ta biếu quà đi, ngƣời biếu quà lại,
quyết chẳng bao giờ biếu đi chẳng đƣợc biếu lại, hoặc chỉ nhận
quà chứ không biếu trả. Nếu có trƣờng hợp nhƣ vậy, tất nhiên
phải có nhân duyên nào khác ngăn trở, chứ thật ra đều chẳng
ngoài chuyện qua lại, đáp tạ cả. Trời thƣởng phạt cũng giống
nhƣ thế, huống hồ là chuyện báo đền giữa con ngƣời? Vì thế,
kinh Thƣ viết: “Làm lành giáng xuống trăm điều tốt lành; làm việc
chẳng lành, giáng xuống trăm điều họa ƣơng”. Kinh Dịch chép:
“Nhà tích thiện ắt sự vui có thừa, nhà chứa điều bất thiện, ắt tai
ƣơng có thừa”. Đạo trời ƣa xoay vần, không có gì qua mà chẳng
lại! Muốn tránh khỏi ác quả, phải đoạn ác nhân trƣớc đã. Muốn
đƣợc thiện quả, phải trồng thiện nhân trƣớc đã! Đấy là lẽ rốt ráo
của lý trời, tình ngƣời vậy!
(1) Liệt Quốc là thời gian kể từ khi Châu U Vƣơng (Cơ Cung
Niết) lên ngôi năm 781 trƣớc Công Nguyên cho đến khi Tần Thủy
Hoàng Đế (Doanh Chính) gồm thâu lục quốc, thống nhất Trung
Nguyên vào năm 221 trƣớc CN. Thời này, các chƣ hầu đánh lẫn
nhau, tranh nhau xƣng bá nên còn gọi là thời Xuân  Thu Chiến
Quốc (từ năm 781 trƣớc CN đến năm 476 trƣớc CN là thời Xuân                                                                             207
Thu, từ năm 475 đời Châu Nguyên Vƣơng trở đi, chỉ
còn sáu nƣớc lớn (Tần, Triệu, Hàn, Yên, Tề, Sở, Tấn) tranh
giành lẫn nhau nên gọi là thời Chiến Quốc). Tuẫn táng là hình
thức chôn sống hay giết rồi chôn những ngƣời tùy tùng, ái thiếp
trong lăng mộ của các bậc đế vƣơng, công hầu.
(2) Chỉ hoàng đế. Vua ngồi trên ngai, quay mặt về hƣớng Nam,
tự xƣng là Trẫm. Thời cổ, Trẫm là tiếng thông dụng để tự xƣng.
Sau này, Tần Thủy Hoàng cấm ngặt ngƣời khác tự xƣng là
Trẫm. Các đời vua sau này, cũng bắt chƣớc xƣng là Trẫm.
(3) Hiểu theo quan điểm Nho gia, những điều này có nghĩa là
nghiên cứu sự vật để hiểu thấu tận cùng lý lẽ, tu dƣỡng thân, giữ
cho trong nhà yên vui, thuận thảo, giúp ích cho đất nƣớc, làm
cho thiên hạ thái bình, làm sáng tỏ cái đức sáng, đạt đƣợc đạo
tốt lành.
(4) Nguyên văn: “Lƣơng thƣợng chi quân tử” (kẻ quân tử ở trên
xà nhà) là thành ngữ chỉ kẻ trộm.
(5) Quan, quả, cô, độc: quan là góa vợ, quả là góa chồng, cô là
không cha mẹ, độc là không con cái.
(6) Trong nhà Nho hay có câu: “Quân tử viễn trù” (quân tử nên
tránh xa bếp núc). Ở đây, Tổ quở ngƣời học Nho chỉ nói suông
“xa lánh bếp núc”, nhƣng vẫn tham ăn tục uống.                                                                            208
ẤN QUANG ÐẠI SƢ GIA NGÔN LỤC
PHẦN 5
VII.  PHÂN ĐỊNH GIỚI HẠN GIỮA THIỀN VÀ TỊNH
* Thiền và Tịnh lý vốn không hai. Nếu luận về Sự Tu thì tƣớng
trạng [của hai pháp này] khác xa nhau. Thiền nếu chẳng triệt
ngộ, triệt chứng sẽ chẳng thể siêu xuất sanh tử. Vì thế, tổ Quy
Sơn nói: “Do chánh nhân đốn ngộ sẽ dần dần thoát trần. Nếu đời
đời bất thoái sẽ quyết định có lúc thành Phật”. Ngài còn nói: “Sơ
tâm do duyên đốn ngộ tự tánh, nhƣng vẫn chƣa thể diệt sạch
ngay tức khắc tập khí trong bao kiếp từ vô thỉ. Vì thế phải dạy họ
trừ sạch nghiệp thức hiện đang lƣu chuyển”.                                                                            209
Ngài Hoằng Biện nói: “Đốn ngộ tự tánh thì [sở ngộ]
giống hệt chƣ Phật, nhƣng chƣa thể trừ sạch ngay đƣợc vô thỉ
tập khí, nên phải tốn công đối trị mới hòng thuận tánh khởi dụng.
Nhƣ ngƣời ăn cơm, chẳng thể ăn một miếng liền no ngay đƣợc!”
Ngài Trƣờng Sa Sầm nói: “Thiện tri thức trong thiên hạ chƣa
chứng đƣợc quả Niết Bàn là vì công đức chẳng bằng chƣ thánh
vậy!” Vì thế, Ngũ Tổ Giới sanh làm Tô Đông Pha, Thảo Đƣờng
Thanh thân sau làm Lỗ Công. Cổ kim tông sƣ triệt ngộ nhƣng
chƣa triệt chứng phần nhiều đều nhƣ vậy. Ấy là do chỉ cậy vào
tự lực, chẳng cầu Phật gia bị, hễ Hoặc nghiệp còn mảy may
chƣa tận sẽ nhất định chẳng thể thoát khỏi sanh tử đƣợc!
Về phần Tịnh Độ, hễ đầy đủ ba thứ Tín - Hạnh - Nguyện liền có
thể đới nghiệp vãng sanh. Một khi  đã vãng sanh sẽ vĩnh viễn
thoát khỏi sanh tử. Bậc ngộ chứng sẽ mau đạt tới bậc Bổ Xứ,
ngƣời chƣa ngộ cũng sẽ chứng địa vị A Bệ Bạt Trí. Bởi thế, Hoa
Tạng hải chúng đều nguyện vãng sanh; những bậc tri thức trong
Tông, trong Giáo cùng sanh Tịnh Độ. Rõ ràng là do cậy vào Phật
lực kiêm thêm cái tâm khẩn thiết nên đƣợc cảm ứng đạo giao; do
vậy, chóng thành Chánh Giác.
Xét tình thế hiện tại, đừng quan tâm tới các Thiền lục nữa, cứ
chuyên tu Tịnh nghiệp, dùng cái tâm chẳng nhiễm mảy trần để
chuyên trì thánh hiệu  vạn đức hồng danh. Niệm ra tiếng hoặc
niệm thầm, chẳng tạp, chẳng gián đoạn sao cho niệm khởi từ
tâm, tiếng thấu vào tai, từng chữ phân minh, từng câu chẳng
loạn. Lâu ngày chầy tháng, tự thành một phiến, tự chứng Niệm
Phật tam muội, tự biết Tây phƣơng tông phong. Đấy là dùng
công phu “phản văn tự tánh” (xoay trở lại nghe nơi tự tánh) của
Quán Âm để tu tịnh nghiệp “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp
nối” của Thế Chí, tuy là Tịnh nhƣng chính là Thiền, còn gì hay
khéo hơn!                                                                            210
* Ngƣời tu Thiền Định (chỉ tứ thiền, bát định) và
ngƣời tham Thiền chỉ cậy vào tự lực, chẳng cầu Phật gia bị. Vì
thế lúc công phu đắc lực, chân vọng chống cự nhau, thƣờng có
các thứ cảnh giới huyễn hoặc xuất hiện, huyễn hoặc biến mất! Ví
nhƣ lúc trời mƣa dầm sắp tạnh, mây dầy bị xé toạc,  chợt thấy
ánh mặt trời chỉ trong khoảng khắc, biến hóa bất trắc. Nếu chẳng
phải là ngƣời thật sự có đạo nhãn sẽ chẳng thể phân biệt biết rõ
tất cả những cảnh giới ấy. Nếu tƣởng lầm đó chính là dấu hiệu
[chứng tỏ mình chứng đắc] sẽ bị ma dựa phát cuồng, không sao
chữa đƣợc!
Ngƣời niệm Phật dùng lòng tín nguyện chân thành, thiết tha, trì
vạn đức hồng danh ví nhƣ mặt trời rực rỡ giữa hƣ không, đi trên
đƣờng lớn của vua, chẳng những quỷ mị vọng lƣợng biến mất
tăm tích, ngay cả những ý niệm ngoắt ngoéo, sai trái cũng chẳng
sanh từ đâu đƣợc. Suy đến cùng cực, chẳng qua là: Niệm đến
mức công thuần, lực tận thì toàn tâm là Phật, toàn Phật là tâm,
tâm - Phật bất nhị, tâm - Phật nhƣ một mà thôi! Chỉ sợ con ngƣời
chẳng biết đến hạnh ấy, lý ấy, nên chẳng thể xứng hợp ý nguyện
phổ độ chúng sanh của Phật; chứ phải đâu là bí mật chẳng
truyền, chỉ truyền riêng cho mình ông ƣ? Nếu có những “diệu
quyết” khẩu truyền kín đáo thì đấy chính là tà ma ngoại đạo, chứ
nào phải là Phật pháp!
* Hòa Thƣợng Pháp Tràng sẵn đủ linh căn từ trƣớc, thoạt đầu là
bậc chân nho, sau thành bậc chân tăng; có thể nói là chẳng uổng
công đọc sách học đạo vậy! Đời có bậc chân nho thì mới có bậc
chân tăng. Những hạng vô lại xuất gia thảy đều là ma vƣơng
ngoại đạo phá hoại Phật pháp vậy! Ngữ lục của Ngài (Pháp
Tràng) thật là thống khoái, thẳng chóng, mở toang tự tâm con
ngƣời, rất nên khắc in lƣu thông để làm pháp bảo nhà Thiền. Thế
nhƣng, Ngài chỉ phát huy đạo lý “chỉ thẳng tâm ngƣời, thấy tánh
thành Phật”; chúng ta chuyên tu Tịnh nghiệp, đừng nên so  đo,                                                                             211
đoán mò lời Ngài đến nỗi đánh mất lợi ích cả hai bên
vậy. Chẳng thể chẳng biết điều này.
Tông gia (Thiền tông) chỉ đề xƣớng bổn phận, những thứ khác
đều chẳng thèm xiển dƣơng. Việc tu nhân đạt quả, đoạn Hoặc
chứng chân của nhà Thiền đều là ngầm tự tu trì. Những kẻ đứng
ngoài thấy nhà Thiền chẳng đề xƣớng những đạo lý tu chứng ấy,
bèn cho rằng Tông gia hoàn toàn chẳng dùng đến những pháp
đó. Đấy là báng Tông, lẫn báng Phật, báng Pháp vậy!
* Nên biết rằng: trong hết thảy pháp môn đức Phật đã nói, đều
phải đoạn Hoặc chứng Chân thì mới có thể liễu sanh thoát tử,
tuyệt đối chẳng có chuyện chƣa đoạn sạch Hoặc mà liễu thoát
đƣợc! Với pháp môn Niệm Phật, nếu ngƣời vãng sanh đã đoạn
Hoặc nghiệp thì sẽ mau chứng Pháp Thân, ngƣời tuy còn đủ
Hoặc nghiệp mà vãng sanh thì cũng đã vƣợt lên địa vị thánh
nhân. Một đằng hoàn toàn cậy vào tự lực, một đằng hoàn toàn
nhờ vào Phật lực kiêm thêm tự lực.
Điều thứ hai, [sự tu trì] khó dễ thật là một trời một vực. Thƣờng
có kẻ thông minh, đọc sách Thiền qua quít, hiểu chút vị Thiền,
bèn toan lấy Thiền làm mạng, học đòi làm bậc cao nhân thông
suốt, nhƣng toàn là hạng chẳng biết Thiền lẫn Tịnh đến nơi đến
chốn, cứ lầm tƣởng mình là hạng tôn quý, đại căn. Tuyệt đối chớ
nên bắt chƣớc theo thứ tri kiến nhƣ thế. Bắt chƣớc theo đó, chỉ e
trải kiếp số nhƣ vi trần vẫn chẳng mong gì đƣợc liễu sanh thoát
tử cả!
* “Quyền” nghĩa là Nhƣ Lai tùy thuận theo căn cơ của chúng
sanh mà đặt bày phƣơng tiện. “Thật” nghĩa là nói đến những
nghĩa lý do chính tự tâm đức Phật chứng đƣợc. “Đốn” là chẳng
cần đến thứ tự, nhanh thẳng, mau lẹ, nhất siêu trực nhập. “Tiệm”                                                                             212
nghĩa là tấn tu dần dần theo thứ tự, chứng nhập dần
dần, phải trải nhiều kiếp, nhiều đời mới đích thân chứng đƣợc
Thật Tƣớng.
Ngƣời tham Thiền cho rằng pháp Tham Thiền là pháp “chỉ thẳng
tâm ngƣời, thấy tánh thành Phật”. Cố nhiên, pháp này thật sự là
pháp Ðốn, nhƣng họ chẳng biết rằng: Tham Thiền dù đại triệt đại
ngộ, minh tâm kiến tánh thì cũng mới chỉ thấy đƣợc đức Phật lý
tánh sẵn có ở ngay trong tâm này! Nếu là căn tánh đại Bồ Tát thì
vừa ngộ liền chứng, tự có thể mãi mãi thoát khỏi luân hồi, vƣợt
xa tam giới. Từ đấy, dùng thƣợng cầu hạ hóa làm nền tảng để
trang nghiêm phƣớc và trí.
Xét ra, trong trăm ngàn ngƣời đại triệt đại ngộ chỉ đƣợc một hai
vị thuộc vào căn tánh này. Còn nhƣ những kẻ căn khí hơi kém
hơn, dù có thể diệu ngộ nhƣng chƣa thể đoạn trừ Kiến Tƣ Hoặc
thì vẫn phải thuộc trong tam giới, thọ sanh thọ tử. Đã phải thọ
sanh tử thì từ ngộ thành mê là nhiều, từ ngộ trở thành ngộ lại ít.
Nhƣ vậy, tuy pháp này thực sự là viên đốn, nhƣng nếu chẳng
phải đúng ngƣời thì cũng chẳng thật sự đƣợc lợi ích thật nhanh
chóng, nên nó cũng trở thành pháp Quyền Tiệm mà thôi. Vì sao
vậy? Do cậy vào Tự Lực; nếu Tự Lực mƣời phần đầy đủ thì họa
may sẽ đƣợc nhƣ thế; còn nhƣ chỉ hơi thiếu chút phần, sẽ chỉ
ngộ đƣợc lý tánh nơi cửa miệng, chẳng thể đích thân chứng
đƣợc lý tánh. Hiện thời, bậc đại triệt đại ngộ còn khó có đƣợc
mấy ngƣời, huống là ngƣời chứng đƣợc điều mình đã ngộ!
Một pháp Niệm Phật thông trên suốt dƣới, vừa là Quyền vừa là
Thật, vừa Tiệm vừa Đốn, chẳng thể dùng giáo lý tầm thƣờng
phán định đƣợc. Trên đến bậc Đẳng Giác Bồ Tát, dƣới đến
chủng tánh A Tỳ đều cùng nên tu tập (do đấy nói là “thông trên
suốt dƣới”). Nhƣ Lai vì chúng sanh thuyết pháp chỉ nhằm làm
cho chúng sanh liễu sanh thoát  tử. Trong các pháp môn khác,
bậc thƣợng căn có thể liễu sanh thoát tử ngay trong đời này, còn
hạ căn bao kiếp khó lòng liễu đƣợc! Chỉ mỗi mình pháp này,
chẳng cần biết là chủng tánh, căn cơ nào, cũng đều có thể vãng                                                                             213
sanh Tây Phƣơng ngay trong đời này, hễ vãng sanh
liền liễu sanh thoát tử. Pháp thẳng chóng nhƣ thế há có thể gọi là
Tiệm ƣ?
Chỉ do căn cơ [đƣợc hóa độ bởi pháp này] chẳng giống với căn
cơ của các pháp viên đốn thông thƣờng nên pháp này tựa hồ là
Tiệm, nhƣng oai lực của pháp môn này phát xuất từ thệ nguyện
muốn cho những căn cơ hạ liệt ấy đều mau chóng hƣởng đƣợc
lợi ích lớn của đức Nhƣ Lai. Lợi ích ấy nằm ở chỗ cậy vào Phật
từ lực. Phàm những ngƣời giảng Thiền nếu chƣa nghiên cứu kỹ
Tịnh tông, chƣa có ai không coi pháp này là thiển cận rồi khinh
thƣờng. Nếu nghiên cứu kỹ Tịnh tông ắt sẽ cạn kiệt lòng thành,
tận hết sức lực hoằng dƣơng, há nào chấp mãi vào những lý
luận Quyền - Thật, Tiệm - Đốn để tự mình lầm, làm ngƣời khác
lầm nữa ƣ?
* Nói đến Thủ - Xả (lấy - bỏ) là ƣớc trên Thật Nghĩa rốt ráo mà
nạn (“nạn” tức là cật vấn, bắt bẻ), chẳng biết rằng: không Thủ
không Xả rốt ráo chỉ là chuyện sau khi đã thành Phật! Nếu chƣa
thành Phật, còn đang trong giai đoạn “đoạn Hoặc chứng Chân”
thì đều thuộc về Thủ  - Xả cả! Đã chấp nhận chuyện thủ  - xả
“đoạn Hoặc chứng Chân”, sao lại chẳng chấp nhận chuyện thủ -
xả “bỏ Đông lấy Tây, lìa cấu giữ tịnh”?
Đối với pháp Tham Thiền thì thủ - xả đều là sai, nhƣng đối với
một pháp Niệm Phật, thủ - xả lại là đúng. Một đằng chuyên suy
xét tự tâm, một đằng kiêm nhờ vào Phật lực. Kẻ kia chẳng xét
đến duyên do của từng của pháp môn, lầm đem pháp Tham
Thiền phá pháp Niệm Phật; vậy là hiểu lầm ý mất rồi!
Vô thủ - xả vốn là đề hồ, nhƣng niệm Phật mà cũng muốn không
thủ - xả thì không thủ - xả bèn thành thuốc độc! Mùa Hạ dùng Cát
Căn (1), mùa Đông khoác áo Cừu, khát uống, đói ăn, chẳng sai                                                                             214
trái gì, cũng chẳng thể cố chấp đƣợc! Chỉ cốt sao
chọn lấy điều thích nghi thì đƣợc lợi ích chẳng bị trở ngại gì!
* Coi “bỏ Đông lấy Tây” là sanh diệt tức là chẳng biết rằng “chấp
Đông phế Tây” chính là đoạn diệt! Chƣa chứng Diệu Giác, có ai
là không lấy  - bỏ? Tam kỳ (2) luyện hạnh, trăm kiếp tu nhân,
thƣợng cầu, hạ hóa, đoạn Hoặc chứng Chân, không sự nào
chẳng phải là lấy - bỏ đó sao? Phải biết rằng: đức Nhƣ Lai muốn
cho hết thảy chúng sanh mau chứng Pháp Thân và Tịch Quang
cho nên Ngài mới đặc biệt khuyên trì danh hiệu Phật, cầu sanh
Tây Phƣơng.
* Một chuyện Tham Thiền nói dễ dàng sao! Cổ nhân nhƣ ngài
Triệu Châu Thẩm thiền sƣ, xuất gia từ nhỏ, đến hơn tám mƣơi
tuổi vẫn hành cƣớc, nên mới có bài tụng rằng:
Triệu Châu bát thập do hành cƣớc,
Chỉ vị tâm đầu vị tiễu nhiên.
(Triệu Châu tám chục còn hành cƣớc,
Do bởi cõi lòng chửa lặng không!)
Ngài Trƣờng Khánh ngồi rách bảy cái bồ đoàn rồi mới khai ngộ.
Ngài Dũng Tuyền phải nhọc nhằn hết bốn mƣơi năm. Ngài Tuyết
Phong ba lƣợt lên gặp ngài Đầu Tử, chín lần lên Động Sơn. Họ
là bậc đại Tổ Sƣ đại triệt, đại ngộ mà còn phải gian nan đến thế.
Lũ ma con kia mới nghe qua ma thuyết đều đƣợc khai ngộ ngay,
vậy thì những vị Tổ Sƣ vừa nói trên đây có xách giày cho chúng
cũng không đáng sao?                                                                            215
* Những lời “chẳng chấp trƣớc”... về Lý thì đúng, nhƣng về Sự
thì chẳng phải là điều hạng phàm phu sát đất có thể làm nổi!
Suốt ngày mặc áo, ăn cơm, rồi vênh váo mình bất chấp đói lạnh,
bảo kẻ suốt ngày bụng rỗng tuếch, chẳng đƣợc chén nƣớc, hạt
cơm, đói lả gần chết rằng: “Tôi coi gan rồng tủy phƣợng hệt nhƣ
uế vật, nghĩ đến là muốn ói, huống hồ là nuốt xuống!” Toàn là nói
suông nhƣ nhau thôi!
Nay kẻ tham Thiền nếu chẳng hiểu giáo lý thì cái Không giải
thoát đó phần nhiều trở thành bệnh cho họ. Còn nhƣ không cảnh
hiện tiền khi tịnh tọa, lắng ý, thì bất quá là do [ý niệm] lặng trong,
chế ngự đƣợc vọng nên ngẫu nhiên huyễn cảnh phát hiện đó
thôi! Nếu tƣởng lầm đấy chính là dấu hiệu chứng tỏ mình chứng
đắc, bèn sanh lòng mừng rỡ lớn lao thì sẽ mất trí thành cuồng,
Phật cũng khó cứu đƣợc!
Nếu may mắn suy xét kỹ, chẳng chấp trƣớc, buông bỏ huyễn
vọng, chợt quán thông các pháp môn thì đấy mới là: đi trong
chốn gai góc đã lâu, chợt đến chỗ khoảng khoát. Ngƣời đời mạt
căn cơ hèn kém, tri thức hiếm hoi, nếu chẳng nhờ vào Phật từ
lực chuyên tu Tịnh nghiệp, chỉ cậy vào tự lực tham cứu Thiền
tông thì minh tâm kiến tánh, đoạn Hoặc chứng chân thành công
hiếm có mấy ai, còn hạng tƣởng huyễn là chân, lấy mê làm ngộ,
ma dựa phát cuồng thật nhiều lắm! Vì thế, các vị Vĩnh Minh, Liên
Trì v.v... quán sát căn cơ đƣơng thời, cực lực chủ trƣơng pháp
môn Tịnh Độ.
* Thiền tức là Chân Nhƣ Phật Tánh trong bổn tâm chúng ta,
Tông môn gọi là “bổn lai diện mục trƣớc lúc cha mẹ sanh ra”.
Tông môn chẳng nói toạc ra, cốt sao ngƣời tham cứu tự hiểu lấy,
nên mới nói nhƣ vậy. Chứ thật ra nó là cái tâm thể thuần chân,
không Năng, không Sở, vừa Tịch vừa Chiếu, ly niệm linh tri (“ly                                                                             216
niệm linh tri” là không có ý niệm suy nghĩ gì, nhƣng
mọi cảnh hiện hữu đều hiểu rõ cả).
Tịnh Độ là Tín Nguyện Trì Danh cầu sanh Tây Phƣơng, chứ
chẳng phải chỉ riêng “duy tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà!” “Có Thiền”
là cực lực tham cứu đến mức niệm lặng, tình mất, thấy thấu tột
“bổn lai diện mục trƣớc khi cha mẹ sanh ra”, minh tâm kiến tánh.
“Có Tịnh Độ” là chân thật phát Bồ Đề tâm, sanh tín, phát nguyện,
trì danh hiệu Phật cầu sanh Tây Phƣơng. [Nói] Thiền và Tịnh Độ
chỉ là ƣớc về Giáo, ƣớc theo Lý [mà nói].
“Có Thiền, có Tịnh Độ” là ƣớc về căn cơ, ƣớc theo mặt tu hành.
Giáo Lý luôn luôn nhƣ thế, Phật chẳng thể tăng, phàm chẳng thể
giảm. Ƣớc theo căn cơ để tu hành thì phải y giáo khởi tu, tu hành
đến cùng cực để chứng lý, chứ thật sự chẳng có gì khác cả!
Thứ hai là văn tuy tƣơng tự, nhƣng thật ra khác biệt rất lớn. Hãy
nên hiểu kỹ càng, đừng bộp chộp. Nếu tham thiền chƣa ngộ,
hoặc ngộ chƣa triệt để, đều chẳng thể gọi là “có Thiền”. Nếu
niệm Phật nhƣng thiên chấp duy tâm, lại không tín nguyện, hoặc
có tín nguyện nhƣng chẳng chân thật, thiết tha, mà chỉ hời hợt,
hờ hững, thực hành qua quít, hoặc hạnh tuy tinh tấn nhƣng tâm
luyến cảnh ma, hoặc cầu đời sau sanh vào nhà phú quý hƣởng
thú vui ngũ dục, hoặc cầu sanh lên trời hƣởng phƣớc lạc trời,
hoặc cầu đời sau xuất gia làm tăng nghe một hiểu đƣợc cả ngàn,
đắc đại tổng trì, hoằng dƣơng đạo pháp phổ lợi chúng sanh, đều
chẳng đƣợc gọi là “có Tịnh Độ”!
* “Có Thiền, có Tịnh Độ; khác nào cọp mọc sừng, hiện đời làm
thầy ngƣời, đời sau làm Phật, Tổ” là ngƣời triệt ngộ Thiền Tông,
minh tâm kiến tánh, lại còn thâm nhập Kinh tạng, biết hết các
pháp môn Quyền, Thật của Nhƣ Lai, nhƣng trong các pháp môn
lại chỉ chọn lấy một pháp Tín Nguyện Niệm Phật để tự lợi, lợi
ngƣời làm chánh hạnh tu tập. Bậc thƣợng phẩm thƣợng sanh                                                                             217
đọc tụng kinh Đại Thừa, hiểu Đệ Nhất Nghĩa đã nói
trong Quán kinh chính là hạng ngƣời này.
Ngƣời ấy có đại trí huệ, có đại biện tài, ma tà ngoại đạo nghe tên
vỡ mật, nhƣ hổ đội sừng oai mãnh khôn sánh! Có ai đến cầu học
bèn tùy cơ thuyết pháp: nên dùng Thiền Tịnh song tu để tiếp độ
bèn dùng Thiền Tịnh song tu để tiếp độ; nên dùng chuyên tu Tịnh
Độ để tiếp độ bèn dùng chuyên tu Tịnh Độ để tiếp độ. Bất luận là
thƣợng, trung, hạ căn, không ai chẳng đƣợc lợi ích; há chẳng
phải là đạo sƣ của trời ngƣời ƣ?
Đến lúc lâm chung đƣợc Phật tiếp dẫn, vãng sanh thƣợng phẩm,
trong khoảng khảy ngón tay chứng Vô Sanh Nhẫn, tệ nhất cũng
chứng đƣợc Sơ Trụ. Cũng có ngƣời đốn siêu các địa vị, đạt đến
Đẳng Giác. Bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo còn có thể hiện thân làm
Phật trong trăm cõi, huống là những địa vị sau đó, càng cao càng
thù thắng, cho đến địa vị thứ bốn mƣơi mốt là Đẳng Giác! Vì thế
nói là: “Đời sau làm Phật, Tổ!”
* “Không Thiền, có Tịnh Độ; vạn ngƣời tu vạn về; nếu đƣợc thấy
Di Đà, lo gì chẳng khai ngộ” là có ngƣời tuy chƣa minh tâm kiến
tánh, nhƣng quyết chí cầu sanh Tây Phƣơng. Do trong kiếp xƣa,
Phật từng phát đại thệ nguyện nhiếp thọ chúng sanh nhƣ mẹ nhớ
con. Nếu chúng sanh thật sự có thể nhƣ con nhớ mẹ, chí thành
niệm Phật sẽ cảm ứng đạo giao, liền đƣợc nhiếp thọ. Ngƣời tận
lực tu Định Huệ cố nhiên đƣợc vãng sanh, nhƣng kẻ ngũ nghịch
thập ác, lâm chung bị sự khổ bức bách, phát lòng hổ thẹn lớn
lao, xƣng niệm danh hiệu Phật hoặc tới mƣời tiếng, hoặc chỉ một
tiếng rồi liền lâm chung, cũng đều đƣợc Phật hóa thân tiếp dẫn
vãng sanh. Chẳng phải là “vạn ngƣời tu, vạn ngƣời về” hay sao?
Kẻ ấy tuy niệm Phật chẳng bao nhiêu, nhƣng do cực kỳ mãnh liệt
nên đạt đƣợc lợi ích lớn lao nhƣ thế, chớ nên so sánh nhiều ít
với những kẻ niệm Phật hời hợt, qua loa! Đã sanh về Tây                                                                             218
Phƣơng, thấy Phật nghe pháp, dù có nhanh chậm
bất đồng, nhƣng đều đã cao dự dòng thánh, vĩnh viễn chẳng
thoái chuyển, tùy theo căn tánh cạn hay sâu, là Tiệm hay Đốn mà
chứng các quả vị. Đã đƣợc chứng quả, cần chi phải nói đến khai
ngộ nữa! Vì thế nói: “Nếu đƣợc thấy Di Đà, lo gì chẳng khai ngộ!”
* “Có Thiền không Tịnh Độ, mƣời ngƣời chín chần chừ, ấm cảnh
nếu hiện tiền, chớp mắt đi theo nó”: Ngƣời tuy triệt ngộ Thiền
tông, minh tâm kiến tánh, nhƣng Kiến Tƣ phiền hoặc chẳng dễ
đoạn trừ, phải qua nhiều duyên rèn luyện để trừ sạch không còn
sót gì mới có thể thoát khỏi phần đoạn sanh tử. Với kẻ chẳng
đoạn đƣợc chút gì thì chẳng cần bàn đến nữa! Dù cho đoạn đến
mức còn một mảy phiền não chƣa trừ sạch thì vẫn hệt nhƣ cũ:
khó tránh nổi luân hồi lục đạo! Biển sanh tử sâu thăm thẳm, nẻo
Bồ Đề xa vời vợi, còn chƣa về đƣợc nhà đã mạng chung. Trong
mƣời ngƣời đại triệt đại ngộ, chín ngƣời đã nhƣ thế; cho nên nói
“mƣời ngƣời chín chần chừ” (thập nhân cửu ta lộ).
Ta là “ta đà”, thông thƣờng nói là “đảm các” (chần chừ). “Ấm
cảnh” là “trung ấm thân cảnh”, tức là các cảnh hiện ra bởi các
nghiệp lực thiện ác trong đời này và bao kiếp. Khi cảnh này hiện,
trong khoảng chớp mắt sẽ theo nghiệp lực thiện hay ác nào
mạnh mẽ nhất đi thọ sanh trong đƣờng thiện hay ác, chẳng mảy
may tự chủ đƣợc; nhƣ ngƣời mắc nợ, chủ nợ nào mạnh sẽ lôi đi.
Tâm tình lắm mối, đặt nặng nơi nào sẽ nghiêng về đó. Ngũ Tổ
Giới tái sanh làm Tô Đông Pha, Thảo Đƣờng Thanh lại sanh làm
Lỗ Công, họ còn là căn cơ bậc thƣợng đấy nhé! Vì thế nói: “Ấm
cảnh nếu hiện tiền, chớp mắt đi theo nó!”
Chữ Ấm có nghĩa là ngăn che, ý nói: do nghiệp lực này ngăn che
khiến chân tánh chẳng thể hiển hiện đƣợc. Có kẻ cho rằng “ta
đà” nghĩa là lầm lạc, “ấm cảnh” là cảnh [hiển hiện bởi] ngũ ấm
ma, toàn là do chẳng hiểu chữ Thiền và chữ Có nên mới nói hồ
đồ nhƣ thế. Lẽ nào bậc đại triệt đại ngộ mƣời ngƣời hết chín kẻ                                                                             219
lạc lối, chạy theo cảnh ngũ ấm ma bị ma dựa phát
cuồng ƣ? Phàm những kẻ bị ma dựa phát cuồng toàn là hạng
tăng thƣợng mạn chẳng biết giáo lý, chẳng rõ tự tâm, tu mù
luyện quáng đó thôi, sao lại gán cho bậc đại triệt đại ngộ là chẳng
biết tốt xấu vậy? Điều này quan hệ rất lớn, chẳng thể không biện
định rõ!
* “Không Thiền, không Tịnh Độ; giƣờng sắt và cột đồng, vạn kiếp
cùng ngàn đời, không một ai nƣơng dựa”. Có kẻ cho rằng câu
“không Thiền, không Tịnh Độ” chỉ kẻ vùi đầu tạo nghiệp, chẳng tu
thiện pháp, thật lầm lẫn quá!
Pháp môn vô lƣợng, nhƣng chỉ có Thiền và Tịnh Độ phù hợp với
các căn cơ nhất. Kẻ nào chƣa triệt ngộ, lại chẳng cầu vãng sanh,
hời hợt, qua quít tu các thiện pháp khác. Đã chẳng thể cân bằng
Định Huệ, đoạn Hoặc chứng Chân, lại chẳng cậy vào Phật lực để
đới nghiệp vãng sanh; do đã tạo ác nghiệp, khó trốn khỏi ác báo.
Một khi hơi thở ra chẳng trở vào, liền đọa địa ngục, rõ ràng là trải
kiếp dài lâu nằm ngồi, ôm ấp giƣờng sắt, trụ đồng để đền trả các
thứ ác nghiệp: tham lam thanh sắc, sát sanh hại mạng v.v... Chƣ
Phật, Bồ Tát tuy rủ lòng thƣơng xót, nhƣng họ bị ác nghiệp
chƣớng ngăn che nên chẳng thể đƣợc lợi ích.
Ngƣời xƣa nói: “Ngƣời tu hành nếu không chánh tín, cầu vãng
sanh Tây Phƣơng, tu lung tung các điều thiện khác thì gọi là oan
gia đời thứ ba” chính là nói đến tình cảnh này. Bởi lẽ, do đời này
tu hành, đời sau hƣởng phƣớc. Cậy phƣớc làm ác ắt bị đọa lạc.
Tạm vui trong đời này, khổ mãi trong cả kiếp dài lâu. Ví nhƣ
nghiệp địa ngục tiêu hết, lại chuyển sanh làm súc sanh, muốn lại
đƣợc thân ngƣời, khó vô cùng khó!
Vì thế, đức Phật dùng tay nhón lấy chút đất, hỏi A Nan: “Đất
trong tay ta nhiều hay đất trong đại địa nhiều?” A Nan bạch Phật:
“Đất trong đại địa nhiều!” Phật dạy: “Đƣợc thân ngƣời nhƣ đất                                                                             220
trong tay ta, mất thân ngƣời nhƣ đất trong đại địa”.
Nói “muôn kiếp và ngàn đời, không một ai nƣơng dựa” là do bị
ràng buộc bởi vần điệu của bài kệ nên chỉ nói thiển cận nhƣ thế.
Hết thảy pháp môn chuyên cậy vào tự lực, pháp môn Tịnh Độ
chuyên cậy vào Phật lực. Hết thảy các pháp môn phải hết sạch
Hoặc nghiệp mới có thể liễu sanh tử. Pháp môn Tịnh Độ đới
nghiệp vãng sanh liền dự vào dòng Thánh. Đại sƣ Vĩnh Minh sợ
thế gian chẳng biết nên soạn riêng bài Liệu Giản này để chỉ dạy
cho đời sau, có thể nói là “chiếc bè báu nơi bến mê, là ngƣời dẫn
lối nơi đƣờng hiểm!” Tiếc là mọi ngƣời trong thế gian đọc lƣớt
qua, chẳng chịu nghiên cứu đến cùng tột, chẳng phải là đồng
phận ác nghiệp xui khiến đến nỗi thành nhƣ thế chăng?
* Đạt Ma từ Tây qua, truyền Phật tâm ấn, chỉ thẳng tâm ngƣời,
thấy tánh thành Phật. Nhƣng cái để thấy, để thành ấy chính là
thiên chân Phật tánh có sẵn ngay nơi tâm chúng ta, [Ngài dạy
nhƣ thế] để con ngƣời trƣớc hết biết đƣợc cái gốc rồi tự dựa vào
đó mà tấn tu hết thảy các pháp tu chứng cho đến khi nào tu đƣợc
cái không thể tu, chứng đƣợc cái không thể chứng mới thôi! Chứ
chẳng có nghĩa là vừa ngộ liền đầy đủ cả phƣớc lẫn huệ, viên
mãn rốt ráo Phật đạo Bồ Đề! Giống nhƣ vẽ rồng điểm nhãn để
[ngƣời nghe] tự mình đƣợc thọ dụng.
Do vậy, Thiền tông phát triển rực rỡ, chói ngời nơi Chấn Đán
(Trung Hoa), đạo “tâm này chính là Phật”, pháp “phi tâm phi
Phật” lan khắp hoàn vũ. Ngƣời thiên cơ sâu đối với mỗi cơ, mỗi
cảnh liền biết đầu mối, liền phun châu nhả ngọc, chẳng vƣớng lối
sáo mòn, vào sống ra chết trọn chẳng ngăn ngại, sợ hãi, đƣợc
đại giải thoát, đắc đại tự tại. Nếu căn cơ hơi kém hơn, dù đại
triệt, đại ngộ, nhƣng phiền não tập khí chƣa thể trừ sạch thì vẫn
là ngƣời trong sanh tử y nhƣ cũ. Xuất thai cách ấm (3) đa phần
bị mê. Bậc đại ngộ còn nhƣ thế, huống kẻ chƣa ngộ ƣ? Vì  thế                                                                             221
phải chuyên tâm dốc chí vào pháp môn Tịnh Độ cậy
vào Phật từ lực mới là kế sách ngàn phần ổn thỏa, vạn phần
thích đáng vậy!
* Trong Luật, Giáo, Thiền Tông, trƣớc hết phải hiểu sâu giáo lý
rồi mới y giáo tu hành. Tu hành công sâu, đoạn Hoặc chứng
Chân mới thoát khỏi sanh tử. Nếu chẳng hiểu giáo lý, bèn là tu
mù luyện quáng. Nếu không, đƣợc chút ít đã cho là đủ bèn bị ma
dựa phát cuồng. Dù cho hiểu giáo lý, công tu hành sâu xa, vẫn
phải đoạn Hoặc, nếu còn chút mảy may nào chƣa đoạn sạch sẽ
vẫn y nhƣ cũ, chẳng thể thoát khỏi cảnh khổ đƣợc! Mãi đến khi
Hoặc nghiệp hết sạch mới có thể thoát ly sanh tử, nhƣng vẫn còn
cách địa vị Phật rất xa, phải trải bao kiếp tấn tu mới viên mãn
đƣợc Phật quả.
Ví nhƣ dân hèn sanh ra đã thông minh, đọc sách, học văn nhiều
năm khó nhọc, học vấn đã thành, thi đậu làm quan. Do có tài
năng lớn, từ chức quan nhỏ đƣợc thăng cấp dần đến khi làm Tể
Tƣớng, quan vị cực phẩm nhƣng không thể nào lên cao hơn
đƣợc nữa! Địa vị bậc nhất trong đám quần thần, nhƣng so với
thái tử, sang hèn khác nhau một trời, một vực, huống hồ so với
hoàng đế? Suốt đời làm bầy tôi, tuân hành lệnh vua, cúc cung
tận tụy giúp vua cai trị quốc gia. Nhƣng cái địa vị tể tƣớng ấy thật
chẳng dễ dàng gì! Cả nửa đời siêng năng, vất vả, ra sức nhẫn
nại. Cho đến cuối cùng cũng chẳng hơn đƣợc thế. Còn kẻ học
vấn, tài năng sút kém đôi chút chẳng đạt đƣợc nhƣ thế thì có đến
trăm, ngàn, vạn, ức ngƣời! Đấy là tự lực.
Học vấn tài năng ví nhƣ hiểu sâu giáo lý, y giáo tu hành. Địa vị
đến bậc tể tƣớng ví nhƣ công tu hành sâu, đoạn Hoặc chứng
Chân. “Chỉ có thể xƣng là Thần (bầy tôi), chẳng dám xƣng là
vua” ví nhƣ tuy ra khỏi sanh tử, vẫn chƣa thành Phật. “Những kẻ
học vấn chẳng đủ, chẳng thể đạt đƣợc nhƣ thế rất nhiều” ví nhƣ                                                                             222
rất nhiều kẻ chƣa đoạn hết Hoặc, chẳng thể thoát
khỏi biển khổ sanh tử.
* Trong pháp môn Niệm Phật dù chẳng hiểu giáo lý, chƣa đoạn
Hoặc nghiệp, chỉ cần tín nguyện trì danh cầu sanh Tịnh Độ, lúc
lâm chung, quyết định đƣợc Phật đích thân tiếp dẫn vãng sanh
Tây Phƣơng. Đã sanh về Tây Phƣơng, gặp Phật nghe pháp, ngộ
Vô Sanh Nhẫn, liền ngay trong một đời ấy, quyết định bổ vào địa
vị Phật. Đấy là Phật lực lại kiêm tự lực, nghĩa là: tín nguyện trì
danh là tự lực, tự lực ấy có thể cảm đƣợc đức Phật. Do thệ
nguyện nhiếp thọ, Phật rủ lòng từ tiếp dẫn, đấy là Phật lực có thể
ứng đến ta. Do cảm ứng đạo giao bèn đƣợc nhƣ thế.
Nếu nhƣ hiểu sâu giáo lý, đoạn Hoặc chứng Chân thì phẩm vị
vãng sanh càng cao, viên thành Phật đạo càng nhanh. Bởi thế,
Văn Thù, Phổ Hiền, Hoa Nghiêm hải chúng, Mã Minh, Long Thọ,
tổ sƣ các tông đều nguyện vãng sanh. Ví nhƣ thác sanh vào
hoàng cung, vừa ra khỏi thai mẹ đã quý hiển át cả quần thần.
Đấy là do thế lực của vua. Chờ đến khi khôn lớn, học vấn tài
năng mỗi mỗi đều đầy đủ cả sẽ có thể tiếp nối ngôi báu, bình trị
thiên hạ. Hết thảy quần thần phải nghe theo chiếu dụ. Đấy chính
là vƣơng lực, tự lực cùng có.
Pháp môn Niệm Phật cũng giống nhƣ thế: chƣa đoạn Hoặc
nghiệp, nƣơng Phật từ lực vãng sanh Tây Phƣơng liền thoát
sanh tử, giống nhƣ thái tử mới sanh đã quý hiển át cả quần thần.
Khi đã vãng sanh, Hoặc nghiệp tự đoạn, quyết định bổ vào địa vị
Phật, giống nhƣ thái tử khôn lớn kế thừa ngôi báu, bình trị thiên
hạ.
Thêm nữa, bậc đã đoạn Hoặc nghiệp nhƣ Mã Minh, Long Thọ, tổ
sƣ các tông, bậc đã chứng địa vị Bổ Xứ nhƣ Văn Thù, Phổ Hiền,
Hoa Nghiêm hải chúng đều nguyện vãng sanh, giống nhƣ trƣớc                                                                             223
kia trấn giữ chốn biên thùy hẻo lánh, chẳng thể nối
ngôi, nay sống trong Đông Cung, chẳng bao lâu sẽ lên ngôi báu.
* Tâm tánh chúng ta hệt nhƣ chƣ Phật, chỉ vì mê trái nên luân hồi
chẳng ngơi. Nhƣ Lai xót thƣơng tùy cơ thuyết pháp khiến cho hết
thảy hàm thức đều biết đƣờng về nhà. Pháp môn tuy nhiều, trọng
yếu chỉ có hai môn Thiền và Tịnh là dễ liễu thoát nhất. Thiền chỉ
có tự lực, Tịnh kiêm Phật lực.
So sánh hai môn, Tịnh khế cơ nhất, nhƣ ngƣời vƣợt biển phải
nhờ sức thuyền mới mau đến đƣợc bến, thân tâm thản nhiên.
Chúng sanh đời mạt chỉ có thể hành nổi pháp này. Nếu không là
trái với căn cơ, nhọc nhằn nhƣng khó thành. Phát đại Bồ Đề,
sanh tín nguyện chân thành, thiết tha, suốt đời kiên trì, chỉ niệm
đức Phật. Niệm đến cùng cực, tình kiến mất sạch chính là niệm
nhƣng vô niệm, diệu nghĩa Thiền - Giáo triệt để hiển hiện; đến
khi lâm chung đƣợc Phật tiếp dẫn lên ngay thƣợng phẩm, chứng
Vô Sanh Nhẫn. Có một bí quyết, tha thiết bảo ban: “Dốc lòng
thành, tận lòng kính” mầu nhiệm, huyền diệu làm sao!
VIII. GIẢI QUYẾT NHỮNG ĐIỀU NGHI HOẶC THƢỜNG GẶP
1.  Luận về sự  - lý
      * Lý thế gian hay xuất thế gian chẳng ra khỏi hai chữ “tâm
tánh”. Sự thế gian và xuất thế gian chẳng ra khỏi hai chữ “nhân
quả”. Chúng sanh trầm luân cửu giới, Nhƣ Lai chứng Nhất Thừa,
nhƣng tâm tánh chẳng tăng hay giảm mảy may nào! Sở dĩ thăng
- trầm khác xa nhau, khổ vui cách biệt vời vợi là do tu đức nơi
nhân địa chẳng giống hệt nhau nên thọ dụng quả địa khác biệt.                                                                            224
Xiển dƣơng Phật pháp thật chẳng phải là chuyện dễ!
Chỉ luận về lý tánh thì trung căn, hạ căn chẳng hƣởng lợi ích;
chuyên nói nhân quả thì ngƣời căn cơ bậc thƣợng thƣờng hay
chán nghe. Nhƣng nhân quả và tâm tánh nếu tách rời ra, cả hai
đều tổn; hợp lại, cả hai cùng tốt đẹp. Vì thế, ngài Mộng Đông nói:
“Ngƣời khéo luận tâm tánh ắt chẳng bỏ lìa nhân quả. Ngƣời tin
sâu nhân quả ắt rốt cuộc hiểu rõ ràng tâm tánh”. Lý này lẽ tất
nhiên là nhƣ thế.
Nhƣng chúng sanh thời Mạt Pháp căn cơ hèn kém, các pháp
Thiền - Giáo chỉ cậy vào tự lực, khế ngộ còn khó, huống hồ liễu
thoát! Chỉ có pháp môn Tịnh Độ cậy vào Phật lực, chỉ cần đầy đủ
lòng tin chân thành, nguyện thiết tha, dù là ngũ nghịch thập ác
cũng có thể vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi, cao dự hải hội. Đối với
pháp tối thƣợng thừa chẳng thể nghĩ bàn này, hãy nên giảng về
cả Lý lẫn Sự, thành thật khuyên [ai nấy] hãy nên thí [pháp này]
đều khắp.
* Nên biết rằng pháp môn Tịnh Độ có đủ cả tất cả sự tƣớng của
bốn pháp giới, đều là pháp giới sự sự vô ngại. Đọc đến rồi tu,
chớ nên chấp Lý bỏ Sự. Nếu chấp vào một bên, cả Lý lẫn Sự
cùng mất. Nhƣ ngƣời biết ý căn nhạy bén nhất bèn bỏ cả ngũ
căn thì ý căn cũng chẳng thể do đâu tồn tại đƣợc. Chỉ nên dùng
Sự để hiển Lý, dùng Lý dung hội Sự mới chẳng sai lầm. Vì vậy,
mới nói yếu chỉ  của Tịnh Độ là “toàn Sự tức Lý”. Lý - Sự viên
dung bèn khế hợp bổn thể. Tôi biết sƣ đã ăn no cơm vua từ lâu
(4), nhƣng vẫn cứ miệt mài hiến lời hèn mọn, chẳng qua để giãi
bày tấc lòng thành của đứa con túng quẫn mong đƣợc trở về
nhà, cũng nhƣ mong rửa sạch cái tội báng pháp trƣớc đây đó
thôi! (5)                                                                            225
* Ngƣời thông minh đời nay tuy học Phật pháp,
nhƣng chƣa thân cận khắp các thiện tri thức, đa phần chuyên
trọng lý tánh, bài bác, vứt bỏ nhân quả và những chuyện tu hành
về mặt Sự. Đã bác Sự Tu, nhân quả thì lý tánh cũng mất. Bởi
thế, thƣờng có hạng tài cao, ngôn từ kinh động cả quỷ thần,
nhƣng xét đến hành vi lại chẳng khác gì bọn vô tri vô thức đầu
đƣờng xó chợ. Gốc bệnh đều là do bác Sự Tu và nhân quả gây
ra cả, khiến cho bậc thƣợng trí uổng công nảy lòng thƣơng xót,
kẻ hạ ngu bắt chƣớc làm càn theo. Ấy là dùng thân mình báng
pháp, tội lỗi vô lƣợng.
* Biết chẳng khó, làm đƣợc mới khó. Đời có hạng ngƣời rỗng
tuếch, nghe đƣợc lý “tâm, Phật, chúng sanh cả ba không sai
biệt”, hoặc do duyệt kinh sách bên Giáo, tham thiền, ngộ đƣợc lý
này, liền cho rằng mình giống nhƣ Phật, cần gì phải tu phải
chứng, bèn phóng túng tâm ý, đối với hết thảy cảnh duyên lầm
lạc bảo: “Sáu trần chính là Giác, tham - sân - si chính là Giới -
Định - Huệ, cần gì phải chế tâm nhiếp thân, không dây mà tự trói
mình?” Thứ kiến giải này hèn kém nhất; nghĩa là chấp Lý phế
Sự, bác không nhân quả có khác gì dùng bánh vẽ để khỏi đói,
cất nhà trên không, tự mình lầm, khiến ngƣời lầm, há chẳng phải
là tội lỗi cực điểm hay sao? Dùng thiện nhân chuốc lấy quả ác,
tam thế chƣ Phật gọi kẻ ấy là kẻ đáng thƣơng xót vậy!
* Ngƣời đời nay phần nhiều ƣa bàn xuông, chẳng chuộng thực
sự tu tập. Khuyên tu Tịnh nghiệp, hiển nhiên là nên tu cả Sự lẫn
Lý, nhƣng phải đặt nặng việc tu về mặt Sự làm phƣơng cách tu
trì. Vì sao vậy? Do đối với ngƣời hiểu rõ Lý thì toàn Sự tức Lý,
suốt ngày Sự Trì chính là suốt ngày Lý Trì. Nếu chƣa thể hiểu
thật rõ về Sự và Lý, vừa nghe nói đến Lý Trì liền biết nghĩa ấy
thâm diệu, rất hợp với cái tính lƣời nhác, biếng trễ, sợ phải trì                                                                            226
niệm nhọc nhằn của mình, bèn chấp Lý phế Sự. Sự
đã phế thì Lý cũng chỉ thành bàn xuông mà thôi!
* Sự Trì là tin có đức A Di Đà Phật ở Tây phƣơng, chƣa thấu
hiểu “tâm này làm Phật, tâm này là Phật”, nhƣng cứ quyết chí
nguyện cầu vãng sanh nhƣ con nhớ mẹ, chẳng lúc nào tạm
quên. Đấy là chƣa đạt lý tánh nhƣng cứ y theo Sự mà tu trì.
Lý Trì là tin đức A Di Đà Phật ở Tây phƣơng tâm ta sẵn có, do
tâm ta tạo. “Tâm sẵn có” nghĩa là tâm vốn có đủ lý này. “Tâm tạo”
là nƣơng theo cái lý sẵn có ấy để khởi tu thì lý ấy mới có thể hiển
hiện đƣợc; vì thế gọi là “tạo”. “Tâm sẵn có” chính là lý thể, “tâm
tạo” là sự tu. “Tâm sẵn có” chính là “tâm này là Phật”. “Tâm tạo”
chính là “tâm này làm Phật”.
“Tâm này làm Phật” chính là xứng tánh khởi tu. “Tâm này là
Phật” chính là toàn tu tại tánh. Tu đức hữu công tánh đức mới
hiển, dù ngộ Lý nhƣng vẫn chẳng phế Sự thì mới là “chân tu”.
Nếu không sẽ đọa vào tri kiến cuồng vọng chấp Lý phế Sự. Bởi
thế, phần dƣới mới viết: “Liền dùng hồng danh tự tâm sẵn có,
hồng danh do tâm tạo thành để làm cảnh buộc tâm chẳng để tạm
quên”.
Thứ giải pháp này ngàn đời chƣa từng có, thật là khế lý khế cơ,
lý sự viên dung, chẳng phải bậc Pháp Thân Đại Sĩ dễ gì đạt tới
đƣợc! Sự Trì dù chƣa ngộ Lý, há nào phải ra ngoài Lý đâu, bất
quá là hành nhân chƣa thể viên ngộ tự tâm! Đã ngộ thì Sự chính
là Lý, nào có phải cái lý đƣợc ngộ nằm ngoài Sự đâu! Lý chẳng
lìa Sự, Sự chẳng lìa Lý, Lý - Sự không hai; nhƣ thân và tâm con
ngƣời đồng thời vận dụng cả hai, trọn chẳng hề có chuyện thân
và tâm tranh nhau hơn kém! Ngƣời thấu đạt dù có muốn chẳng
dung hợp cũng chẳng thể đƣợc. Tri kiến cuồng vọng, chấp Lý
phế Sự thì chẳng thể dung hợp.                                                                            227
* Tâm này trọn khắp, thƣờng hằng nhƣ hƣ không. Chúng ta do
mê nhiễm nên khởi các chấp trƣớc, ví nhƣ hƣ không do bị các
vật ngăn chƣớng nên chẳng thể trọn khắp, chẳng thƣờng hằng.
Nhƣng chẳng trọn khắp, chẳng thƣờng hằng chỉ là vọng kiến
chấp trƣớc, chứ nào phải hƣ không thật sự bị các vật ngăn
chƣớng nên chẳng trọn khắp, chẳng thƣờng hằng ƣ? Vì thế, cái
tâm phàm phu cùng với cái tâm bất sanh bất diệt mà đức Nhƣ
Lai đã chứng trọn chẳng khác gì.
Điều khác biệt là do phàm phu mê nhiễm nên mới đến nỗi nhƣ
thế, chứ chẳng phải là tâm thể vốn có cải biến! Di Đà Tịnh Độ
hoàn toàn nằm trong một niệm tâm tánh của chúng ta, tâm ta vốn
sẵn có Phật A Di Đà. Tâm ta sẵn có nên đƣơng nhiên phải
thƣờng niệm. Đã thƣờng niệm ắt sẽ cảm ứng đạo giao, tu đức có
công tánh đức mới hiển, Sự - Lý viên dung, chúng sanh và Phật
chẳng khác! Vì thế nói: “Dùng tâm sẵn có Phật của mình để niệm
đức Phật sẵn có trong tâm ta, lẽ nào đức Phật sẵn có trong tâm
ta chẳng ứng với cái tâm sẵn có Phật ƣ?”
* Những điều Tông môn dạy chuyên chỉ về lý tánh, chẳng luận về
Sự Tu. Vì sao vậy? Muốn cho con ngƣời trƣớc hết biết đến cái lý
“nhân quả, tu chứng, phàm thánh, chúng sanh - Phật chẳng phân
biệt”, để rồi y theo cái lý ấy mà bắt đầu tu nhân chứng quả, siêu
phàm nhập thánh, đấy chính là sự “chúng sanh thành tựu Phật
đạo” vậy!
* Luận rạch ròi thì Phật pháp chẳng ngoài Chân Đế và Tục Đế.
Trong Chân Đế, một pháp chẳng lập, nhƣ thƣờng nói: “Thật Tế lý
địa chẳng dính mảy trần”. Trong Tục Đế, không pháp nào chẳng
đủ, nhƣ thƣờng nói: “Trong cửa Phật sự, chẳng bỏ một pháp”.                                                                             228
Trong Giáo, xiển dƣơng cả Tục lẫn Chân, nhƣng đa
phần nói về Tục Đế. Bên Tông thì chính ngay nơi Tục nói về
Chân, nhƣng quét sạch tƣớng Tục.
Phải biết rằng: Chân và Tục đồng thể, hoàn toàn chẳng phải là
hai vật. Ví nhƣ tấm gƣơng báu tròn lớn, rỗng sáng chiếu soi cùng
tột, trọn chẳng có một vật. Tuy trọn chẳng có một vật, nhƣng nếu
ngƣời Hồ đến, gƣơng hiện bóng ngƣời Hồ, ngƣời Hán đến, hiện
bóng ngƣời Hán, sâm la vạn tƣợng cùng đến đều cùng hiện. Dù
bao tƣớng cùng hiện, vẫn trọn chẳng có một vật. Tuy trọn chẳng
có một vật, chẳng trở ngại các tƣớng cùng hiện. Nơi “các tƣớng
cùng hiện” đó, nhà Thiền chuyên nói “trọn chẳng có một vật”. Nơi
“trọn chẳng có một vật” ấy, Giáo dạy rõ “các tƣớng cùng hiện”.
Nhƣ vậy, nơi Sự Tu nhà Thiền hiển rõ lý tánh, chẳng bỏ Sự Tu.
Nơi lý tánh, Giáo giảng Sự Tu quy về lý tánh. Đấy gọi là “xứng
tánh khởi tu, toàn tu tại tánh, bất biến tùy duyên, tùy duyên bất
biến, Sự - Lý cùng đạt, Tông - Giáo bất nhị” vậy!
* Cái gọi là Niệm Phật Tam Muội nói tƣởng dễ dàng, nhƣng
chứng đạt thật khó. Hãy nên nhiếp tâm niệm thiết tha, lâu ngày
sẽ tự đạt. Dù chẳng thể tự đạt, nhƣng do công đức tin chân
thành, nguyện thiết tha, nhiếp tâm tịnh niệm ắt sẽ ngầm đƣợc
Phật tiếp dẫn, đới nghiệp vãng sanh. Sự Nhất Tâm theo cách
phán định của đại sƣ Ngẫu Ích ngƣời tu hành đời nay còn chƣa
thực hiện nổi, huống chi Lý Nhất Tâm? Phải đoạn đƣợc Kiến Tƣ
Hoặc mới gọi là Sự Nhất Tâm. Phá vô minh, chứng pháp tánh
gọi là Lý Nhất Tâm.
Nếu là bậc “trong ngầm hạnh Bồ Tát, ngoài hiện làm phàm phu”
thì đối với hai loại Nhất Tâm này chẳng khó khăn gì. Nếu thật sự
là phàm phu đầy dẫy triền phƣợc thì Sự Nhất Tâm còn chƣa dễ
đƣợc, huống hồ là Lý Nhất Tâm ƣ? Hãy xem kỹ lá thƣ trao đổi rất
dài giữa Quang tôi và vị cƣ sĩ nọ ở Vĩnh Gia ắt sẽ biết rõ. Đến
chừng nào ngộ Vô Sanh rồi, gìn giữ chắc chắn, tiêu sạch các tập                                                                             229
khí dƣ thừa, sẽ tự hiểu rõ điều ấy, cần gì phải hỏi
trƣớc? Nhƣ ngƣời uống nƣớc, nóng lạnh tự biết. Nếu không dù
ngƣời uống có nói đích xác mƣời phần, ngƣời chƣa uống rốt
cuộc vẫn chẳng biết đƣợc mùi vị ra sao!
Có lẽ cƣ sĩ thấy ngộ đƣợc Vô Sanh Nhẫn là chuyện dễ dàng, e
tự mình ngộ rồi nhƣng chƣa biết cách gìn giữ chắc chắn [cái ngộ
ấy] ắt sẽ bị các tập khí thừa sót khiến cho sở ngộ lại bị mất đi
nên mới hỏi nhƣ vậy chăng? Chân Vô Sanh Nhẫn thật chẳng
phải là chuyện nhỏ đâu, đấy chính là “phá vô minh - chứng pháp
tánh”; tối thiểu phải là bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo, bậc Sơ Địa
trong Biệt Giáo [mới chứng đƣợc], nói sao dễ dàng thế?
Mong ông hãy hành theo những điều Quang đã nói trong Văn
Sao, ắt sẽ hiểu duyên do của pháp môn Tịnh Độ, ắt tín - nguyện -
hạnh sẽ chẳng bị những dị thuyết của hết thảy thiện tri thức đoạt
mất. Sau đấy, nếu còn sức thì chẳng ngại nghiên cứu thêm các
kinh luận Đại Thừa để mở mang trí thức, hòng làm căn cứ hoằng
truyền Tịnh Độ. Nhƣ vậy, dù là phàm phu vẫn có thể tùy cơ lợi
sanh, hành Bồ Tát đạo, đừng lầm mong cao xa, chỉ e Sự  - Lý
chẳng rành, khó tránh khỏi bị ma dựa. Lá thƣ dài gởi vị cƣ sĩ nọ
ở Vĩnh Gia chuyên trị chứng bịnh này. Bịnh cƣ sĩ ấy với bịnh của
ông tên gọi khác nhau, nhƣng tánh chất giống hệt, nên Quang
chẳng muốn nói nhiều.
Chỉ mong ông nhờ lá thƣ ấy mà lãnh hội. Phải biết ngƣời sau khi
đã ngộ dù tu trì giống hệt nhƣ ngƣời chƣa ngộ, nhƣng tâm niệm
khác biệt. Ngƣời chƣa ngộ Vô Sanh, cảnh chƣa xảy đến đã
mong sẵn, cảnh hiện tiền bèn nắm níu, cảnh đã qua rồi vẫn nghĩ
nhớ. Ngƣời ngộ Vô Sanh thì cảnh tuy sanh diệt, tâm chẳng sanh
diệt, hệt nhƣ gƣơng sáng, đến không dính, đi không tăm tích.
Tâm ứng theo cảnh nhƣ gƣơng hiện bóng, trọn chẳng có mảy
may ý niệm nào chấp trƣớc, quyến luyến. Dù đối cảnh vô tâm,
vẫn sóng trào biển hạnh, mây bủa cửa từ. Đối với luân lý, cƣơng
thƣờng thế gian và việc thƣợng hoằng hạ hóa đều mỗi mỗi nhận                                                                             230
hiểu đúng, thật sự thực hành, dù táng thân mất mạng
chẳng chịu vƣợt phạm.
Đừng tƣởng là đối cảnh vô tâm rồi phế hết các sự tu trì tự lợi lợi
tha, thƣợng hoằng hạ hóa. Nếu hiểu nhƣ vậy sẽ vƣớng sâu vào
Không Ma, đọa vào Ngoan Không. Do đấy, bác không nhân quả,
buông lung làm càn trở thành đem phàm lạm thánh, hoại loạn
Phật pháp, lầm lạc chúng sanh, tạo thành chủng tử A Tỳ địa
ngục. Điều này quan hệ hết sức sâu xa, bất đắc dĩ Quang tôi
phải vì ông trình bày sơ lƣợc lợi hại.
* Nếu ƣớc trên Thật Tế lý thể để luận thì phàm - thánh, chúng
sanh - Phật, nhân - quả, tu - chứng đều chẳng thể đƣợc. Nếu
luận trên phƣơng diện pháp môn tu trì thì trên từ Nhƣ Lai đã
thành Phật đạo, dƣới đến chúng sanh trong A Tỳ đều chẳng ra
ngoài nhân quả. Hiểu rõ lý tánh nhƣng chẳng phế Sự Tu bèn là
Chánh Tri, chấp lý tánh phế Sự Tu bèn thành tà kiến. Sai chỉ hào
ly, lập thành địa ngục và Phật quả khác biệt.
2. Luận về tâm tánh
* Tâm vừa Tịch, vừa Chiếu, bất sanh bất diệt, rộng lớn, thấu triệt,
linh thông, viên dung hoạt bát, là gốc của hết thảy các pháp thế
gian và xuất thế gian. Từ hạng phàm phu đầy dẫy triền phƣợc,
hôn mê, điên đảo lầm lạc cho đến tam thế chƣ Phật, tâm ấy vẫn
hệt nhƣ nhau, trọn không có gì khác. Vì thế nói:  “Tâm, Phật,
chúng sanh cả ba không sai biệt”.
Chỉ vì chƣ Phật chứng đắc rốt ráo nên công đức, lực dụng phô
bày triệt để; phàm phu toàn thể mê trái, lại còn áp dụng sức công
đức lực dụng ấy vào sáu trần cảnh, khởi tham - sân - si, tạo giết -                                                                            231
trộm - dâm, do Hoặc tạo nghiệp, do nghiệp cảm khổ.
Ba thứ Hoặc - nghiệp - khổ phát khởi lẫn nhau, nhân nhân quả
quả liên tiếp chẳng dứt, trải trần sa kiếp chịu mãi luân hồi, dù
muốn xuất ly cũng chẳng có cách nào! Ví nhƣ trong nhà tối mò
phải của báu, chẳng những không thọ dụng đƣợc, lại còn bị của
báu ấy làm tổn thƣơng. Tâm mê chạy theo cảnh, quay lƣng với
Giác, xuôi theo trần lao cũng giống nhƣ thế.
Nhƣ Lai thƣơng xót, dạy cho họ bỏ vọng về với chân, khôi phục
tâm tánh mình. Thoạt đầu dạy “hết vọng là chân”, kế đó dạy “toàn
thể vọng chính là chân”, nhƣ gió lặng sóng yên, nắng ấm băng
tan; sóng, băng trở thành nƣớc. Sóng, băng cùng với nƣớc nào
phải là hai vật; nhƣng lúc sóng chƣa yên, băng chƣa tan, so với
lúc sóng đã lặng, băng đã tan, dù thể tánh trọn chẳng phải hai,
tƣớng và dụng khác xa vời vợi. Bởi thế mới nói: “Tu đức hữu
công, tánh đức mới hiển”. Nếu chỉ cậy vào tánh đức, chẳng chú
trọng tu đức thì đến tận đời vị lai cứ mãi mãi là chúng sanh,
luống uổng Phật tánh sẵn có, không chỗ dựa nƣơng! Vì thế, Bát
Nhã Tâm Kinh nói: “Lúc Quán Tự Tại Bồ Tát thực hành sâu xa
Bát Nhã Ba La Mật, soi thấy năm uẩn đều không, vƣợt hết thảy
khổ ách”.
Toàn thể Ngũ Uẩn là Chân Nhƣ diệu tâm, nhƣng do một bề mê
muội, trái nghịch bèn thành tƣớng huyễn vọng. Vọng tƣớng đã
thành, bèn lầm mất Nhất Tâm. Đã mê muội nơi Nhất Tâm, các
khổ đều nhóm lại. Nhƣ gió thổi, toàn thể nƣớc trở thành sóng;
trời lạnh, nƣớc mềm thành cứng. Dùng Bát Nhã thậm thâm để
chiếu soi liền hiểu rõ: mê chân thành vọng, toàn vọng chính là
chân; nhƣ gió lặng, trời ấm, nƣớc lại trở về bản thể.
Vì thế biết rằng: Hết thảy các pháp đều do vọng tình biến hiện,
nếu lìa vọng tình thì bản thể của các pháp ấy hoàn toàn là
Không. Bởi vậy, tứ đại đều mất bản tánh, lục căn dùng lẫn cho
nhau. Thế nên, Bồ Tát chẳng khởi Diệt Định, hiện các oai nghi,
dùng nhãn căn làm Phật sự của nhĩ căn, dùng nhĩ căn làm Phật
sự của nhãn căn, vào trong đất nhƣ vào nƣớc, đi trong nƣớc nhƣ                                                                             232
đi trên đất, nƣớc lửa chẳng thể đốt cháy hay nhận
chìm đƣợc, tùy ý đi, ngồi trên hƣ không, cảnh không tự tánh, đều
theo tâm chuyển.
Bởi vậy, kinh Lăng Nghiêm nói: “Nếu có kẻ nào nhận chân, quy
nguyên thì mƣời phƣơng hƣ không thảy đều tan mất”. Đấy chính
là hiệu quả thật sự của việc “soi thấy năm uẩn đều không” vậy.
“Quy” nghĩa là quay về, trở về, tức là phản chiếu hồi quang, khôi
phục tâm tánh vốn có. Nhƣng muốn phản chiếu hồi quang khôi
phục tâm tánh, nếu trƣớc hết tâm chẳng quy hƣớng Tam Bảo sẽ
chẳng thể y giáo phụng hành. Tâm đã quy hƣớng Tam Bảo sẽ tự
có thể khôi phục nguồn tâm, triệt chứng Phật tánh. Đã khôi phục
đƣợc nguồn tâm vốn sẵn có, triệt chứng Phật tánh, mới biết tự
tâm quý báu nhất, trong mê chẳng giảm, lúc ngộ chẳng tăng. Chỉ
vì thuận theo pháp tánh nên thọ dụng đƣợc, trái lại sẽ bị tổn
thƣơng. Thế nhƣng, tổn hại hay lợi ích cách biệt nhau một trời,
một vực!
* Chúng sanh là Phật chƣa ngộ, Phật là chúng sanh đã ngộ. Tâm
tánh bổn thể của chúng sanh và Phật bình đẳng, giống hệt nhƣ
nhau, không hai, không khác; nhƣng khổ - vui, thọ dụng khác biệt
nhau nhƣ trời với đất là do xứng tánh thuận tu hay trái tánh
nghịch tu mà thành ra nhƣ thế. Lý này rất sâu, chẳng dễ tuyên
nói. Để khỏi phí lời [giãi bày], xin mƣợn ví dụ để minh thị:
Chƣ Phật tu đức đến cùng cực, chứng ngộ triệt để tánh đức,
giống nhƣ tấm gƣơng báu tròn lớn. Thể chất của gƣơng là đồng
(6). Biết gƣơng có tánh chất tỏa sáng nên hằng ngày lau, mài, ra
sức chẳng ngơi. Bụi hết, gƣơng tỏa sáng, dựng trên đài cao, vật
nào soi đến liền hiện bóng. Lớn nhƣ trời đất, nhỏ nhƣ hạt bụi,
mảy lông, sâm la vạn tƣợng đều hiện rành rành. Ngay trong lúc
muôn vàn hình tƣợng cùng hiện ấy, gƣơng vẫn rỗng rang, trống
trải, trọn chẳng có một vật nào.                                                                            233
Tâm chƣ Phật cũng giống nhƣ vậy: đoạn sạch phiền
não, Hoặc nghiệp, hiển hiện trọn vẹn trí huệ, đức tƣớng, an trụ
trong Tịch Quang đến cùng tận đời vị lai thƣờng hƣởng pháp lạc,
độ chín giới xuất ly sanh tử, cùng chứng Niết Bàn. Chúng sanh
hoàn toàn mê nơi tánh đức, trọn chẳng tu đức mảy may, ví nhƣ
gƣơng báu bụi phủ, chẳng có mảy may quang minh nào, ngay cả
chất đồng cũng bị teng đóng nên quang minh chẳng hiện đƣợc.
Tâm chúng sanh cũng giống nhƣ thế.
Nếu nhƣ biết tấm gƣơng bị bỏ phế chẳng hiện chất đồng này vốn
có quang minh soi trời chiếu đất, do đấy chẳng chịu bỏ phế, ngày
ngày lau chùi, mài bóng, lúc đầu hơi lộ chất đồng, dần dà tỏa ánh
quang minh, vẫn cực lực mài cho sạch, một ngày kia, teng lẫn
bụi hết sạch, tự nhiên hình tƣợng nào soi vào liền hiện bóng, soi
trời chiếu đất. Quang minh ấy gƣơng vốn tự có, chẳng phải từ
bên ngoài vào, chẳng phải do mài mà có; nhƣng nếu chẳng mài
cũng không cách nào có đƣợc!
Chúng sanh bỏ trần xuôi theo tánh giác, bỏ vọng theo chân cũng
giống nhƣ thế. Phiền hoặc đoạn dần dần, trí huệ sẽ tăng dần
dần. Đến khi công hạnh viên mãn, đoạn đƣợc cái không thể
đoạn, chứng đƣợc cái không thể chứng, viên mãn Bồ Đề, trở về
cái chẳng thể đạt đƣợc, thần thông, trí huệ, công đức, tƣớng hảo
trọn chẳng khác gì với mƣời phƣơng ba đời chƣ Phật. Dù là nhƣ
vậy, cũng chỉ là khôi phục cái mình sẵn có, phải đâu là mới có.
Nếu chỉ chấp nhận tánh đức, chẳng khởi tu đức, ắt đến tận đời vị
lai thƣờng phải chịu cái khổ luân hồi sanh tử, vĩnh viễn chẳng có
ngày khôi phục cái gốc, trở về cội nguồn đƣợc!
* Hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, nhƣng tâm hạnh thọ
dụng của Phật và chúng sanh tuyệt đối chẳng tƣơng đồng. Vì
sao vậy? Vì Phật bỏ trần theo giác, chúng sanh lại bỏ giác theo
trần; Phật tánh dẫu đồng, mê - ngộ rất khác! Vì thế, sƣớng - vui,
thăng - trầm khác nhau một trời, một vực! Nếu quan sát kỹ nghĩa                                                                             234
lý ba nhân Phật tánh, ắt không mối nghi nào là chẳng
phá đƣợc, không ai là chẳng muốn tu tập! Ba nhân là chánh
nhân, liễu nhân và duyên nhân.
Chánh nhân Phật tánh chính là diệu tánh vốn sẵn có trong tâm
ta, là Pháp Thân chân thƣờng chƣ Phật đã chứng. Diệu tánh này
tại phàm chẳng giảm, nơi thánh chẳng tăng, trong sanh tử chẳng
nhiễm, ở Niết Bàn chẳng tịnh. Chúng sanh triệt để mê trái tánh
này, chƣ Phật viên chứng rốt ráo. Mê  - chứng dù khác, tánh
thƣờng bình đẳng.
Thứ hai là liễu nhân Phật tánh, tức là chánh trí để phát sanh
chánh nhân Phật tánh. Do tri thức hoặc là do kinh giáo, nghe biết
diệu nghĩa chánh nhân Phật tánh bèn liễu ngộ, biết do một niệm
vô minh chƣớng lấp nguồn tâm, chẳng biết bản thể của cảnh giới
sáu trần vốn là không, nhận lầm thật có, đến nỗi khởi tham - sân
- si, tạo giết - trộm - dâm, do Hoặc tạo nghiệp, do nghiệp chịu
khổ, khiến cho Chánh Nhân Phật Tánh trở thành cái gốc để khởi
Hoặc tạo nghiệp chịu khổ. Từ đấy liễu ngộ, bèn muốn bỏ vọng về
với chân, hòng mong khôi phục bổn tánh.
Ba là duyên nhân Phật tánh, tức là trợ duyên. Đã liễu ngộ, phải
tu tập các thứ thiện pháp ngõ hầu tiêu trừ Hoặc nghiệp, tăng
trƣởng phƣớc huệ, cốt sao tự chứng đƣợc rốt ráo cái lý sẵn có
mà ta đã ngộ đó mới thôi!
Xin dùng thí dụ để chỉ rõ: Chánh Nhân Phật Tánh nhƣ vàng trong
quặng, nhƣ lửa trong gỗ, nhƣ ánh sáng nơi gƣơng, nhƣ mầm
trong hạt, dù là sẵn có, nhƣng nếu chẳng biết đến, chẳng đƣợc
các duyên: nung luyện, khoét, dùi, mài giũa, gieo trồng, mƣa
đẫm... thì vàng, lửa, ánh sáng, mầm mộng vĩnh viễn chẳng khi
nào phát sanh đƣợc! Nhƣ vậy dù có chánh nhân nhƣng nếu
không duyên, trọn chẳng thể thọ dụng đƣợc.
Bởi thế, Phật dạy hết thảy chúng sanh đều là Phật, muốn độ
thoát họ; nhƣng chúng sanh trọn chẳng liễu ngộ, chẳng chịu tu                                                                             235
tập thiện pháp, đến nỗi bao kiếp dài lâu luân hồi sanh
tử, không thể thoát đƣợc. Do đó, Nhƣ Lai rộng bày các phƣơng
tiện, tùy cơ chỉ bày, dẫn dắt, mong chúng sanh bỏ vọng theo
chân, bỏ trần theo giác.
* Cổ nhân nói: “Sanh tử cũng lớn, há chẳng đau đớn ƣ?” Trộm
bàn: Đã chẳng biết nguyên do, dù có đau lòng cũng chẳng ích gì!
Nên biết rằng: Hết thảy chúng sanh theo nghiệp lƣu chuyển, thọ
sanh trong sáu đƣờng, sanh chẳng biết từ đâu đến, chết chẳng
biết đi về đâu! Do nhân duyên tội hay phƣớc sẽ thăng hay giáng,
xoay vần luân hồi, chẳng lúc nào xong. Nhƣ Lai thƣơng xót, dạy
nhân duyên “do Hoặc khởi nghiệp, do nghiệp cảm khổ” và bản
thể “thƣờng, lạc, ngã, tịnh, tịch chiếu viên dung” khiến chúng
sanh hiểu rõ: Do vô minh nên mới có thân này. Vì thế, thân này
hoàn toàn thuộc về huyễn vọng, chẳng những không có tứ đại,
ngay cả ngũ uẩn cũng đều không. Đã biết ngũ uẩn là không thì
Chân Nhƣ pháp tánh, Thật Tƣớng diệu lý sẽ triệt để phô bày trọn
vẹn.
* Do tùy duyên nên có tứ thánh, lục phàm, khổ - sƣớng, thăng -
trầm khác xa nhau; nhƣng duyên có tịnh - nhiễm, nên phải tùy
thuộc vào một [trong hai duyên ấy]. Tùy thuộc nhiễm duyên sẽ
khởi Hoặc, tạo nghiệp, luân hồi sáu đƣờng. Tùy thuộc tịnh duyên
sẽ đoạn Hoặc chứng Chân, thƣờng trụ Niết Bàn. Do Hoặc nghiệp
có nặng và nhẹ nên có đƣờng lành ngƣời - trời, đƣờng thiện ác
chen lẫn là A-tu-la, và ba ác đạo: súc sanh, địa ngục, ngạ quỷ.
Do Hoặc khởi Hoặc, do nghiệp tạo nghiệp hoặc thiện hoặc ác,
trọn chẳng có tƣớng nhất định, cho nên chỗ phải sanh về sẽ lần
lƣợt thay đổi nhƣ bánh xe xoay tít chẳng có đầu mối, chợt lên,
chợt xuống. Đã có đủ phiền hoặc, sẽ đều bị nghiệp buộc ràng,
theo nghiệp thọ sanh, chẳng thể tự làm chủ đƣợc!                                                                              236
Do đoạn chứng (đoạn Hoặc chứng chân) có sâu hay
cạn nên ngƣời đoạn Kiến Tƣ Hoặc sẽ chứng quả Thanh Văn,
ngƣời trừ tập khí sẽ chứng quả Duyên Giác, bậc phá vô minh sẽ
chứng quả Bồ Tát. Nếu trừ sạch vô minh, phƣớc huệ viên mãn,
công tu đức đến cùng cực, tánh đức phô bày trọn vẹn sẽ chứng
Phật Quả. Chứng Phật Quả bất quá chỉ là chứng rốt ráo triệt để
những công đức, lực dụng sẵn có trong tâm tánh ngay khi còn
thuộc địa vị phàm phu, nay thọ dụng toàn thể những công đức,
lực dụng ấy mà thôi, chứ chẳng thêm mảy may gì vào cái tâm
tánh ban đầu ấy cả!
Nhƣ Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, tuy sở chứng cao thấp bất
đồng, nhƣng đều chƣa thể thọ dụng trọn vẹn những công đức
sẵn có nơi tánh. Thế nhƣng hết thảy phàm phu lại hƣớng sức lực
chẳng thể nghĩ bàn của tâm tánh ấy vào sáu trần cảnh, khởi
tham - sân - si, tạo giết - trộm - dâm, đến nỗi đọa vào ba ác đạo,
trầm luân bao kiếp, so ra ai nấy đều nhƣ thế, chẳng đáng buồn
ƣ?
* Trƣớc không khởi đầu, sau không kết thúc, dù chứa đựng cả
thái hƣ vẫn chẳng thể lọt ra ngoài, dù nằm lọt trong vi trần cũng
chẳng thể lọt vào trong, thanh tịnh sáng sạch, trạm tịch thƣờng
hằng, chẳng sanh, chẳng diệt, lìa tƣớng, lìa danh, là có nhƣng
chẳng phải có, là không nhƣng chẳng phải không. Đấy là Chân
Tánh.
Xét ra cái thân địa - thủy - hỏa - phong chỉ là gân, xƣơng, máu,
thịt chứa nhóm, mới sanh liền diệt, vừa tƣơi tốt đã tàn úa. Các
xƣơng, đốt chống đỡ nhƣ kết gỗ làm nhà, một tấm da phủ ra
ngoài nhƣ tô bùn trát vách. Bên trong toàn là phân tiểu, máu mủ,
mặt ngoài cáu ghét, mồ hôi, lông, tóc; giòi tửa lúc nhúc, chấy rận
nhƣ sao trời, giả gọi là Ngƣời, nào tồn tại cái Ngã! Lại dùng
những thứ mình sẵn có là mắt, tai, mũi, lƣỡi, thân, ý để bƣơn bả                                                                             237
trong rừng gai góc sắc, thanh, hƣơng, vị, xúc, pháp.
Do đó, khởi vô minh tham - sân - si, diệt mất chánh trí Giới - Định
- Huệ.
Ngũ Uẩn vốn không, nào ai chịu một phen quán chiếu. Sáu trần
vô tánh, ngƣời ngƣời cho là thật, đến nỗi vạn khổ cùng tụ tập, cứ
lầm mãi tánh linh với vọng tâm và huyễn thân. Đúng nhƣ kinh
Viên Giác nói: “Hết thảy chúng sanh bao thứ điên đảo, nhận lầm
tứ đại là thân tƣớng của mình, nhận lầm duyên ảnh của sáu trần
là tâm tƣớng của mình”.
3. Luận về ngộ chứng
* Từ xƣa, cao tăng hoặc cổ Phật tái sanh, hoặc Bồ Tát thị hiện
đều thƣờng hiện thân làm phàm phu, trọn chẳng hề nói ta là
Phật, ta là Bồ Tát. Vì thế, kinh Lăng Nghiêm nói: “Sau khi ta diệt
độ, ta truyền các Bồ Tát và các A La Hán, ứng thân sanh trong
thời mạt pháp, hiện các thứ thân để độ những kẻ đang luân
chuyển, nhƣng trọn chẳng tự bảo mình thật sự là Bồ Tát hay A
La Hán, tiết lộ nhân duyên bí mật của Phật, chỉ thƣờng nhún
nhƣờng nói mình là kẻ mạt học”. Chỉ trừ lúc lâm chung, bèn
ngầm để lại lời phó chúc.
Trí Giả Đại Sƣ thật sự là hóa thân của Phật Thích Ca, đến lúc
lâm chung, có ngƣời hỏi ngài đã chứng đến địa vị nào. Ngài đáp:
“Nếu tôi chẳng lãnh chúng ắt sẽ tịnh đƣợc sáu căn, vì tổn mình
lợi ngƣời nên chỉ đạt đƣợc Ngũ Phẩm. Do vậy, vẫn còn thuộc địa
vị phàm phu!” Ngũ Phẩm tức là địa vị Quán Hạnh trong Viên
Giáo, sở ngộ bằng với chƣ Phật, đã chế phục hoàn toàn ngũ trụ
phiền não, nhƣng vẫn chƣa đoạn đƣợc Kiến Hoặc. Ngài Trí Giả
lúc lâm chung còn chẳng hé lộ sở chứng thật sự là vì để khích lệ
kẻ hậu học gắng chí tinh tu, chẳng đến nỗi đƣợc chút ít đã cho là
đủ, hoặc còn là phàm phu mà đã lạm xƣng là thánh!                                                                            238
Nay bè lũ ma khoe xằng mình đắc đạo, hoại loạn
Phật pháp, lầm lạc chúng sanh, là kẻ đại vọng ngữ. Cái tội đại
vọng ngữ đó nặng hơn tội ngũ nghịch, thập ác trăm ngàn vạn ức
lần. Thầy trò chúng nó sẽ đọa mãi trong địa ngục A Tỳ trải qua
Phật sát vi trần số kiếp (7), luôn chịu sự khổ cùng cực, không
cách nào thoát khỏi. Sao đành vì hƣ danh, lợi lạc phù phiếm một
thời để phải chịu hình phạt thảm khốc dài cả kiếp? Danh lợi làm
con ngƣời lầm lạc đến nỗi nhƣ thế đấy!
* Niệm Phật, xem kinh, ngộ lý Nhị Không, chứng pháp Thật
Tƣớng là ƣớc trên phƣơng diện tự tỉnh ngộ tu trì để dạy về nhân
hiện tại, quả mai sau. Chớ nên càn rỡ tự đắc, bảo là ngay trong
đời này mình sẽ đạt đƣợc nhƣ thế. Chứng Thật Tƣớng ngay
trong đời này chẳng phải là không có ngƣời làm đƣợc, chỉ e hiền
khiết (8) không có căn lành ấy! Nếu chẳng trình bày rõ nguyên
do, e rằng ông sẽ lầm mong chứng thánh, chí cao nhƣng hạnh
chẳng xứng, lâu ngày ắt sẽ mất trí đâm cuồng, chƣa đắc bảo đã
đắc, chƣa chứng bảo đã chứng, cầu thăng  hóa đọa, biến khéo
thành vụng. Xét đến kết quả, khó tránh chìm đắm mãi mãi trong
nẻo ác; chẳng những mai một tánh linh của chính mình, lại còn
cô phụ Phật ân nữa!
Đối với hai thứ Không Lý, nếu chỉ luận về ngộ thì hàng phàm phu
lợi căn cũng ngộ đƣợc. Nhƣ những ngƣời thuộc vào địa vị Danh
Tự của Viên Giáo, tuy chẳng chế phục đƣợc mảy may ngũ trụ
phiền não nào, nhƣng sở ngộ của họ và sở ngộ của chƣ Phật
không hai, không khác (Ngũ trụ: Kiến Hoặc là một trụ, Tƣ Hoặc
gồm ba trụ. Trần Sa Hoặc và Vô Minh Hoặc gộp thành một trụ).
Nếu nói theo nhà Thiền, những kẻ ấy gọi là bậc đại triệt đại ngộ,
bên Giáo gọi là “đại khai viên giải”.
[“Đại triệt đại ngộ”] chẳng phải là chỉ hiểu loáng thoáng mơ hồ
đâu nhé! Nhƣ Bàng cƣ sĩ (Bàng Long Uẩn) nghe Mã Tổ bảo:
“Đợi khi nào  ông một hơi uống cạn nƣớc Tây Giang, ta sẽ nói                                                                             239
cho ông hay” liền đốn vong huyền giải. Ngài Đại Huệ
Cảo nghe ngài Viên Ngộ bảo: “Gió nồm từ Nam thổi, điện gác
mát mẻ sao!” cũng ngộ nhƣ thế. Tổ Trí Giả tụng kinh Pháp Hoa
đến câu “gọi là chân tinh tấn, là chân pháp để cúng dƣờng Nhƣ
Lai” của phẩm Dƣợc Vƣơng Bổn Sự liền hoát nhiên đại ngộ, lặng
lẽ nhập định, tận mắt thấy một hội Linh Sơn nghiễm nhiên chƣa
tan. Ngộ nhƣ thế mới gọi là “đại triệt đại ngộ, đại khai viên giải!”
Nếu bàn về chuyện chứng đƣợc pháp Thật Tƣớng thì hàng
phàm phu sát đất chẳng thể làm đƣợc. Nam Nhạc Tƣ đại thiền
sƣ là “đắc pháp sƣ” (8) của ngài Trí Giả, có đại trí huệ, có đại
thần thông, lúc lâm chung, có ngƣời hỏi đến sở chứng, ngài bảo:
“Tôi lúc đầu mong đạt đƣợc Đồng Luân, nhƣng do lãnh chúng
quá sớm nên chỉ đạt đƣợc Thiết Luân mà thôi!” (Đồng Luân tức
là Thập Trụ, phá một phần vô minh, vừa mới dự vào Thật Báo
Tịnh Độ, chứng đƣợc một phần Tịch Quang Tịnh Độ. Bậc Sơ Trụ
có thể hiện thân làm Phật giáo hóa chúng sanh trong một trăm
tam thiên đại thiên thế giới. Nhị Trụ giáo hóa đƣợc một ngàn,
Tam Trụ giáo hóa bốn ngàn. Mỗi địa vị cứ gấp mƣời lần hơn.
Thiết Luân tức là địa vị thứ mƣời trong Thập Tín. Sơ Tín đoạn
Kiến Hoặc, Thất Tín đoạn Tƣ Hoặc, Bát, Cửu, Thập Tín phá
đƣợc Trần Sa, chế phục  vô minh. Ngài Nam Nhạc Huệ Tƣ thị
hiện chỉ chứng đƣợc ngôi thứ 10 trong Thập Tín, tức là vẫn chƣa
chứng đƣợc pháp Thật Tƣớng. Phá một phẩm vô minh liền
chứng Sơ Trụ, mới đƣợc gọi là chứng pháp Thật Tƣớng).
Trí Giả đại sƣ là hóa thân của Phật Thích Ca. Lâm chung có
ngƣời hỏi ngài chứng đƣợc địa vị nào, ngài đáp: “Nếu ta chẳng
lãnh chúng, ắt sẽ tịnh đƣợc sáu căn (tức là nếu ngài không thâu
nạp, giáo hóa đồ chúng, ngài sẽ chứng đƣợc Thập Tín, sáu căn
thanh tịnh nhƣ trong phẩm Pháp Sƣ Công Đức kinh Pháp Hoa
đã nói). Do tổn mình lợi ngƣời, nên chỉ chứng đƣợc Ngũ Phẩm”
(Ngũ Phẩm tức là địa vị Quán Hạnh, chế phục trọn vẹn Ngũ Trụ
Hoặc, nhƣng vẫn chƣa đoạn đƣợc Kiến Hoặc). Ngẫu Ích đại sƣ
lâm chung có bài kệ nhƣ sau:                                                                            240
Danh tự vị trung chân Phật nhãn,
Vị tri tất cánh phó hà nhân
(Phật nhãn hãy còn nơi danh tự,
Giao ai rốt cuộc biết đâu là!)
(Ngƣời thuộc về địa vị danh tự đã viên ngộ Tạng Tánh giống nhƣ
chƣ Phật, nhƣng chƣa thể chế phục đƣợc Kiến Hoặc, huống hồ
là đoạn nổi! Thân phận những bậc đại triệt đại ngộ trong đời mạt
đa phần giống nhƣ vậy. Tạng Tánh chính là Nhƣ Lai Tạng Diệu
Chân Nhƣ tánh, là tên gọi khác của pháp Thật Tƣớng).
Ngẫu Ích đại sƣ thị hiện chỉ chứng địa vị Danh Tự, ngài Trí Giả
thị hiện chỉ chứng đƣợc Ngũ Phẩm, ngài Nam Nhạc thị hiện chỉ
chứng đƣợc Thập Tín. Tuy bổn địa của ba vị đại sƣ đều chẳng
thể suy lƣờng đƣợc, nhƣng các ngài thị hiện chỉ chứng ba địa vị
Danh Tự, Quán Hạnh, Tƣơng Tự, đủ thấy Thật Tƣớng chẳng dễ
chứng. Vì kẻ hậu tấn khó thể vƣợt hơn các ngài đƣợc, chỉ e
chúng nó chƣa chứng đã bảo là chứng nên các ngài lấy thân
mình thuyết pháp ngõ hầu ngƣời đời sau tự biết hổ thẹn, chẳng
dám làm xằng đó thôi! Cái ân thị hiện địa vị sở chứng vào lúc sau
cùng của ba vị đại sƣ thật là nghiền xƣơng, nát thân khó báo đáp
nổi! Ông hãy tự suy gẫm coi mình thật sự có vƣợt trỗi ba vị đại
sƣ ấy chăng?
Còn nhƣ cho rằng: “Niệm Phật, xem kinh, vun bồi căn lành, sau
khi vãng sanh Tây Phƣơng, thƣờng hầu Phật Di Đà, cao dự hải
hội, tùy theo công hạnh cạn hay sâu ắt chứng đƣợc Thật Tƣớng
sớm hay trễ” thì đấy là lời quyết định vô ngại, là điều hết thảy
những ngƣời vãng sanh cùng chứng cùng đắc vậy!
* Ngộ là phân minh rành rành nhƣ mở cửa thấy núi, vẹt mây thấy
trăng. Lại nhƣ ngƣời mắt sáng đích thân thấy đƣờng về nhà,                                                                             241
cũng nhƣ kẻ nghèo đã lâu chợt mở toang kho báu.
Chứng là nhƣ theo đƣờng về nhà, dừng chân ngồi yên, cũng
nhƣ giữ lấy kho báu ấy, tùy ý hƣởng dùng. Phàm phu đại tâm
cũng có thể liễu ngộ giống nhƣ chƣ Phật, nhƣng về mặt Chứng
thì Sơ Địa còn chẳng thể biết nổi chỗ giở chân, đặt chân của bậc
Nhị Địa. Hiểu đƣợc ý nghĩa Chứng và Ngộ rồi, tự nhiên sẽ chẳng
khởi lòng tăng thƣợng mạn, chẳng nảy ý lui sụt, mà cái tâm cầu
sanh Tịnh Độ dù vạn con trâu cũng chẳng kéo lui lại đƣợc!
* Trí Giả đại sƣ đƣợc ngƣời đời xƣng tụng là hóa thân của Phật
Thích Ca. Chẳng ai biết đƣợc sở chứng của Ngài, nhƣng Phật
hiện thân tạo pháp tắc cho chúng sanh. Vì thế, đại sƣ thị hiện
vẫn thuộc địa vị phàm phu, bảo: “Nếu ta chẳng lãnh chúng, ắt sẽ
tịnh đƣợc sáu căn”. Ngài dùng chính thân mình để răn ngƣời,
hiện thân thuyết pháp. Thoạt đầu, đại sƣ mong đoạn Hoặc chứng
Chân, đạt thẳng lên Thập Địa hay Đẳng Giác. Do phải hoằng
pháp lợi sanh, bỏ lỡ công phu thiền định của chính mình nên chỉ
chứng đƣợc địa vị Ngũ Phẩm Quán Hạnh trong Viên Giáo mà
thôi! Vì thế ngài nói: “Do  tổn mình lợi ngƣời nên chỉ đạt đƣợc
Ngũ Phẩm”.
Ngũ Phẩm là năm thứ: tùy hỷ, đọc tụng, giảng nói, kiêm hành Lục
Độ và chánh hành Lục Độ. Địa vị Ngũ Phẩm trong Viên Giáo viên
ngộ Tạng Tánh (Tạng tánh là Thật Tƣớng diệu lý, khi còn triền
phƣợc (“tại triền”) gọi là Nhƣ Lai Tạng Tánh. Lúc thoát đƣợc triền
phƣợc gọi là Tịnh Pháp Thân. Nói chung là vì vô minh chƣa đoạn
nên gọi là Triền) giống hệt sở ngộ của Phật, trọn chẳng khác gì.
Đã chế phục trọn vẹn Kiến, Tƣ, Trần Sa, Vô Minh, Phiền Não
nhƣng chƣa đoạn đƣợc Kiến Hoặc. Nếu đoạn đƣợc Kiến Hoặc
liền chứng Sơ Tín. Đến địa vị Thất Tín mới đoạn sạch Tƣ Hoặc,
thật sự chứng đƣợc “lục căn tùy ý chẳng nhiễm sáu trần”. Vì thế
gọi là địa vị “lục căn thanh tịnh”.                                                                            242
Đã thế, trong mỗi một căn lại có đủ công đức của
sáu căn, làm Phật sự của sáu căn. Do vậy, còn gọi là “lục căn hỗ
dụng” (sáu căn dùng lẫn nhau) nhƣ trong phẩm Pháp Sƣ Công
Đức của kinh Pháp Hoa đã nói. Ngài Nam Nhạc thị hiện chứng
địa vị này. Ngƣời thuộc vào địa vị này chẳng những có đại trí
huệ, lại còn có đại thần thông, thần thông của Tiểu Thừa A La
Hán chẳng thể sánh bằng. Vì thế ngài Nam Nhạc lúc sanh tiền
cũng nhƣ sau khi tịch luôn có những sự chẳng thể nghĩ bàn
khiến kẻ thấy hoặc nghe phát khởi tín tâm.
Nam Nhạc, Trí Giả đều là bậc Pháp Thân Đại Sĩ, địa  vị thực
chứng của các Ngài nào ai dò đƣợc mức cao thâm. Chẳng qua
các ngài muốn cổ vũ hậu thế chuyên tinh học đạo nên mới chịu
khuất lấp nhƣ thế, nào phải đâu các ngài thật sự chỉ chứng địa vị
Thập Tín Tƣơng Tự hay Ngũ Phẩm Quán Hạnh! Lũ phàm phu
sát đất chúng ta há kham học đòi các ngài đƣợc ƣ? Hãy nên ƣa
thô trì trọng giới (10), nhất tâm niệm Phật, kiêm tu các điều lành
thế gian để làm trợ hạnh, noi theo pháp hạnh các vị Vĩnh Minh,
Liên Trì thì không ai là chẳng đƣợc lợi cả!  
* Các tông tu trì Phật pháp phải đến mức “hạnh khởi, giải tuyệt”
mới đƣợc lợi ích thật sự, chỉ riêng Tịnh Tông chẳng tu quán nhƣ
thế. Nhà Thiền đem một câu thoại đầu hoàn toàn vô nghĩa đặt
vào trong tâm, coi nhƣ bổn mạng nguyên thần, chẳng kể năm
tháng, suốt ngày tham cứu cho đến khi nào cả thân tâm lẫn thế
giới đều chẳng biết đến nữa, mới hòng đại triệt đại ngộ; chẳng
phải là hạnh khởi giải tuyệt hay sao? Lục Tổ nói: “Chỉ xem kinh
Kim Cang liền có thể minh tâm kiến tánh”, đấy chẳng phải là
hạnh khởi giải tuyệt ƣ?
Theo ngu ý, chữ Khởi nên hiểu là Cực, tức là tận lực đến cùng
cực, mới hòng đạt đến cả Năng lẫn Sở cùng mất, nhất tâm phô
bày triệt để. Nếu hạnh chƣa đến mức cùng cực, dù có quán niệm
vẫn còn có Năng, có Sở, vẫn hoàn toàn là tác dụng của phàm                                                                             243
tình, hoàn toàn là tri kiến phân biệt, hoàn toàn là tri
giải, sao đạt lợi ích chân thật đƣợc? Phải tận sức đến cùng cực
thì Năng, Sở, tình kiến mới tiêu diệt, chân tâm vốn có mới phát
hiện. Bởi thế, thuở xƣa có ngƣời đầu nhƣ cây chết sau chứng
đạo phong, rạng rỡ cổ kim. [Muốn tu hành đƣợc] lợi ích [phải]
hoàn toàn [chú trọng] nơi một chữ Cực vậy!  
* Ngƣời khéo đạt lợi ích thì không gì là chẳng hữu ích, ngƣời
cam chịu tổn mình sẽ chẳng bị tổn hại gì cả. Ngƣời đời nay hay
dùng thế trí biện thông để làm vốn nghiên cứu Phật học; vừa biết
đƣợc chút nghĩa lý đã bảo mình chứng đắc. Từ đấy, tự nghĩ
mình cao quý, miệt thị cổ kim. Đừng nói là ngƣời hiện đại chẳng
đáng để vào mắt, ngay cả những bậc cao tăng từ một ngàn mấy
trăm năm trƣớc (đa phần là cổ Phật tái lai, hoặc Pháp Thân Bồ
Tát thị hiện) đều bị họ coi tuốt là hạng tầm thƣờng, chẳng đáng
noi theo! Chƣa đắc bảo đã đắc, chƣa chứng khoe đã chứng.
Nghe lời họ nói cao chót vót chín tầng trời, xét tâm họ thấp trệt
dƣới chín tầng đất! Tập nhiễm nhƣ thế hãy nên quyết liệt trừ
khử. Nếu không, khác nào Đề Hồ đựng trong chén độc, giết
ngƣời chết tƣơi!
Nếu có thể niệm niệm quay lại xem xét tự tâm thì chẳng những
sẽ đƣợc lợi ích nơi các pháp Nhƣ Lai đã giảng, ngay cả phiến
đá, hòn sỏi tầm thƣờng, chiếc đèn lồng, cây cột ngoài đƣờng, tất
cả những hình sắc, thanh âm trong đại địa, không thứ gì chẳng
phải là diệu lý Thật Tƣớng Đệ Nhất Nghĩa Đế! Bởi thế mới nói:
“Xƣa nay chƣa có ai, sao từng mộng thấy đƣợc?” Xin hãy tin
chắc, gắng sức thực hành.
* Những điều lệnh thân (11) đƣợc thấy thật là hy hữu, lạ lùng, có
thể nói là có thiện căn từ xƣa, nhƣng phải ra sức gắng công tu trì
thì giấc mộng ấy mới chẳng bị uổng phí. Nếu nhƣ vì tri kiến phàm                                                                             244
phu, lầm tƣởng mình đã đƣợc Tam Bảo gia bị, đã dự
vào dòng thánh, rồi sanh đại ngã mạn, chƣa đắc bảo đã đắc,
chƣa chứng bảo đã chứng, sẽ thành ra do nhân lành chuốc lấy
quả ác. Ngƣời đời mạt tâm trí hèn kém thƣờng mắc phải căn
bệnh ấy. Câu kinh Lăng Nghiêm: “Chẳng nghĩ là thánh tâm thì
gọi là cảnh giới lành, nếu cho là thánh giải sẽ vƣớng quần tà”
chính là nói về tình trạng này. Xin hãy lấy việc tận lực tu trì pháp
môn Tịnh Độ để tự khích lệ mình, ngõ hầu tƣơng lai quyết định
đƣợc hƣởng đại lợi ích!
* Niệm Phật chú trọng vãng sanh, niệm đến cùng cực cũng có
thể minh tâm kiến tánh, phải đâu niệm Phật hoàn toàn chẳng ích
lợi gì cho đời hiện tại! Xƣa kia, ngài Minh Giáo Tung Thiền Sƣ,
nhật khóa niệm mƣời vạn lần thánh hiệu Quán Thế Âm, sau này
mọi kinh sách thế gian ngài không đọc nhƣng đều biết. Cứ xem
Tịnh Độ Thập Yếu, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục ắt sẽ biết niệm Phật
mầu nhiệm, Quang tôi đã nhắc đến nhiều lần trong cuốn Văn Sao
hủ lậu của mình. Cƣ sĩ bảo “niệm Phật vô ích đối với đời này” thì
chẳng những chƣa thâm hiểu các kinh luận Tịnh Độ, mà ngay cả
với cuốn Văn Sao của Quang cũng chỉ cƣỡi ngựa xem hoa, chƣa
đọc hiểu thật kỹ vậy!
* Tuy Tịch Quang Tịnh Độ là “đƣơng xứ tức thị” (có thể tạm hiểu
là “ngay nơi đây chính là cõi Thƣờng Tịch Quang”, hoặc “hiện
hữu ngay tại nơi đây”, hoặc “có thể ngộ nhập ngay nơi đây chẳng
cần tìm nơi khác”), nhƣng nếu chẳng là bậc trí đoạn rốt ráo, viên
chứng Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na sẽ chẳng thể triệt để chứng ngộ,
đích thân thọ dụng đƣợc! Bốn mƣơi mốt địa vị: Thập Trụ, Thập
Hạnh, Thập Hồi Hƣớng, Thập Địa, Đẳng Giác trong Viên Giáo
vẫn còn là “phần chứng” (chứng nhập đƣợc ít phần). Nếu ông đã
viên chứng đƣợc Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na, nói “đƣơng xứ tức thị                                                                             245
Tịch Quang” cũng chẳng ngại gì. Nếu không thì chỉ là
kể tên món ăn, đếm của báu, chẳng khỏi bị đói rét đến chết mà
thôi!
4. Luận về Tông, Giáo
* Những giảng sƣ đời mạt thƣờng  thích giảng Thiền, đến nỗi
thính chúng đa phần chấp vào những câu công án. Trộm nghĩ:
Những câu cơ phong chuyển ngữ (thoại đầu, công án) trong nhà
Thiền tuyệt đối chẳng có ý nghĩa gì, chỉ nhằm đáp ứng căn cơ
ngƣời đến hỏi hòng chỉ nẻo hƣớng thƣợng. [Những câu chuyển
ngữ] ấy chỉ nên để tham cứu, sao lại giảng nói? Giảng kinh nhƣ
vậy chỉ những bậc đại sĩ siêu phàm mới hƣởng lợi ích, còn
những hạng trung  - hạ khác đều mắc bệnh hết. Đối với Tông,
chẳng biết tận lực tham cứu những câu cơ phong chuyển ngữ,
chỉ lo phỏng đoán ý nghĩa. Với Giáo, do thật lý, thật sự nào phải
là cảnh giới của mình, bèn lầm tƣởng [Phật, Tổ] nói thí dụ để
giảng pháp. Đem Tông phá Giáo, dùng Giáo phá Tông, cái tệ nạn
lƣu hành này không còn gì tệ hơn đƣợc nữa!
* Từ ngài Tào Khê (Lục Tổ Huệ Năng) về sau, đạo Thiền lƣu
truyền rộng rãi; mối văn tự “chẳng lập văn tự” phổ biến khắp
hoàn vũ. Đƣờng giải thuyết ngày càng mở rộng, cửa chứng ngộ
ngày càng bế tắc! Vì thế, các tổ Nam Nhạc, Thanh Nguyên đều
dùng cơ phong chuyển ngữ để độ ngƣời, khiến cho Phật, Tổ trở
thành ngôn ngữ suông, không cách nào đáp đƣợc lời các ngài
hỏi. Nếu chẳng phải thật sự là căn cơ tƣơng xứng sẽ chẳng thể
hiểu đƣợc lời ấy. Dùng cách ấy để xét nghiệm khiến vàng - thau
rạch ròi, ngọc - đá rành rành, không còn cách nào giả trá, ngăn
trở đạo pháp. Đấy chính là duyên do của cơ phong chuyển ngữ.                                                                            246
Từ đấy về sau, pháp này ngày càng thịnh hành,
đƣợc các tri thức đề cao, chỉ e lạc vào lối mòn của ngƣời khác,
trở thành khuôn sáo cũ kỹ, khiến ngƣời học nghi ngờ, lầm lạc,
hoại loạn Tông phong, nên cơ phong chuyển ngữ ngày càng cao
tột, vô phƣơng chuyển biến, để ngƣời khác (ngƣời căn cơ không
phù hợp) chẳng biết đâu mà mò. Bởi thế mới có những câu nói
trách Phật, quở Tổ, bài xích kinh giáo, bác bỏ Tịnh Độ! Những lời
lẽ ấy nhằm cƣỡng đoạt tình kiến, bít chặt sự biện giải của ngƣời
nghe. Ngƣời căn thuần sẽ nhờ ngay đó biết đƣờng trở về, triệt
ngộ hƣớng thƣợng; ngƣời căn cơ chƣa thuần sẽ chân thành, tận
lực tham cứu, quyết đạt đến đại triệt, đại ngộ mới thôi. Ấy là vì tri
thức còn nhiều, căn tánh con ngƣời vẫn còn thông lợi, hiểu rành
rẽ giáo lý, tâm sanh tử khẩn thiết, dù chƣa thể liễu ngộ ngay
cũng chẳng nảy lòng hèn kém, cho đó là pháp bảo vậy!
* Hiện tại, lắm kẻ mới đọc vài cuốn sách Nho, chẳng hiểu đạo lý
thế gian, chƣa hiểu cùng tột giáo thừa, chẳng hiểu Phật pháp,
vừa mới phát tâm bèn gia nhập Tông môn. Hàng tri thức chỉ vì
duy trì môn đình, cũng học đòi cổ nhân xiển dƣơng, chẳng quản
đạo pháp lợi hại thế nào. Ngƣời theo học chẳng phát khởi mối
nghi tình chân thật, đối với bất cứ điều nào cũng tƣởng là chân
pháp cả!
Đối với những câu khai thị của ngƣời hiện tại hoặc những câu
chép trong sách của cổ nhân, có kẻ bèn tự ý suy diễn nêu ra
nghĩa lý, dù trọn chẳng ra khỏi việc giải thích ý nghĩa theo mặt
văn tự, nhƣng cứ tự hào là triệt ngộ hƣớng thƣợng, việc tham
học đã hoàn tất rồi, liền dự ngay vào địa vị tri thức để dạy dỗ đàn
hậu học, lập riêng một môn đình. Cứ sợ ngƣời khác chê mình
chẳng phải là bậc thông gia bèn ra sức giảng Thiền, muốn đƣợc
xƣng tụng là “tông thuyết kiêm thông”.
Giảng về Tông thì khi giảng những lời chỉ quy hƣớng thƣợng của
cổ đức rốt cuộc chỉ giảng nghĩa câu văn theo mặt văn tự. Khi                                                                             247
giảng Giáo, cái đạo tu nhân chứng quả của Nhƣ Lai
bị họ biến thành những thuyết “mƣợn ví dụ để biểu thị pháp”.
Dùng Giáo phá Tông, đem Tông phá Giáo, kẻ đui dẫn lũ mù, kéo
nhau vào lửa, đến nỗi bọn hậu bối chẳng đƣợc nghe gƣơng sáng
của tiền bối, láo nháo bắt chƣớc thầy khinh Phật, lờn Tổ, bài
nhân, bác quả mà thôi!
* Giáo độ khắp ba căn, thâu trọn lợi độn, ví nhƣ chiếu chỉ sáng
suốt của vua thánh, vạn quốc tôn sùng, trí - ngu, hiền - tệ đều
cùng hiểu rõ, đều phải tuân hành. Nếu kẻ nào chẳng tuân sẽ bị
xử cực hình. Nếu kẻ nào chẳng tuân lời Phật dạy ắt sẽ đọa trong
ác đạo. Tông chỉ độ đƣợc thƣợng căn, chẳng nhiếp trung căn, hạ
căn; giống nhƣ tƣớng quân nhận mật lệnh, ngƣời [thân cận]
trong doanh mới biết, kẻ ngoài doanh dù có trí huệ cũng chẳng
hiểu đƣợc. Vì thế mới có thể dùng toàn quân diệt giặc, thiên hạ
thái bình. Quân lệnh bị tiết lộ, ba quân sẽ tan vỡ; Tổ ấn bị tiết lộ,
năm tông (12) chết tiêu. Kẻ chƣa ngộ chỉ đƣợc phép tham cứu
thoại đầu, chẳng đƣợc xem đọc sách Thiền, thật ra chỉ là vì sợ
kẻ ấy hiểu lầm ý Tổ, chấp mê là ngộ, lấy giả rối chân. Đấy gọi là
[Tổ ấn] bị tiết lộ, tai hại cực lớn.
* Về nguồn không hai, phƣơng tiện nhiều cửa. Phƣơng tiện của
nhà Thiền vƣợt ngoài khuôn khổ, tựa hồ quét sạch hết thảy ngôn
ngữ. Kẻ không lãnh hội đƣợc ý ấy, chẳng hiểu ý chỉ rời lìa ngôn
ngữ, chuyên nhai bã hèm, nên đối với Tông chỉ lo suy diễn [ý Tổ]
chẳng chịu tận lực tham cứu, đối với Giáo bèn lầm lạc học đòi
viên dung, phá hoại sự tƣớng! Chỉ có bậc đại đạt là đƣợc lợi ích
cả nơi Tông lẫn nơi Giáo; nếu không, đề-hồ, cam lộ bị chứa trong
bình độc bèn thành tỳ sƣơng, trầm độc!                                                                            248
* Dù trung căn, hạ căn vẫn có thể đƣợc lợi ích nơi
Giáo, nhƣng nếu chẳng phải là bậc thƣợng thƣợng căn sẽ chẳng
thể thông suốt Giáo để vận dụng. Dẫu kẻ trung, hạ căn khó thể
chuyên chí nơi Tông, nhƣng bậc thƣợng căn lại có thể đại triệt
đại ngộ để hòng chứng nhập.
Trong Giáo, phải thông đạt hết thế pháp, Phật pháp, Sự, Lý,
tánh, tƣớng, lại còn phải đại khai viên giải (nhà Thiền gọi là đại
triệt đại ngộ) thì mới có thể làm đạo sƣ cho cả trời lẫn ngƣời.
Trong Tông, tham vỡ đƣợc một câu thoại đầu, thấy đƣợc bổn lai,
bèn có thể xiển dƣơng tông phong “trực chỉ”. Nếu nhằm lúc Phật
giáo đại hƣng khởi và là bậc thông đạt rộng rãi Phật pháp thì hãy
nên tham cứu theo nhà Thiền, giống nhƣ Tăng Diêu vẽ rồng, hễ
điểm nhãn, rồng liền bay lên ngay lập tức. Còn nhằm khi Phật
pháp suy vi, kẻ túc căn kém cỏi hãy nên tu trì theo Giáo. Ví nhƣ
thợ vụng chế đồ mà bỏ hết dây mực thì rốt cuộc chẳng làm gì
đƣợc cả!
* Nay muốn báo ơn Phật, lợi lạc hữu tình thì nhà Thiền dù
chuyên xiển dƣơng tông phong, vẫn phải dùng Giáo để ấn
chứng; bên Giáo thì tận lực tu trì quán hạnh, chẳng lạm bàn thiền
ngữ. Ấy là vì tâm thông diệu đế, hễ gặp duyên liền thành Tông.
“Cây bách, que phân khô, quạ kêu, sẻ hót, nƣớc chảy, hoa trôi,
ho khạc, phẩy tay, cƣời khẩy, giận chửi”, pháp nào pháp nấy đều
là Tông cả. Lẽ nào diệu pháp viên đốn do chính kim khẩu đức
Nhƣ Lai nói ra chẳng đáng kể là Tông ƣ? Cần gì phải mƣợn cái
thanh chống cửa nhà ngƣời để chống đỡ cửa nẻo nhà mình!
Trong nhà vốn sẵn gỗ Tiên, gỗ Nam, cớ sao vứt bỏ chẳng dùng?
Hãy nên biết rằng: pháp không cao, hèn, chỉ là nhất đạo thƣờng
nhiên, do căn cơ có sống hay chín nên nơi mỗi pháp đƣợc lợi ích
khác biệt!                                                                            249
5. Luận về Trì Chú
* Một pháp Trì Chú chỉ nên dùng làm Trợ Hạnh, chẳng nên lấy
Trì Chú làm Chánh Hạnh, coi Niệm Phật là pháp tu phụ! Dù pháp
môn Trì Chú cũng chẳng thể nghĩ bàn, nhƣng phàm phu đƣợc
vãng sanh hoàn toàn nhờ vào lòng tin chân thành, nguyện thiết
tha, cũng nhƣ do đại thệ nguyện của A Di Đà Phật cảm ứng đạo
giao mà đƣợc Ngài tiếp dẫn. Nếu chẳng hiểu lẽ này, dù pháp nào
cũng đều chẳng thể nghĩ bàn, tu bất cứ pháp  nào mà chẳng
đƣợc, nhƣng vẫn trở thành “không Thiền, không Tịnh Độ, giƣờng
sắt và cột đồng, vạn kiếp với muôn đời, không có ai nƣơng
dựa!”
Nếu tự biết mình là phàm phu đầy dẫy triền phƣợc, toàn thân là
nghiệp lực, nếu chẳng cậy vào nguyện lực hoằng thệ của Nhƣ
Lai, quyết khó thể chắc chắn thoát khỏi luân hồi ngay trong đời
này, ắt sẽ biết lực dụng của những giáo pháp đức Phật đã dạy ra
trong cả một đời đều chẳng bằng đƣợc nổi một pháp Tịnh Độ
này.
Nếu trì chú, tụng kinh để gieo trồng phƣớc huệ, tiêu tội nghiệp thì
đƣợc; nhƣng nếu vọng động mong cầu thần thông thì đúng là bỏ
gốc theo ngọn, chẳng khéo dụng tâm. Nếu nhƣ tâm này cố kết,
lại chẳng hiểu rõ lý, giới lực chẳng vững, Bồ Đề tâm chẳng sanh,
tâm nhân  - ngã càng thạnh, ắt chẳng mấy chốc sẽ bị ma dựa
phát cuồng! Phàm muốn đƣợc thần thông, phải đắc đạo trƣớc
đã! Hễ đắc đạo liền tự có thần thông. Nếu chẳng dốc sức vào
đạo, chỉ mong cầu thần thông, đừng nói là chƣa đắc thần thông,
dù có đắc cũng trở thành chƣớng đạo! Vì thế, chƣ Phật, chƣ Tổ
thảy đều nghiêm cấm, chẳng muốn ngƣời đời tu tập thần thông!
Do trong đời thƣờng có những ngƣời có kiến giải nhƣ thế nên tôi
mới nhiều lần giãi bày nhƣ vậy!                                                                            250
* Chỉ nên trì chú để trợ tu Tịnh nghiệp, đừng bộp
chộp tác pháp, khinh nhờn Phật, thánh. Nếu đƣờng đột tác pháp
nhƣng thân tâm chẳng cung kính, chẳng chí thành, rất có thể ma
sự sẽ khởi. Chỉ có một việc là nên tác pháp, nhƣng đấy lại chẳng
phải là phận sự của các ông. Đó là: nếu ai phát tâm xuất gia,
nhƣng [thầy thế độ] chƣa chứng đạo, chẳng thể quán xét căn cơ,
bèn cầu xin Phật từ ngầm dạy cho biết ngƣời ấy xuất gia đƣợc
hay không, hòng tránh khỏi tệ nạn hạng đầu trộm đuôi cƣớp lộn
sòng Tăng chúng.
Nhƣng ngày nay Tăng chúng thâu nạp đồ đệ, cứ sợ chẳng thâu
đƣợc nhiều, dù biết rõ kẻ đó là phƣờng hạ lƣu, vẫn cứ  vội vã
thâu nạp, chỉ sợ nó bỏ đi mất, mấy ai chịu quyết trạch nhƣ thế
nữa! Tham danh lợi, ƣa quyến thuộc đến nỗi Phật pháp ngập
chìm sát đất, không cách nào hƣng khởi đƣợc nữa!
* Ngƣời niệm Phật chẳng phải là không đƣợc trì chú, nhƣng phải
phân định rõ đâu là Chánh, đâu là Trợ thì Trợ cũng quy về
Chánh. Nếu cứ lằng nhằng chẳng thể phân biệt, đến ngày nào
đó nhìn lại, Chánh cũng chẳng phải là Chánh nữa! Chú Chuẩn
Đề, chú Đại Bi, chẳng có chú nào hơn kém cả! Nếu tâm chí
thành, pháp nào cũng linh. Tâm chẳng chí thành, pháp nào cũng
chẳng linh!
* Học chú Vãng Sanh bằng [chánh âm] tiếng Phạn (13) cũng là
rất tốt, nhƣng chẳng đƣợc sanh tâm phân biệt, cho chú văn lƣợc
dịch là sai. Hễ khởi tâm niệm ấy sẽ sanh tâm ngờ vực đối với hết
thảy các chú chép trong Đại Tạng, cho là những chú ấy chẳng
hợp Phật ý. Phải biết rằng những vị dịch kinh đều chẳng phải tầm
thƣờng, sao lại vì những bản dịch của họ không giống nhau bèn
sanh lòng miệt thị? Hơn một ngàn năm, những ngƣời trì chú này
đƣợc lợi ích chẳng kể nổi số;  chẳng lẽ mọi ngƣời trì chú trong                                                                             251
hơn một ngàn năm ấy đều chẳng biết tiếng Phạn hay
sao? Học thì đƣơng nhiên phải học, tuyệt đối đừng khởi ý niệm
ƣu liệt, hơn kém thì lợi ích sẽ chẳng thể nghĩ bàn.
Hơn nữa, một pháp trì chú rất giống nhƣ pháp khán thoại đầu.
Pháp khán thoại đầu dùng một câu vô nghĩa để dứt trừ phân biệt
phàm tình hòng chứng Chân Trí sẵn có. Pháp trì chú chẳng cần
hiểu nghĩa lý câu chú, cứ chí thành khẩn thiết mà trì, dốc lòng
thành đến cùng cực, tự sẽ đƣợc nghiệp tiêu trí rạng, chƣớng tận
phƣớc cao, lợi ích chẳng thể nghĩ bàn đƣợc!
6. Luận về xuất gia
* Phật pháp chính là pháp chung cho cả chín pháp giới, không
một ai là chẳng nên tu theo, cũng nhƣ không một ai chẳng thể tu
nổi! Ngƣời trì trai, niệm Phật thì nhiều, nhƣng tính đến những
ngƣời có thể làm cho đạo pháp hƣng long, phong tục thuần thiện
chỉ sợ chẳng đƣợc mấy, [những ngƣời làm đƣợc nhƣ vậy] càng
nhiều càng tốt. Xuất gia làm Tăng chính là để gìn giữ cũng nhƣ
lập bày phƣơng cách lƣu truyền đạo pháp của Nhƣ Lai.
Có những ngƣời lập chí hƣớng thƣợng, phát Bồ Đề tâm, triệt
ngộ tự tánh, tam học (Văn - Tƣ - Tu) sâu rộng, nhƣng lại đặc biệt
tán dƣơng Tịnh Độ ngõ hầu mau chóng thoát khỏi vòng khổ ải
ngay trong một đời này, chỉ e số ngƣời này cũng chẳng đƣợc
mấy ai, càng đƣợc nhiều  ngƣời nhƣ vậy càng tốt. Còn nhƣ
những kẻ có chút tín tâm, chẳng có đại chí hƣớng, muốn mƣợn
danh nghĩa tăng sĩ, ăn không ngồi rồi, ăn bám nhà Phật, mang
danh con Phật, nhƣng thật ra chỉ là gã cạo đầu, dẫu chẳng tạo
ác nghiệp, cũng đã là hạt giống hƣ, là phế nhân đối với đất nƣớc.
Nếu lại còn phá giới, tạo nghiệp, điếm nhục Phật pháp, dù lúc
sống trốn đƣợc quốc pháp, chết đi chắc chắn đọa vào địa ngục.                                                                             252
Đối với pháp, đối với mình đều chẳng lợi ích. Một gã
nhƣ thế còn chẳng nên có, huống chi là nhiều!
Cổ nhân bảo: “Xuất gia là việc của bậc đại trƣợng phu, chẳng
phải hạng loàng xoàng làm đƣợc”, đấy chính là lời chân thật,
chẳng phải là lời hạ thấp hạng loàng xoàng để đề cao Tăng-già
đâu! Ấy là vì đối với việc gánh vác gia nghiệp của Phật, tiếp nối
huệ mạng của Phật, nếu chẳng phải là ngƣời phá vô minh khôi
phục bổn tánh, hoằng dƣơng pháp đạo lợi lạc chúng sanh thì sẽ
chẳng thể làm đƣợc. Nay những kẻ làm Tăng phần nhiều là hạng
thô bỉ, bại hoại, vô lại, mong đƣợc sống an nhàn, thảnh thơi; kẻ
chịu trì trai niệm Phật còn chẳng có mấy, huống hồ là ngƣời có
thể gánh vác gia nghiệp, tiếp nối huệ mạng ƣ? Hiện tại Phật
pháp sa sút đến tận đất đen là vì Thanh Thế Tổ (Thuận Trị)
chẳng xét thời cơ, chẳng tuân Phật chế, thay đổi cách khảo thí
tăng sĩ của triều đại trƣớc (nhà Minh), bỏ luôn độ điệp (14), cho
phép ai nấy tùy ý xuất gia, gây thành mối tệ vậy!
* Cho tùy ý xuất gia, đối với bậc thƣợng sĩ thật là có lợi ích lớn,
nhƣng đối với kẻ hạ căn lại là sự tổn hại rất lớn. Nếu nhƣ toàn
thể thế gian đều là bậc thƣợng sĩ, cố nhiên pháp tắc này rất hữu
ích đối với đạo pháp; thế nhƣng bậc thƣợng sĩ hệt nhƣ vảy lân,
kẻ hạ căn nhiều nhƣ lông bò. Chỉ tạm hữu ích ngay trong lúc ấy
(từ đầu nhà Thanh cho đến thời Càn Long, thiện tri thức nhiều
nhƣ rừng, nên bảo là “hữu ích”), họa  lan sâu hậu thế; cho đến
hiện tại, mối tệ ô tạp, lạm dụng đã đến mức cùng cực. Dù có
thiện tri thức muốn chỉnh đốn một phen cũng chẳng thể làm gì
đƣợc, chẳng đáng buồn ƣ?
Từ rày về sau, ngƣời xuất gia điều thứ nhất là phải thật sự phát
khởi đại Bồ Đề tâm tự lợi lợi tha, thứ hai là phải có thiên tƣ hơn
ngƣời mới cho xuống tóc, không vậy không đƣợc. Còn ngƣời nữ
có tín tâm hãy bảo họ tu hành tại gia, vạn vạn phần chẳng nên để
họ xuất gia, chỉ sợ gặp phải kẻ phóng túng khiến Phật môn bị ô                                                                             253
uế, bại hoại chẳng nhỏ. Nếu ngƣời nam tu hành thật
sự, xuất gia càng dễ, bởi họ tham phỏng tri thức, y chỉ tùng lâm
[nào cũng đƣợc]. Ngƣời nữ dù là bậc chân tu xuất gia cũng khó,
bởi lẽ làm gì cũng dễ bị miệng đời gièm xiểm, việc gì cũng khó
thể tùy ý đƣợc. Chọn lựa để thế độ ngƣời, chẳng độ ni chúng
nhƣ thế chính là nghĩa lý trọng yếu bậc nhất để hộ trì Phật pháp,
chỉnh lý pháp môn trong đời mạt vậy!  
* Ngƣời đời nay hay coi xuất gia nhƣ một phƣơng cách sống trốn
tránh, lƣời nhác, an nhàn. Tệ nhất là kẻ không còn sanh lộ nào
khác, lấy xuất gia làm kế sống trộm qua ngày. Bởi thế ngƣời xuất
gia hiện tại đa phần là hạng vô lại, đạo pháp bị quét sạch sành
sanh đều là vì hạng xuất gia bại hoại nhƣ thế gây nên nỗi cả!
* Tăng nhân đời nay khó thể khiến ngƣời khác tin tƣởng nổi. Nay
đã truy điệu tăng nhân, lẽ nào lại phỉ báng tăng nhân. Nếu nêu
lên những điều tốt lành của họ để răn nhắc những kẻ bất thiện
thì chẳng mắc lỗi gì. Nhƣng nếu mình đã thuộc vào hàng học trò
thì việc răn nhắc cũng nên châm chƣớc; việc răn nhắc ấy chỉ
hàng đức cao trọng vọng mới thực hiện đƣợc, chẳng phải là việc
nên làm của loài chim non miệng vàng vậy!
* Hàng xuất gia nếu chẳng phải chân tu, tập khí đầu đƣờng xó
chợ còn tệ hơn kẻ tục. Nếu muốn xa lìa tập khí ấy thì trƣớc hết
phải hiểu rõ hết thảy các pháp thế gian đều là khổ, là không, là
vô thƣờng, là vô ngã, là bất tịnh, thì ba độc tham - sân - si không
cách nào khởi lên đƣợc. Nếu vẫn chƣa chế ngự chúng đƣợc,
hãy dùng trung - thứ - nhẫn nhục để đối trị ắt chúng sẽ tự dứt.
Nếu vẫn chƣa dứt thì phải tƣởng mình nhƣ đã chết, tự nhiên vô
biên phiền não sẽ hóa thành thanh lƣơng.                                                                            254
* Chỉ hạng Thích Tử chúng ta mới lấy việc thành đạo lợi sanh
làm cách báo ân tối thƣợng, chẳng những báo đền cha mẹ nhiều
đời, mà còn báo đáp hết thảy cha mẹ trong tứ sanh lục đạo từ vô
lƣợng kiếp. Chẳng những chỉ hiếu kính khi cha mẹ còn sống mà
còn phải độ thoát linh thức của cha mẹ khiến họ đƣợc vĩnh viễn
thoát khỏi khổ luân, thƣờng trụ Chánh Giác. Bởi thế mới nói: đạo
hiếu của nhà Phật ẩn mật khó sáng tỏ ra vậy.
Tuy nhiên, đạo hiếu của Nho gia lấy việc phụng dƣỡng cha mẹ
làm đầu. Nhƣ đạo Thích từ biệt cha mẹ đi xuất gia, có phải là
chẳng đoái hoài đến việc phụng dƣỡng cha mẹ chăng? Phật chế
định: Xuất gia phải thƣa cùng cha mẹ. Nếu có anh em, con cháu
để gởi gắm cha mẹ mới đƣợc bẩm thỉnh với cha mẹ. Cha mẹ có
đồng ý mới đƣợc xuất gia. Nếu không, chẳng chấp thuận cho kẻ
ấy đƣợc xuống tóc.
Sau khi xuất gia xong, nếu nhƣ anh em gặp biến cố, cha mẹ
không chỗ nƣơng nhờ, ngƣời xuất gia cũng đƣợc phép chia sớt
y bát để phụng dƣỡng song thân. Vì thế, mới có gƣơng thơm
hiếu dƣỡng với mẹ của ngài Trƣờng Lô (Ngài Trƣờng Lô Trách
thiền sƣ đời Tống, ngƣời xứ Tƣơng Dƣơng. Lúc nhỏ mồ côi cha,
mẹ họ Trần, đƣợc bảo bọc nơi nhà cậu. Đến lúc lớn, sƣ thông
suốt sách vở thế gian. Năm 29 tuổi xuất gia, hiểu sâu xa yếu chỉ
nhà Thiền, sau trụ trì chùa Trƣờng Lô, đón mẹ về ở phòng phía
Đông phƣơng trƣợng, khuyên mẹ niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ
suốt bảy năm trời. Bà mẹ niệm Phật qua đời. Xem sự tích này
trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục), chuyện lạ chôn cha của ngài Đạo
Phi (Đạo Phi thuộc hoàng tộc nhà Đƣờng, ngƣời Trƣờng An, mới
vừa đầy năm, cha bỏ mình vì việc nƣớc. Bảy tuổi xuất gia, đời
loạn lạc, gạo thóc đắt đỏ, sƣ bèn cõng mẹ vào Hoa Sơn, tự nhịn
ăn, khất thực nuôi mẹ. Năm sau, sƣ đến chiến trƣờng Hoắc Sơn,
thu nhặt xƣơng trắng, chí thành tụng niệm kinh chú, cầu tìm
đƣợc xƣơng cha. Mấy ngày sau, xƣơng cha trồi lên giữa đống                                                                             255
xƣơng, hiện ngay trƣớc mặt ngài Đạo Phi. Ngài bèn
bọc lấy xƣơng tàn, ôm về chôn cất. Xem trong Tống Cao Tăng
Truyện).
Bởi thế kinh dạy: “Công đức cúng dƣờng cha mẹ bằng với công
đức cúng dƣờng Nhất Sanh Bổ Xứ Bồ Tát”. Cha mẹ còn sống,
phải khéo léo khuyên dụ trì trai, niệm Phật cầu sanh Tây
Phƣơng. Cha mẹ mất rồi, dùng công đức đọc tụng, tu trì của
chính mình, luôn chí thành hồi hƣớng cho cha mẹ ngõ hầu cha
mẹ vĩnh viễn thoát khỏi ngũ trƣợc, mãi mãi giã biệt sáu đƣờng,
chứng Vô Sanh Nhẫn, đạt đến địa vị Bất Thoái, độ thoát chúng
sanh đến tận cùng đời vị lai, khiến mình lẫn ngƣời đều thành đạo
Chánh Giác. Có vậy mới chẳng giống  với sự đại hiếu thông
thƣờng của thế gian.
* Xuất gia làm Tăng phải vì chuyên chí Phật thừa, lập bày cách
duy trì đạo pháp, chứ chẳng phải là chỉ có thành Tăng thì mới có
thể tu trì Phật pháp.
7.  Luận về báng Phật
* Hễ ai đời trƣớc quả thật có gieo căn lành, chẳng cần biết là vì
học hỏi hay vì cầu đạo, thì đều có thể tạo thành mầm mống đại
sự xuất thế. Tham, sân, si, hoặc nghiệp phiền não, các thứ ác
báo nhƣ tật bệnh liên miên đều là nhân duyên xuất ly sanh tử
nhập Phật pháp, miễn sao ngƣời ấy tự có thể phản tỉnh hay
không.
Nếu chẳng thể tự phản tỉnh, đừng kể chi hạng ngƣời tầm thƣờng
thấp thỏi bị thế giáo buộc ràng, ngay cả những ngƣời nhƣ Hối
Am, Dƣơng Minh, Tĩnh Tiết, Phóng Ông v.v... dù học vấn, trình                                                                             256
độ, mức tu dƣỡng đều kỳ đặc, trác tuyệt, rốt cục vẫn
chẳng thể triệt ngộ tự tâm, liễu thoát sanh tử. Cái học vấn, tu
dƣỡng, sự hiểu biết của họ có thể làm cơ sở cho vô thƣợng diệu
đạo, nhƣng vì chẳng thể tự phản tỉnh nên rốt cuộc lại thành
chƣớng đạo. Đủ thấy nhập đạo thật khó, khó còn hơn lên trời
nữa!
* Phật thấy chúng sanh đều là Phật. Chúng sanh thấy Phật đều
là chúng sanh. Do Phật thấy chúng sanh đều là Phật nên tùy
thuận cơ nghi mà thuyết pháp, mong họ tiêu trừ đƣợc vọng
nghiệp, tự chứng đƣợc cái mình vốn sẵn có. Dù hết thảy chúng
sanh đều chứng đƣợc Niết Bàn rốt ráo, Phật trọn chẳng thấy
mình là ngƣời cứu độ, chúng sanh là ngƣời đƣợc độ bởi họ vốn
dĩ là Phật.
Do chúng sanh thấy Phật là chúng sanh nên chín mƣơi lăm phái
ngoại đạo ở Tây Thiên (Ấn Độ) cùng bọn nho sĩ câu nệ, rỗng
tuếch xứ này không ai là chẳng dốc sạch tâm lực hủy báng đủ
cách mong sao Phật pháp diệt sạch hoàn toàn chẳng còn tung
tích gì thì lòng mới khoái. Nhƣng mặt trời chói lọi giữa hƣ không,
toan dùng hai tay che kín, càng khiến quang minh của Phật pháp
càng thêm tỏ rõ, càng bộc lộ cái nông cạn, hèn kém của chính
mình mà thôi!
Ngƣời có túc căn do nhân duyên báng Phật, bài Phật bèn lại
đƣợc quy y Phật pháp, làm đệ tử Phật, thay Phật hoằng dƣơng,
giáo hóa. Ngƣời không túc căn sẽ vì nghiệp lực ấy vĩnh viễn đọa
trong A Tỳ địa ngục. Đợi đến lúc nghiệp báo hết rồi, thiện căn
đƣợc nghe danh hiệu Phật trong kiếp xƣa sẽ phát hiện, nhờ đó
mới đƣợc nhập Phật pháp, sẽ tạm gieo thiện căn. Đến khi nghiệp
tận tình không, khôi phục lại cái mình vốn sẵn có mới thôi.
Phật ân thật là rộng lớn sâu xa cùng cực, chẳng thể hình dung
nổi! Một câu gieo vào tâm, mãi mãi là hạt giống đạo. Ví nhƣ nghe                                                                             257
tiếng cái trống có bôi thuốc độc, xa gần đều chết
tƣơi; ăn chút kim cang, quyết định chẳng tiêu đƣợc. Tin đƣợc
nhƣ vậy mới gọi là chánh tín.
* Phật pháp không điều nào lớn lao chẳng bao gồm, không điều
nhỏ nhặt nào chẳng nêu. Ví nhƣ một cơn mƣa thấm ƣớt khắp cả,
cây cỏ cùng đƣợc tƣơi tốt, cái đạo “tu thân, tề gia, trị quốc”
không gì là chẳng đủ. Xƣa nay, văn chƣơng chỉ thịnh một thời,
nhƣng công nghiệp đồn lan vũ trụ. Phàm những ai chí hiếu, nhân
từ, ngàn đời cùng ngƣỡng mộ. Con ngƣời mới chỉ biết dõi theo
vết tích, chƣa biết tìm đến gốc.
Nếu khảo sát kỹ đến cội nguồn, sẽ thấy tinh thần, chí khí, tiết
tháo của những vị ấy đều đƣợc vun bồi bởi việc học Phật. Chẳng
cần phải nhắc tới những chuyện khác, ngay nhƣ tâm pháp do
hàng thánh nhân Tống Nho đề xƣớng ra cũng vẫn phải mƣợn
Phật pháp làm khuôn mẫu, huống hồ là những chuyện khác! Bọn
Tống Nho khí lƣợng hẹp hòi, muốn hậu thế nghĩ chính họ  đã
phát minh ra tâm pháp ấy, bèn thốt lên những lời báng Phật,
hòng khỏa lấp cái tội mƣợn trộm Phật pháp. Từ Tống sang
Nguyên, tới Minh, không đời nào chẳng vậy.
Cứ thử tận tâm khảo sát, không ai là chẳng đƣợc lợi ích nơi Phật
pháp. Họ giảng về tịnh tọa, giảng về tham cứu cho thấy họ có
dụng công; lâm chung biết trƣớc lúc đi, cƣời nói rồi qua đời chính
là những điểm biểu lộ cuối cùng của họ. Những mẫu chuyện,
những sự tích nhƣ vậy chép đầy trong các truyện ký Lý học, nào
phải chỉ có một chuyện. Học Phật có phải là mối lo cho xã hội
hay chăng?
* Bản thể của Nho và Phật đƣơng nhiên chẳng hai. Về mặt công
phu của Nho và Phật, nếu chỉ bàn hời hợt sẽ thấy rất tƣơng                                                                             258
đồng, nếu bàn sâu sẽ thấy khác nhau nhƣ trời với
đất. Vì sao nhƣ vậy? Nho lấy Thành (chân thành) làm gốc, Phật
lấy Giác làm tông.
Thành chính là “minh đức” (cái đức sáng tỏ), do Thành khởi
Minh, do Minh nên có Thành. Hễ Thành và Minh hợp nhất sẽ
“minh minh đức” (làm sáng tỏ cái đức sáng ngời). Giác có Bổn
Giác và Thỉ Giác. Do Bổn Giác mà Thỉ Giác phát khởi, dùng Thỉ
Giác để chứng Bổn Giác. Thỉ và Bổn hợp nhất tức là thành Phật.
Bổn Giác tức là Thành, Thỉ Giác là Minh. Nếu thuyết pháp nhƣ
thế thì Nho và Phật trọn chẳng khác gì nhau.
Các hạ bảo mình “học Phật, học Khổng, thấy Lý chẳng ngoài một
chƣơng sách Đại Học là điều quyết định chẳng còn ngờ vực gì
nữa”; đấy chỉ là bàn luận một cách nông cạn. Nếu luận về mặt
thứ lớp sâu cạn của công phu tu chứng thì đại để tƣơng đồng,
nhƣng sở chứng, sở đạt bất đồng rất lớn. Nho chỉ có thể “minh
minh đức”, há có thể đoạn trọn Tam Hoặc, đầy đủ cả phƣớc lẫn
huệ nhƣ Phật chăng? Há có thể nhƣ Bồ Tát chứng Pháp Thân,
phá một phần vô minh, thấy một phần Phật Tánh hay chăng? Há
có thể nhƣ Thanh Văn, Duyên Giác đoạn sạch Kiến Hoặc lẫn Tƣ
Hoặc hay chăng?
Điều thứ ba, dù Thanh Văn chỉ đoạn đƣợc Kiến Tƣ Hoặc là hạng
thấp kém nhất, nhƣng các ngài đã đắc lục thông tự tại. Bởi thế,
ngài Tử Bách nói: “Nếu buông vọng tình xuống đƣợc thì dù là
vách núi vẫn có thể đi xuyên qua đƣợc”. Sơ Quả còn phải bảy
lƣợt sanh lên trời, bảy lần sanh xuống nhân gian, nhƣng đạo lực
của các ngài đã đạt tới mức tùy ý chẳng phạm sát giới. Vì thế,
các ngài đi đến đâu, loài trùng giạt ra cả. Do đó, mới nói: “Sơ
Quả cày đất, trùng tránh xa bốn tấc”, huống hồ là Nhị, Tam, Tứ
Quả ƣ!
Hãy khoan nói tới những ngƣời học theo Nho Giáo cái đã, hãy
bàn về thánh nhân thôi. Cố nhiên, đa phần thánh nhân là bậc đại
quyền thị hiện. Không nói tới bổn địa của các ngài, nếu chỉ căn                                                                             259
cứ trên mặt Tích, e rằng các ngài còn chƣa thể đoạn
sạch đƣợc Kiến Hoặc, Tƣ Hoặc nhƣ thế đƣợc, huống hồ là sánh
với các vị Pháp Thân đại sĩ thuộc bốn mƣơi địa vị phá vô minh,
chứng pháp tánh ƣ? Cho dù bảo “minh minh đức” tạm ngang
ngửa với “phá vô minh” đi nữa, phải nhớ rằng phá vô minh có
bốn mƣơi mốt địa vị, “minh minh đức” có ngang bằng đƣợc với
địa vị đầu tiên là Sơ Trụ hay chăng? Có ngang bằng đƣợc với
địa vị cuối cùng là Đẳng Giác hay chăng? Dù “minh minh đức” có
ngang ngửa với địa vị Đẳng Giác đi nữa, đối với minh đức vẫn
chƣa thể minh đến cùng cực đƣợc! Phải đến khi phá đƣợc một
phần vô minh mới đáng gọi là “Thành - Minh hợp nhất, Thỉ - Bổn
vô nhị” vậy!
Do lẽ đó, tôi nói: “Xét về Thể thì đồng, nhƣng phát huy công phu
chứng đạt chẳng đồng!” Ngƣời đời vừa nghe nói “đồng” bèn
tƣởng Nho Giáo bao gồm trọn Phật giáo, nghe nói “khác” bèn
tƣởng Phật giáo hoàn toàn khác với Nho giáo. Họ chẳng biết đến
nguyên ủy “đồng nhƣng bất đồng, bất đồng nhƣng đồng”; bởi
thế, cứ tranh luận tƣng bừng, ai nấy lo bảo vệ môn đình của
mình, ai nấy đều đánh mất tấm lòng trị thế độ nhân của Phật, Bồ
Tát cả!
* Kể từ khi đại pháp truyền vào Trung Quốc, đế vƣơng các đời
không ai chẳng sùng phụng Phật giáo; chỉ có Tam Võ hủy diệt
Phật giáo, nhƣng ngƣời kế vị lại hƣng thạnh Phật giáo. Ví nhƣ
tiết Đông, đông cứng lại chắc nịch để thành tựu vẻ tƣơi tốt, sum
suê cho tiết Xuân, tiết Hạ. Mặt trời chói lọi giữa hƣ không, toan
dùng hai tay che lấp; ngửa mặt khạc nhổ trời, chính mình bị giây
bẩn.
Tam Võ là Ngụy Thái Võ, Châu Võ Đế, Đƣờng Võ Tông. Thoạt
đầu họ đều thâm tín Phật pháp, dốc ý tu tập. Ngụy Thái Võ tin lời
sàm hoặc của Hoắc Hạo, Châu Võ Đế tin lời sàm tấu của Vệ                                                                             260
Nguyên Tung, Đƣờng Võ Tông tin lời vu báng của Lý
Đức Dụ và đạo sĩ Triệu Quy Chân.
Hủy diệt Phật pháp chƣa lâu la gì, cả ngƣời chủ xƣớng lẫn kẻ
tán trợ đều mắc phải ƣơng họa cùng cực. Ngụy Võ Đế phế Phật
rồi, chƣa đầy năm sáu năm, Hoắc Hạo bị diệt tộc, bản thân Ngụy
Võ Đế cũng bị ám sát. Con lên nối ngôi lại ra sức phục hƣng
Phật giáo.
Sau khi Châu Võ Đế phế Phật, Nguyên Tung bị biếm truất và xử
tội chết, khoảng năm sáu năm sau, vua thân mắc ác tật, khắp
mình lở loét, chết chƣa đầy ba năm, Tùy Văn Đế lên ngôi lại
phục hƣng Phật giáo.
Đƣờng Võ Đế phế Phật rồi, chƣa đầy một năm sau, Quy Chân bị
tru lục, Đức Dụ chết trên đƣờng bỏ trốn, Võ Tông uống kim đan
của đạo sĩ dâng, lƣng nổi nhọt loét mà chết. Tuyên Tông lại phục
hƣng Phật giáo.
Tống Huy Tông lúc đầu cũng thâm tín Phật pháp, sau nghe lời
yêu vọng của đạo sĩ Lâm Linh Tố, bắt đổi tƣợng Phật thành hình
tƣợng Đạo giáo, xƣng Phật là Đại Giác Kim Tiên, gọi Tăng là
“đức sĩ”, bắt Tăng mặc áo đạo sĩ, mỗi khi làm lễ Tăng phải ngồi
phía sau đạo sĩ. Hạ chiếu chƣa lâu, kinh thành bị lụt lớn khác gì
hồ, biển. Vua tôi hoảng sợ, sai Linh Tố trị thủy, càng phù phép
nƣớc càng dâng tràn. Chợt có bậc đại thánh Tăng Già xuất hiện
trong cung cấm, vua đốt hƣơng van nài, Tăng Già chống tích
trƣợng lên mặt thành, nƣớc liền rút sạch. Vua liền hạ chiếu phục
hồi quy chế Phật giáo nhƣ cũ. Chƣa đầy sáu bảy năm sau, cha
con cùng bị giặc Kim bắt đi. Ngƣời Kim phong Huy Tông làm Hôn
Đức Hầu, Khâm Tông làm Trọng Hôn Hầu, cha con cùng chết tại
thành Ngũ Quốc.
Phật là đại sƣ ba cõi, cha lành cả bốn loài, bậc thánh của các
thánh, là trời trong trời, dạy ngƣời bỏ vọng về chân, nghịch trần
hợp giác, dứt trừ hoặc nghiệp huyễn vọng, khôi phục tâm tánh                                                                             261
vốn sẵn có. Cảm ân, báo đức, hộ trì lƣu thông Phật
pháp còn chƣa đủ, huống hồ là cậy vào thế lực nhất thời, đoạn
diệt huệ nhãn của chúng sanh, cắt đứt con đƣờng bằng phẳng
của trời ngƣời, đào hố sâu địa ngục, ắt chuốc quả báo nhãn tiền,
luân hồi muôn kiếp, để tiếng xấu cho đời, thật đúng là tấm gƣơng
đành rành vậy!
* Cái rộng, dày, cao, sáng nhất trong thế gian không gì bằng trời,
đất, nhật, nguyệt; nhƣng mặt trời chính ngọ rồi phải xế bóng,
trăng tròn rồi phải khuyết, bờ cao sụp thành hang, hang sâu đùn
thành gò, biển xanh biến thành ruộng dâu, ruộng dâu biến thành
biển xanh.
Xƣa nay, bậc đạo cao đức trọng không ai bằng Khổng Tử, vẫn bị
tuyệt lƣơng ở đất Trần, bị hãm nơi đất Khuông, chu du các nƣớc,
chẳng gặp đƣợc vua hiền; chỉ có một đứa con, tuổi vừa năm
mƣơi đã chết mất, may còn một cháu để duy trì dòng dõi. Từ đấy
tính xuống, Nhan Uyên đoản mạng, Nhiễm Bá Ngƣu cũng đoản
mạng, Tử Hạ bị mù, Tả Khâu Minh cũng bị mù, Khuất Nguyên
trầm mình dƣới sông (Khuất Nguyên tận trung bị gian thần sàm
tấu. Về sau vì Sở Hoài Vƣơng bị vua Tần bắt giữ, ông khôn ngăn
phẫn uất, nhƣng chẳng làm gì đƣợc bèn tự trầm nơi sông Mịch
La vào ngày mồng Năm tháng Năm), Tử Lộ bị bằm nát nhƣ
tƣơng (Tử Lộ làm quan ở nƣớc Vệ. Vệ Khoái Công hồ đồ bị con
giành ngôi, Tử Lộ tử nạn, bị địch quân bằm nát nhừ).
Trời, đất, nhật, nguyệt còn chẳng thể thƣờng hằng bất biến; đại
thánh, đại hiền cũng chẳng thể chỉ gặp toàn thuận lợi chẳng có
nghịch cảnh; chỉ những ai biết vui theo mạng trời, dù gặp cảnh
ngộ nào cũng đều an vui cả; thế nhƣng mấy trăm ngàn năm sau,
từ thiên tử cho đến thứ dân không ai là chẳng kính ngƣỡng
những vị ấy. Nếu cứ dựa trên tình cảnh khi ấy mà luận, tựa hồ
họ chẳng có phƣớc báo gì; nhƣng nếu dựa trên đạo hạnh lƣu
truyền hậu thế để luận, ai có phƣớc hơn nổi những vị ấy chăng?                                                                            262
Ngƣời sanh trong cõi đời ngàn tính vạn toán làm đủ
mọi chuyện xét đến cùng cực chẳng qua chỉ để thân mình no ấm,
con cháu quý hiển mà thôi! Thế nhƣng, vải thô cũng che đƣợc
thân, cần gì phải lƣợt, là, the, vóc; miệng dùng rau dƣa cho qua
bữa, cần gì phải cá, thịt, hải sản? Con cháu thì hoặc đọc sách,
hoặc cấy cày, hoặc buôn bán để tự nuôi thân, cần gì phải giàu
đến trăm vạn?
Vả những kẻ mƣu tính sao cho con cháu đƣợc giàu sang đến
vạn đời, chắc không ai hơn đƣợc Tần Thủy Hoàng! Vua Tần thôn
tính sáu nƣớc, đốt sách, chôn Nho sĩ, thâu binh khí trong thiên
hạ đúc thành chuông lớn, không điều nào chẳng nhằm mục đích
khiến dân ngu yếu chẳng thể làm loạn đƣợc. Nào ngờ Trần
Thiệp vừa đứng lên, quần hùng đua nhau nổi dậy. Họ Tần nhất
thống sơn hà chƣa quá mƣời hai, mƣời ba năm, thân đã  diệt,
nƣớc đã mất, con cháu bị tru lục hết sạch; khác nào cắt cỏ nhổ
tận rễ, không còn chút gì nữa! Muốn cho con cháu đƣợc an lạc,
hóa ra lại khiến chúng mau bị chết sạch hết cả.
Tào Tháo làm Thừa Tƣớng thời Hán Hiến Đế, chuyên quyền, bất
cứ điều gì hắn làm không ngoài mục đích giảm thế lực của vua,
tăng oai quyền cho mình, mong sau khi mình chết đi, con mình
sẽ xƣng đế. Vừa chết đi, Tào Phi liền soán ngôi, thây cha chƣa
liệm, Phi đã chuyển hết các phi tần của cha sang cung mình. Tào
Tháo chết đi, đọa mãi trong ác đạo hơn một ngàn bốn trăm năm.
Đến đời vua Càn Long nhà Thanh, ở Tô Châu có kẻ mổ heo,
thấy trên gan phổi heo có hai chữ Tào Tháo. Có kẻ láng giềng
trông thấy, sanh lòng hoảng sợ lớn, liền xuất gia, pháp danh là
Phật An, nhất tâm niệm Phật liền đƣợc vãng sanh Tây Phƣơng.
Việc này có ghi trong Tịnh Độ Thánh Hiền Lục. Tào Tháo phí
sạch tâm cơ mƣu tính cho con cháu. Tuy con hắn đƣợc làm
hoàng đế, nhƣng chỉ ở ngôi đƣợc bốn mƣơi lăm năm liền bị diệt
quốc. Hằng ngày lại còn phải đánh nhau với Đông Ngô và Tây
Thục, có bao giờ đƣợc hƣởng một ngày an vui đâu?                                                                            263
Tiếp đó, hai nhà Tấn (Tây Tấn và Đông Tấn), Tống,
Tề, Lƣơng, Trần, Tùy và các nhà Lƣơng, Đƣờng, Tấn, Hán,
Châu thời Ngũ Đại đều chẳng trƣờng cửu, tựu trung nhà Đông
Tấn tồn tại lâu dài nhất, nhƣng chỉ đƣợc một trăm lẻ ba năm. Các
triều khác thì hoặc là hai, ba năm, hoặc tám chín năm, mƣời
năm, hai mƣơi năm, bốn mƣơi năm, năm mƣơi năm rồi liền diệt
vong. Đây mới chỉ kể những triều đại chánh thống, còn nhƣ
những kẻ chiếm càn lãnh thổ, ngụy xƣng vƣơng triều, số ấy
nhiều lắm, tồn tại còn ngắn ngủi hơn nữa.
Xét cái tâm thuở đầu của họ, không ai là chẳng muốn cho con
cháu đƣợc an lạc, phú quý, tôn vinh; xét đến kết quả thực sự: lại
khiến cho con cháu càng mau gặp phải kiếp nạn, bị tru lục, diệt
môn tuyệt tộc. Dù quý nhƣ thiên tử giàu có nhƣ bốn biển, vẫn
chẳng thể giữ cho con cháu đời đời hƣởng phƣớc, huống chi kẻ
phàm phu trơ trụi? Từ vô lƣợng kiếp đến nay, những ác nghiệp
đã tạo còn dày hơn đại địa, sâu hơn biển cả, có đảm bảo gia đạo
thƣờng hƣng thạnh, chỉ có phƣớc không tai ƣơng chăng?
Phải biết rằng: muôn pháp trong thế gian thảy đều hƣ giả, trọn
chẳng chân thật, nhƣ mộng, nhƣ huyễn, nhƣ bọt nƣớc, nhƣ bóng
dáng, nhƣ sƣơng móc, nhƣ ánh chớp, nhƣ bóng trăng in trong
nƣớc, nhƣ hoa đốm trên không, nhƣ ánh nƣớc dợn lúc trời nóng,
nhƣ thành Càn Thát Bà (Càn Thát Bà là tiếng Phạn, Hán dịch là
Tầm Hƣơng, là nhạc thần của Thiên Đế. Thành trì của họ huyễn
hiện chẳng thật, nhƣ ta thƣờng nói “thẩn lâu hải thị” (15) vậy!).
Chỉ có mỗi một niệm tâm tánh của chính mình hằng cổ hằng kim
(xƣa nay luôn thƣờng hằng), chẳng biến, chẳng hoại, tuy chẳng
biến hoại nhƣng thƣờng tùy duyên. Do ngộ tịnh duyên liền thành
Thanh Văn, thành Duyên Giác, thành Bồ Tát, thành Phật. Do
công đức sâu hay cạn mà quả vị cao hay thấp. Do mê nhiễm
duyên thì sanh lên trời, sanh trong nhân gian, đọa vào Tu La, đọa
súc sanh, đọa ngạ quỷ, đọa địa ngục. Do tội phƣớc nặng hay nhẹ
mà có khổ hay vui, [thời gian thọ quả] có dài hay ngắn. Nếu là kẻ
chẳng biết Phật pháp, chẳng biết làm cách nào đƣợc!                                                                            264
Ông đã sùng tín Phật pháp, sao chẳng do nghịch
cảnh ấy nhìn thấu tƣớng trạng thế gian, bỏ mê nhiễm duyên,
theo ngộ tịnh duyên, nhất tâm niệm Phật cầu sanh Tây Phƣơng.
Nhờ đó, vĩnh viễn thoát khỏi luân hồi lục đạo, cao đăng quả vị Tứ
Thánh, há chẳng phải là nhờ cái họa nhỏ này mà thƣờng hƣởng
phƣớc lớn ƣ?
* Phật ân thật là rộng lớn, trọn khắp, chẳng có cùng tận. Vì sao
nói thế? Do hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều có thể
thành Phật, nhƣng vì mê chẳng ngộ, đến nỗi lại đem sức công
đức Phật tánh ấy dùng lầm vào sáu trần cảnh, khởi tham - sân -
si, tạo giết - trộm - dâm, do Hoặc tạo nghiệp, do nghiệp thọ báo,
trải kiếp dài lâu luân hồi lục đạo, trọn chẳng có ngày ra. Trong
những kiếp xƣa, Phật đã biết rõ điều này, bèn phát đại nguyện
muốn cho hết thảy chúng sanh trong khắp các pháp giới tận cõi
hƣ không cùng ngộ đƣợc Phật tánh sẵn có, cùng thoát luân hồi
sanh tử, cùng thành đạo Vô Thƣợng Chánh Giác, cùng nhập Vô
Dƣ Niết Bàn.
Từ đấy, vì chúng sanh trong khắp pháp giới Ngài trải kiếp dài lâu
hành đạo Bồ Tát, không việc gì có lợi ích mà Phật chẳng đề cao,
tu trọn lục độ, chẳng chấp trƣớc một pháp nào, hành hạnh khó
làm, nhẫn đƣợc chuyện khó nhẫn. Phật bố thí quốc thành, vợ,
con, đầu, mắt, tủy, não... không tiếc nuối gì. Vì thế, kinh Pháp
Hoa nói: “Ta thấy đức Thích Ca Nhƣ Lai trong vô lƣợng kiếp,
hành hạnh khó, hạnh khổ, tích công chứa đức cầu Bồ Tát đạo
chƣa từng dừng nghỉ. Xem khắp tam thiên đại thiên thế giới,
thậm chí chẳng có chỗ nào nhỏ bằng hạt cải mà chẳng phải là
chỗ Bồ Tát xả thân mạng vì chúng sanh cả! Sau đấy mới đƣợc
thành Bồ Đề đạo”.
Chỉ một hạnh bố thí dù thọ cả kiếp còn chẳng thể nói hết, huống
hồ là các hạnh khác nhƣ Trì Giới, Nhẫn Nhục, Tinh Tấn, Thiền
Định, Trí Huệ và Tứ Nhiếp, vạn hạnh ƣ? Mãi cho đến khi Hoặc                                                                             265
nghiệp hết sạch, phƣớc huệ viên mãn, triệt chứng tự
tâm, thành đạo Vô Thƣợng, Phật bèn vì khắp các chúng sanh
giảng pháp mình đã chứng, chỉ vì để ai nấy đều chứng đƣợc
pháp Ngài đã chứng. Thế nhƣng thƣợng căn ít ỏi, trung căn, hạ
căn lại nhiều; cho nên Phật lại tùy cơ lập giáo, khiến ai nấy tùy
phận đƣợc lợi.
Đến khi việc một đời đã xong, Phật bèn nhập Niết Bàn, nhƣng
vẫn chẳng bỏ tấm lòng đại bi, lại thị hiện thành Chánh Giác trong
thế giới khác để tiếp tục tế độ. Phật thị hiện sanh trong cõi này
hay cõi khác nhƣ thế, chẳng thể  dùng toán số, thí dụ để tính
đƣợc nổi. Ví nhƣ vầng mặt trời chói lọi vì chiếu thế gian nên mọc
lặn chẳng ngừng, cũng nhƣ ngƣời đƣa thuyền vì đƣa ngƣời qua
sông nên qua lại chẳng ngừng!
* Phật nghĩ thƣơng xót chúng sanh từ vô thỉ trƣớc đến tận vị lai
sau, trên đến bậc Đẳng Giác Bồ Tát, dƣới đến lục đạo phàm phu,
không một ai chẳng thuộc trong vòng đại bi thệ nguyện của Ngài.
Ví nhƣ hƣ không bao trùm hết thảy, từ sâm la vạn tƣợng cho đến
trời đất đều bị hƣ không bao trùm cả. Cũng lại nhƣ ánh sáng mặt
trời chiếu khắp muôn phƣơng, dù kẻ sanh manh trọn đời chẳng
thấy đƣợc ánh sáng vẫn đƣợc ánh mặt trời soi tới, đƣợc sống
đúng nghĩa con ngƣời. Nếu nhƣ không có ánh mặt trời chiếu
thấu, sẽ chẳng có duyên sanh sống đƣợc; [nhƣ vậy thì] nào có
phải là cứ phải đích thân thấy đƣợc ánh sáng thì mới đƣợc thọ
ân ƣ?
Kẻ thế trí biện thông đem cái hiểu biết câu nệ, rỗng tuếch của
mình để chê bai, phản bác Phật pháp, bảo là: “Phật pháp làm hại
thánh đạo, dối đời lừa ngƣời”, trọn chẳng khác gì kẻ sanh manh
chửi mặt trời, bảo mặt trời chẳng có quang minh! Hết thảy ngoại
đạo đều lấy trộm nghĩa lý trong kinh Phật rồi làm nhƣ chính đạo
mình có giáo nghĩa ấy; có kẻ còn trộm danh Phật pháp để hành
tà pháp. Do đó ta biết rằng Phật pháp chính đạo gốc của mọi                                                                             266
pháp thế gian, xuất thế gian. Ví nhƣ biển cả chảy
ngầm dƣới mặt đất, những chỗ đầy ắp nƣớc, chảy thành dòng
thì là vạn con sông, nhƣng không con sông nào lại chẳng đổ vào
biển cả.
Những kẻ báng Phật kia phải đâu là báng Phật, mà là báng chính
mình đó. Bởi vì một niệm tâm tánh của họ toàn thể là Phật. Từ
đầu Phật đã dùng bao cách thuyết pháp, giáo hóa nhƣ thế những
mong họ bỏ mê về chân, tự chứng Phật tánh chính mình sẵn có
mới thôi. Do Phật tánh đáng tôn trọng nhất, đáng yêu tiếc nhất,
nên Phật chẳng hề tiếc công nhƣ vậy, dù họ chẳng tin nhận,
Phật cũng chẳng nỡ buông bỏ. Nếu nhƣ chúng sanh chẳng sẵn
có Phật tánh, chẳng kham làm Phật, nhƣng Phật cứ uổng công
bày cách nhƣ thế thì Phật chính là kẻ si dại bậc nhất trong thế
gian, mà cũng là kẻ đại vọng ngữ bậc nhất trong thế gian, lẽ nào
tám bộ trời rồng, tam thừa thánh hiền lại cùng chịu hộ vệ, y chỉ
Phật ƣ?
* Phật xem hết thảy chúng sanh giống nhƣ con một, yêu thƣơng
không thiên vị ai, luôn muốn cho chúng sanh đƣợc độ thoát, vì
hết thảy chúng sanh đều có Phật tánh, đều kham làm Phật. Bởi
thế, dù là hạng Nhất Xiển Đề tuyệt chẳng có tín tâm, Phật không
hề có một niệm buông bỏ. Nếu đúng cơ duyên, họ sẽ tự sanh
lòng tin, quy y, y giáo tu trì ngõ hầu đoạn Hoặc chứng Chân, liễu
sanh thoát tử.
Kinh Lăng Nghiêm nói: “Mƣời phƣơng Nhƣ Lai thƣơng xót chúng
sanh nhƣ mẹ nhớ con. Nếu con bỏ trốn, mẹ dù nhớ cũng chẳng
làm gì đƣợc! Nếu con nhớ mẹ nhƣ mẹ nhớ con, từ đời này sang
đời khác mẹ con chẳng hề xa nhau. Nếu tâm chúng sanh nhớ
Phật, niệm Phật thì trong hiện tại hoặc trong tƣơng lai nhất định
thấy Phật, cách Phật chẳng xa nhƣ ngƣời nhiễm hƣơng, thân có
mùi thơm”.                                                                            267
Kinh Pháp Hoa dạy: “Nếu có vô lƣợng trăm ngàn vạn
ức chúng sanh chịu các khổ não, nghe đến Bồ Tát Quán Thế Âm
này, nhất tâm xƣng danh thì Quán Thế Âm Bồ Tát liền lập tức
xem xét âm thanh ấy, khiến họ đều đƣợc giải thoát”.
Kinh còn chép: “Vị Quán Thế Âm Bồ Tát này hay ban cho sự
không sợ hãi cho những chỗ hoảng sợ, nạn gấp nên thế giới Sa
Bà này đặt tên cho Ngài là Thí Vô Úy”.
Ấy là vì xét về thể thì tâm của chúng sanh và tâm của Phật, Bồ
Tát chẳng khác gì nhau, chỉ vì chúng sanh mê muội, trái giác
theo trần, đến nỗi đây kia ngăn cách, chẳng đƣợc chở che. Nếu
nhƣ trái trần xuôi giác, một dạ xƣng danh, sẽ tự nhiên cảm ứng
đạo giao, Phật, Bồ Tát rủ lòng từ gia bị, dù gặp hiểm nạn cũng
thành yên vui!
* Điều trọng yếu trong việc học đạo là đối trị tập khí. Thƣờng có
kẻ học vấn càng sâu, tập khí càng thạnh. Ấy là vì coi học đạo
giống nhƣ học nghề, cho nên càng học nhiều, càng nghịch đạo.
Đó chính là cội nguồn khiến cho cả Nho lẫn Thích trong nƣớc ta
cùng suy cả!
8.  Luận về đạo thầy trò
* Những mối quan hệ lớn (ngũ luân) trong đời ngƣời tính ra chỉ
có năm, tức là vua - tôi, cha - con, anh - em, vợ - chồng, bạn bè.
Cha sanh, thầy dạy, vua nuôi, ba mối quan hệ này tƣơng đƣơng
nhau, sao trong Ngũ Luân chẳng kể đến thầy; chẳng biết rằng
thầy có đức tánh giáo huấn ta thành ngƣời nên thầy cũng nhƣ
cha. Kế đến, có công khuyên dụ, khen thƣởng, khuyến khích để
ta đƣợc thành tài nên thầy cũng nhƣ anh. Vì thế, Mạnh Tử nói:                                                                             268
“Thầy là cha anh”. Tiếp đó, thầy khiến ta mở mang,
đôi bên cùng đƣợc lợi ích nhƣ hai vầng trăng chiếu lẫn nhau, hai
tay vịn vào nhau nên thầy cũng nhƣ bạn (Trong chữ Bằng Hữu,
Bằng gồm hai chữ Nguyệt ghép lại; chữ Hữu giống nhƣ hai tay
vịn vào nhau). Bởi thế nhà Phật hay nói: “Tầm sƣ phỏng hữu”
(tìm thầy kiếm bạn).  
9.  Luận về Giới Luật
* Pháp môn dù nhiều, nhƣng tất cả gồm trọn chẳng sót trong ba
môn Giới - Định - Huệ. Vì thế kinh Lăng Nghiêm nói: “Nhiếp tâm
là Giới, do Giới sanh Định, do Định phát Huệ. Do vậy gọi là Tam
Vô Lậu Học”. Nhƣng trong ba môn này, chỉ có Giới là trọng yếu
nhất. Bởi lẽ, trì giới chính là chẳng làm các điều ác, vâng làm các
điều thiện. Hạnh ấy gần với Phật, tâm ấy chẳng đến nỗi trái
nghịch với Phật.
Vì thế, trong kinh Phạm Võng, đức Nhƣ Lai vì chúng sanh nói lời
bảo chứng rằng: “Ta là Phật đã thành, các ông là Phật chƣa
thành. Nếu tin đƣợc nhƣ vậy thì giới phẩm đã đầy đủ”. Ngài còn
nói: “Chúng sanh nhận lãnh giới của Phật là nhập vào địa vị
Phật; địa vị đã giống nhƣ Đại Giác rồi, thật sự là các con của
Phật”. Vì vậy, một pháp Trì Giới chính là đạo trọng yếu đệ nhất
để siêu phàm nhập thánh, liễu sanh thoát tử vậy.
* Chữ Luật chẳng chỉ riêng những hành vi thô phù mà thôi; nếu
chẳng chú trọng lòng kính, giữ gìn lòng thành thì  vẫn là phạm
luật. Nhân quả là cốt tủy của Luật. Ai chẳng biết nhân quả và
khinh mạn nhân quả đều là phạm luật. Ngƣời niệm Phật khởi tâm
động niệm thƣờng phù hợp với Phật thì Luật, Giáo, Thiền, Tịnh
đều cùng thực hành cả.                                                                            269
10.  Luận về kinh điển
* Nếu ai thiên tƣ thông minh, mẫn tiệp thì nghiên cứu tánh tƣớng
các tông chẳng trở ngại gì, nhƣng phải lấy pháp môn Tịnh Độ
làm chỗ nƣơng tựa, quay về, mới khỏi đến nỗi có nhân không
quả, khỏi lâm vào cảnh biến diệu pháp liễu sanh thoát tử thành
lời lẽ bàn suông cửa miệng, không cách gì đƣợc lợi ích thật sự!
Phải nên chú trọng lòng kính, gìn giữ lòng thành, xem kinh tƣợng
nhƣ đức Phật sống, chẳng dám khinh nhờn chút nào, mới hòng
do lòng thành của chính mình lớn nhỏ thế nào mà sẽ đạt đƣợc
các lợi ích sâu hay cạn.
Những ngƣời căn cơ chậm lụt, chỉ nên chuyên nghiên cứu pháp
môn Tịnh Độ, nếu thật sự tin đến nơi, giữ thật vững, sẽ quyết
định liễu sanh thoát tử ngay trong đời này, siêu phàm nhập
thánh, so với những kẻ thông hiểu kinh luận sâu xa nhƣng chẳng
thực hành pháp môn Tịnh Độ kia, sự lợi hại khác xa hệt nhƣ trời
với đất vậy!
Đối với những kẻ vừa nói trên, chẳng cần biết tƣ cách nhƣ thế
nào, trƣớc hết cứ cho dùng liều thuốc một vị này thì bất luận là tà
chấp, kiến giải lầm lạc, ngã mạn, phóng túng đến đâu, đề cao
thánh cảnh nhƣng tự mình đành ở địa vị kém cỏi... đều do thuốc
A Già Đà một vị trị chung vạn bệnh này, không một ai là chẳng
dứt khoát lành bệnh cả!  
* Phật pháp uyên thâm, kẻ đại thông minh dù tận hết tâm lực
bình sanh vẫn còn có chỗ chƣa thể nghiên cứu tƣờng tận đƣợc.
Nhƣng Phật pháp tùy cơ lập giáo; nếu muốn hƣởng lợi ích thật
sự thì hãy nghiên cứu, tu trì pháp môn đặc biệt, siêu việt, lạ lùng                                                                             270
là Tịnh Độ; đây thật sự là con đƣờng trọng yếu tốn ít
tâm lực vậy.
* Việc giảo đính kinh điển chẳng phải là chuyện dễ dàng, chỉ sợ
thầy chẳng rảnh rỗi đến thế. Nếu ủy nhiệm ngƣời khác làm, kẻ
đó phải là ngƣời kiến thức lỗi lạc, thập phần tỉ mỉ, xét suy kỹ càng
đôi ba lƣợt, tra cứu kỹ lƣỡng mới có thể đính chánh những chỗ
chép lầm, trừ sạch những điểm dở tệ khiến thiên chân đƣợc tỏ
bày triệt để. Nếu không, sao chẳng cứ theo đúng dạng vẽ hồ lô
(16) may ra chẳng đánh mất sự chân xác sẵn có!
* Một bộ kinh Hoa Nghiêm là vua của Tam Tạng, phẩm cuối cùng
quy kết, đặt nặng nguyện vƣơng. Nên tôn trọng  kinh Hoa
Nghiêm, nhƣng chớ xem thƣờng các kinh khác vì các kinh Đại
Thừa đều lấy Thật Tƣớng làm bản thể.
Hoa Nghiêm vĩ đại vì là đại pháp xứng tánh cực đàm vƣợt ngoài
các giới, chẳng thâu nhiếp các pháp Nhị Thừa. Điểm huyền diệu
của kinh Pháp Hoa là “hội tam quy nhất” (gộp ba thừa về một
thừa), “khai Quyền hiển Thật, khai Tích hiển Bổn”. Tông Thiên
Thai cho rằng: “Pháp Hoa thuần viên độc diệu (17), Hoa Nghiêm
vẫn còn nói kèm Quyền pháp” (chữ Quyền pháp chỉ các địa vị
Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập Hồi Hƣớng, Thập Địa, Đẳng Giác).
Nhƣng trong hội Pháp Hoa, Phật khen ngợi Pháp Hoa là vua của
các kinh, trong hội Hoa Nghiêm Phật cũng khen nhƣ thế. Lẽ nào
kẻ hoằng kinh đời sau cứ nhất định phải căn cứ vào năm bộ lớn
(18) để phân định kinh này cao, kinh kia thấp, chẳng chấp nhận
kinh nào cũng có những điểm riêng đáng khen ngợi hay sao? Kẻ
tu Thiền ca tụng Thiền, ngƣời tu Tịnh Độ tán dƣơng Tịnh Độ; nếu
không sẽ chẳng thể khiến ngƣời khác sanh chánh tín, khiến
ngƣời khác kính ngƣỡng.                                                                            271
Chỉ nên khéo hiểu ý nghĩa mỗi kinh, đừng vƣớng vào
từ ngữ mà lạc mất ý nghĩa. Mạnh Tử xƣng tụng Khổng Tử là bậc
thánh chƣa từng có trong loài ngƣời. Khổng Tử thấy vua Nghiêu
trong canh, thấy vua Thuấn nơi tƣờng, thấy Châu Công trong
mộng. Lòng mong mỏi, hâm mộ ba vị thánh của Ngài sao mà chí
thành đến mức cùng cực nhƣ thế ấy!

* Tổ Thiện Đạo dạy ngƣời nhất tâm trì danh, đừng tu tạp nghiệp
là vì sợ kẻ trung căn, hạ căn do tạp nghiệp tâm sẽ khó quy nhất,
cho nên Ngài dạy chuyên tu. Tổ Vĩnh Minh dạy ngƣời “muôn điều
thiện cùng tu” và “hồi hƣớng Tịnh Độ” là vì sợ hành nhân thƣợng
căn thiên chấp, đến nỗi phƣớc huệ chẳng thể xứng tánh viên
mãn, cho nên ngài dạy “viên tu” (tu trọn khắp).
* Kinh rách nát chẳng thể tu bổ đƣợc nữa nếu đốt đi cũng không
có lỗi gì. Nhƣng nếu thấy còn có thể tu bổ đƣợc thì đừng nên đốt
đi. Nếu chẳng biết lẽ biến thông, cứ một mực chẳng dám thiêu,
thì kinh ấy rốt cuộc chẳng thể xem đƣợc, cũng chẳng thể cất giữ
nhƣ kinh còn tốt, lại trở thành khinh nhờn. Cái lỗi khinh nhờn ấy
gây hại cho ngƣời lắm, há chẳng nên biết đến lẽ quyền biến hay
sao?
* Trong các thứ thuốc đối chứng trị bệnh cho ngƣời hiện tại, nhân
quả là vị thuốc bậc nhất, pháp Tịnh Độ là pháp nên tu bậc nhất.
Bất luận căn tánh nào, chẳng thể không trƣớc tiên tìm tòi học hỏi
pháp nhân quả, pháp Tịnh Độ.
Còn về giáo tƣớng, phải chọn lựa ngƣời mà giảng giải, bởi
những ngƣời học ai nấy đều có những điều phải học riêng, Phật
học chỉ là học kèm theo mà thôi. Nếu là kẻ căn cơ nông cạn, ắt                                                                             272
sẽ chuyên chú vào Giáo tƣớng, quăng Tịnh Độ ra
sau ót, đến nỗi rốt cuộc thành hữu nhân vô quả, cho nên chớ
giảng dạy chẳng xứng với căn cơ.
Nay trong số những ngƣời tôn sùng Tƣớng tông cũng có tệ nạn
ấy. Ngƣời đề xƣớng [học Tƣớng tông] chẳng thật sự vì liễu sanh
thoát tử, mà chỉ nhằm thông hiểu pháp tƣớng để có thể giảng nói
mà thôi. Nếu nhƣ những kẻ đó hiểu “dùng tự lực để liễu sanh tử‟
là chuyện khó, ắt sẽ chẳng chuyên chú vào việc đó (tức là chỉ lo
học cho hiểu Tƣớng tông) rồi bỏ qua pháp Tịnh Độ không thèm
hỏi tới, hoặc còn chê bai là pháp nông cạn nữa. Những kẻ ấy
đều thuộc loại ham cao chuộng trội, nhƣng chẳng biết thế nào là
cao trội cả. Nếu thật sự biết, dù có bị giết cũng chẳng chịu bỏ
qua pháp môn Tịnh Độ, cứ cực lực tu hành. Học đạo thật là khó
lắm vậy!
* Chúng sanh căn khí bất nhất; Nhƣ Lai từ bi vô lƣợng. Nếu ai
thật sự chân thật, chí thành, cung kính niệm Phật thì đến lúc lâm
chung, tự sẽ có những chuyện chẳng mong mỏi mà tự nhiên đạt
đƣợc. Những lời lẽ của ngài Tử Bách, ngài Hám Sơn rất là thân
thiết, nhƣng hai vị đều là bậc tri thức trong Tông môn, nếu [đem
những lời đó] nói với những ngƣời thật sự có lòng tin chân thành,
nguyện thiết tha thì sẽ có ích. Nhƣng nếu nói với ngƣời chỉ có
chút thiện căn, chƣa thể chuyên tu thì họ sẽ nghĩ chuyện sanh
Tây vƣợt quá khả năng của họ; từ đó họ sẽ đánh trống  lùi.
Thuyết pháp chẳng phù hợp căn cơ sẽ thành lời nói suông, đúng
là nhƣ vậy đó.
* Pháp môn Niệm Phật lấy ba pháp Tín  - Nguyện  - Hạnh làm
tông, lấy Bồ Đề tâm làm căn bản, lấy “tâm này làm Phật, tâm này
là Phật” làm thật nghĩa “nhân thấu biển quả, quả tột nguồn nhân”,
lấy “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” làm công phu tối thiết                                                                             273
yếu để hạ thủ. Lấy đó mà hành, và nếu tứ hoằng thệ
nguyện lại chẳng lìa tâm, thì tâm sẽ hợp với Phật, tâm hợp với
đạo, ngay trong đời này dự vào dòng thánh, lâm chung lên ngay
thƣợng phẩm, chẳng uổng cái đời này vậy!
11. Luận về Trung Ấm:  
* Trung Ấm tức là thần thức, chẳng phải là thần thức biến thành
Trung Ấm, thế tục gọi là “linh hồn”. Những thuyết “Trung Ấm cứ
bảy ngày lại một lần sống chết, bốn mƣơi chín ngày ắt sẽ đầu
thai”... chẳng nên chấp nê. Trung Ấm có sống chết là do vô minh
trong tâm biến hiện tƣớng sanh diệt, đừng ngây ngô tƣởng Trung
Ấm [thật sự] có sống chết nhƣ ngƣời trong thế gian. Trung Ấm
thọ sanh, nhanh thì nhƣ trong khoảng khảy ngón tay liền vào tam
đồ, lục đạo; chậm thì đến bốn mƣơi chín ngày hoặc lâu hơn bốn
mƣơi chín ngày v.v...
Ngƣời mới chết mà có thể khiến ngƣời quen biết trông thấy vào
ban ngày hay ban đêm, tiếp xúc với hoặc trò chuyện với ngƣời
đó thì chẳng riêng gì Trung Ấm mới làm đƣợc nhƣ vậy, ngay cả
những ngƣời đã thọ sanh trong đƣờng thiện hay ác vẫn có thể vì
ngƣời quen thuộc, thân thích khi trƣớc mà hiện hình một phen.
Đây tuy là do ý niệm của ngƣời đó biến hiện, nhƣng chủ yếu là
do những thần thánh trong thế gian hỗ trợ nhằm  bóng gió chỉ
bày: con ngƣời chết đi, thần minh (thần thức) chẳng diệt và quả
báo thiện ác chẳng phải là hƣ huyễn vậy!
Nếu không, ngƣời dƣơng gian chẳng biết đến việc cõi âm, mù
quáng cho rằng ngƣời chết đi thân xác đã mục nát thì thần thức
cũng phải phiêu tán, rồi bao ngƣời phụ họa theo khiến cho ngƣời
trong khắp thế gian cùng bị hãm trong hầm sâu tà kiến “chẳng có
nhân quả, chẳng có đời sau, hậu thế”, sẽ thấy ngƣời lành cũng                                                                             274
chẳng tự nỗ lực tu đức, kẻ ác càng muốn cùng hung
cực ác tạo nghiệp. Dù có lời Phật dạy mà vẫn không có cách nào
để chứng minh thì ai chịu tin nhận đây?
Những chuyện hiện hình hiện bóng ấy đủ chứng tỏ lời Phật
chẳng dối, quả báo phân minh, chẳng những ngƣời lành càng
hƣớng tới điều lành, ngay cả kẻ ác cũng bị những tình lý ấy
khuất phục, chẳng đến nỗi mƣời phần quyết liệt. Thiên địa, quỷ
thần muốn cho con ngƣời hiểu rõ việc ấy nên mới có những
chuyện ngƣời đã chết hiện thân trong cõi đời, ngƣời dƣơng gian
xử án cõi âm v.v... Đấy đều là vì muốn hỗ trợ Phật pháp, giúp
sức phô diễn trị  đạo. Lý này rất vi tế, nhƣng quan hệ rất lớn.
Những chuyện nhƣ vậy xƣa nay chép trong sách vở rất nhiều,
nhƣng chƣa hề nói rõ nguồn gốc của sự biến hiện đó cũng nhƣ
những lợi ích liên quan.
* Trung Ấm tuy lìa thân xác, nhƣng vẫn có tình kiến về thân xác
giống nhƣ khi chƣa chết. Đã có tình kiến về thân xác, đƣơng
nhiên [nảy sanh ý niệm] phải có cơm áo để sử dụng. Do phàm
phu nghiệp chƣớng quá nặng, chẳng biết Ngũ Uẩn vốn là không,
nên [ngƣời trong trạng thái Trung Ấm] chẳng khác gì với ngƣời
sống. Nếu là bậc đủ đại trí huệ sẽ nhằm ngay lúc trút bỏ xác thân
không còn phải nƣơng tựa nữa, liền biết Ngũ Uẩn là không nên
các khổ tiêu diệt, nhất chân hiển hiện, vạn đức phô bày trọn vẹn.
Tuy cảnh giới [ngƣời sống và kẻ chết] bất tất phải nhất định
giống hệt nhau, nhƣng nào trở ngại gì đến việc tùy tình kiến mỗi
ngƣời mà có các thứ cần dùng. Ví nhƣ khi đốt quần áo giấy,
ngƣời còn sống chỉ giữ ý tƣởng gởi áo cho ngƣời chết, còn quần
áo lớn, nhỏ, ngắn, dài làm sao vừa vặn thích hợp cho đƣợc.
Nhƣng do tình kiến của ngƣời sống lẫn tình kiến của ngƣời chết,
quần áo sẽ vừa vặn cả. Điều này giúp ta thấy đƣợc nghĩa lý lớn
lao “hết thảy các pháp tùy tâm chuyển biến”...                                                                            275
12. Luận về bốn cõi Tịnh Độ:  
      * Hai cõi Phàm Thánh Đồng Cƣ và Phƣơng Tiện Hữu Dƣ là
ƣớc  theo phàm phu đới nghiệp vãng sanh và tiểu thánh Nhị
Thừa đã đoạn Kiến Tƣ Hoặc mà lập, chứ chẳng thể ƣớc theo
Phật mà luận. Nếu ƣớc theo Phật mà nói thì chẳng những toàn
thể bốn cõi Tịnh Độ đều là Tịch Quang, mà ngay cả đời ác ngũ
trƣợc, tam đồ ác đạo, không sự gì Phật chẳng thấy là Tịch
Quang. Vì thế nói: “Tỳ Lô Giá Na ở khắp mọi nơi. Chỗ đức Phật
ở gọi là Thƣờng Tịch Quang”.
“Khắp mọi nơi là Thƣờng Tịch Quang” thì chỉ bậc đã chứng ngộ
viên mãn Pháp Thân Tỳ Lô Giá Na quang minh chiếu khắp mới
thọ dụng đƣợc thôi, còn mọi ngƣời khác đều mới chỉ chứng
đƣợc vài phần. Từ Thập Tín trở xuống cho đến phàm phu, về Lý
thì có Thƣờng Tịch Quang Tịnh Độ, nhƣng về Sự thì chẳng có.
Nếu muốn hiểu rõ hãy nghiên cứu phần luận về bốn cõi Tịnh Độ
trong sách Di Đà Yếu Giải; sách Phạm Võng Huyền Nghĩa cũng
giảng đầy nghĩa này (Tỳ Lô Giá Na, Hán dịch là Quang Minh Biến
Chiếu, hoặc Biến Nhất Thiết Xứ, chính là cực quả rốt ráo của
chƣ Phật, là hiệu chung của những vị đã chứng viên mãn pháp
thân thanh tịnh. Viên Mãn Báo Thân Lô Xá  Na cũng thế. Nhƣ
Thích Ca, Di Đà, Dƣợc Sƣ, A Súc Bệ v.v... chỉ là những danh
hiệu riêng của các hóa thân Phật mà thôi. Chữ Lô Xá Na, Hán
dịch là Tịnh Mãn, do hết sạch Hoặc nghiệp, viên mãn trọn vẹn
phƣớc huệ nên ƣớc theo quả báo do Trí Đức và Đoạn Đức cảm
thành mà gọi nhƣ vậy).
      Lại phải biết rằng Thật Báo, Tịch Quang vốn là một cõi. Ƣớc
theo quả cảm bởi xứng tánh thì gọi là Thật Báo, ƣớc theo lý
đƣợc chứng rốt ráo thì gọi là Tịch Quang. Sơ Trụ mới dự vào
Thật Báo, chứng đƣợc một phần Tịch Quang. Diệu Giác mới là                                                                             276
thƣợng thƣợng Thật Báo, rốt ráo Tịch Quang. Nhƣ
vậy từ Sơ Trụ cho đến Đẳng Giác đều chỉ chứng đƣợc vài phần
hai cõi này, đối với cực quả Diệu Giác thì hai cõi ấy đều là rốt
ráo.
Nói đến Thật Báo là chỉ ƣớc về phần chứng, nói đến Tịch Quang
là chỉ ƣớc về cứu cánh. Tịch Quang vô tƣớng, Thật Báo có đủ cả
vi trần số chẳng thể nghĩ bàn Hoa Tạng thế giới hải vi diệu trang
nghiêm. Ví nhƣ hƣ không vốn chẳng phải là các tƣớng, nhƣng
hết thảy các tƣớng đều do hƣ không mà phát hiện. Lại nhƣ
gƣơng báu rỗng sáng, trong suốt, trọn chẳng có một vật gì,
nhƣng hễ Hồ đến Hồ liền hiện bóng, Hán đến Hán liền hiện
bóng. Thật Báo và Tịch Quang tuy một mà hai, tuy hai mà một. Vì
muốn cho ngƣời dễ hiểu nên nói là hai cõi.
* Trong bốn cõi Tịnh Độ: ngƣời đới nghiệp vãng sanh sống trong
Đồng Cƣ, ngƣời đoạn Kiến Hoặc sống trong Phƣơng Tiện, ngƣời
phá vô minh sống trong Thật Báo, ngƣời hết sạch Vô Minh trụ
trong cõi Tịch Quang.
Thêm nữa, Thật Báo là ƣớc theo quả báo cảm thành mà nói,
Tịch Quang là ƣớc theo lý tánh đƣợc chứng mà nói; chúng vốn
thuộc một cõi, nhƣng giảng nhƣ vậy cho ngƣời ta dễ hiểu. Vì thế,
ngƣời phần chứng thuộc vào Thật Báo, ngƣời mãn chứng thuộc
về Tịch Quang. Chứ thật sự trong cả hai cõi đều có đủ cả phần
chứng lẫn mãn chứng. Trong Văn Sao, tôi đã từng trình bày
tƣờng tận.
Cõi Đồng Cƣ tuy có đủ ba cõi kia nhƣng ngƣời chƣa đoạn Hoặc
chỉ thọ dụng đƣợc cảnh Đồng Cƣ. Dù là cảnh của ngƣời đới
nghiệp vãng sanh nhƣng chẳng thể gọi cõi đó là cõi phàm phu vì
họ đều đạt đƣợc ba thứ Bất Thoái.                                                                            277
13. Luận về xá-lợi
* Xá-lợi là tiếng Phạn, Hán dịch là “thân cốt” (xƣơng nơi thân),
hoặc dịch là “linh cốt” (xƣơng thiêng), do sức Giới - Định - Huệ
của ngƣời tu hành tạo thành, chứ chẳng phải do luyện Tinh - Khí
- Thần mà đƣợc. Đấy chính là biểu tƣợng tâm hợp với đạo, tâm
hợp với Phật vậy, chẳng phải chỉ chết đi đem thiêu mới có, mà
[ngay khi còn sống] xƣơng, thịt, tóc nơi thân đều có thể biến
thành xá-lợi cả.
Xƣa có vị cao tăng nhân tắm gội mà đƣợc xá-lợi. Ngài Tuyết
Nham Khâm thiền sƣ cạo đầu, tóc biến thành xá-lợi. Lại có ngƣời
chí tâm niệm Phật, trong miệng có xá-lợi. Lại có ngƣời khắc in
sách Long Thƣ Tịnh Độ, tìm đƣợc xá-lợi trong bản khắc. Lại có
ngƣời thêu hình Phật, thêu kinh, nơi mũi kim đâm xuống liền
đƣợc xá-lợi. Lại có ngƣời chết đi, đem thiêu,  xá-lợi vô số, môn
nhân ai nấy đều đƣợc; có một ngƣời đi xa chƣa về kịp, đến lúc
trở về cúng quải trƣớc tƣợng, cảm khái đau buồn, liền nhặt đƣợc
xá-lợi trƣớc tƣợng. Ngày thiêu hóa Trƣờng Khánh Nhàn thiền
sƣ, trời nổi trận gió lớn, khói tỏa xa ba, bốn mƣơi dặm. Khói bay
đến đâu, chỗ đó đều có xá-lợi, nhặt gom lại đƣợc hơn bốn thạch.
Nên biết rằng xá-lợi do đạo lực cảm thành, kẻ luyện đan chẳng
biết nguyên do cứ ức đoán lầm lạc là do Tinh - Khí - Thần cảm
thành.
14. Luận về tý hƣơng
* “Tý hƣơng” là đốt hƣơng trên cánh tay. Linh Phong lão nhân (tổ
Trí Húc Ngẫu Ích) hằng ngày trì hai kinh Lăng Nghiêm, Phạm
Võng, nên ngài thƣờng đốt hƣơng. Chỉ vì hết thảy chúng sanh
không ai chẳng tiếc thân mạng, bảo trọng thân mình; đối với
những loài khác thì giết thân chúng, ăn thịt chúng, tâm càng vui                                                                             278
vẻ, còn mình bị muỗi đốt, gai đâm sẽ khó chịu đựng
đƣợc. Trong các kinh Đại Thừa nhƣ Pháp Hoa, Lăng Nghiêm,
Phạm Võng v.v.., đức Nhƣ Lai khen ngợi khổ hạnh, dạy đốt thân,
cánh tay, ngón tay để cúng dƣờng chƣ Phật hòng đối trị tâm
tham và tâm yêu tiếc, bảo trọng tự thân. Trong lục độ, pháp này
thuộc về Bố Thí Độ.
Bố thí có nội, ngoại bất đồng. Ngoại bố thí là quốc thành, vợ con,
nội bố thí là đầu, mắt, tủy, não. Đốt hƣơng, đốt thân đều gọi là
Xả, phải chí tâm khẩn thiết, ngƣỡng mong Tam Bảo gia hộ, chỉ
mong mình lẫn ngƣời nghiệp tiêu, huệ sáng, tội diệt, phƣớc tăng
(nói là mình - ngƣời, nhƣng thật ra là vì mình. Lại đem công đức
ấy hồi hƣớng cho pháp giới chúng sanh, nên gọi là mình  -
ngƣời); trọn chẳng đƣợc mảy may khởi tâm cầu tiếng tăm, cầu
phƣớc lạc nhân thiên thế gian, chỉ vì trên cầu Phật đạo, dƣới hóa
độ chúng sanh mà làm thì công đức sẽ vô lƣợng, vô biên, chẳng
thể nghĩ bàn. Đấy gọi là tam luân thể không (19), bao gồm trọn
vẹn tứ hoằng thệ, do tâm nguyện nên công đức rộng lớn, do tâm
nguyện nên chóng đạt đƣợc quả báo.
Nếu nhƣ tâm chuộng hƣ danh, đem cái tâm chấp trƣớc mà bắt
chƣớc hành hạnh trừ khử chấp trƣớc thì đừng nói là đốt hƣơng
trên cánh tay, dù đốt cả toàn thân vẫn chỉ là khổ hạnh vô ích. Ấy
là vì do tâm chấp trƣớc, vì mong đƣợc danh dự, chẳng hiểu
nghĩa lý tam luân thể không, mà cũng chẳng gồm trọn bốn hoằng
thệ nguyện; khiến pháp phá trừ thân kiến của Nhƣ Lai trở thành
pháp khiến thân kiến càng thêm kiên cố. Tội phƣớc do tâm mà
chia, quả báo do tâm mà khác. Vì thế, kinh Hoa Nghiêm nói: “Bò
uống nƣớc thành sữa. Rắn uống nƣớc thành nọc độc. Kẻ trí học
thì chứng Niết Bàn, ngƣời ngu học đến càng tăng thêm sanh tử!”
* Tâm Bồ Tát hệt nhƣ thái hƣ, không gì là chẳng bao quát, vì
muốn lợi lạc chúng sanh nên bày mọi phƣơng tiện, trƣớc là dùng
dục để lôi kéo, sau mới khiến nhập Phật trí. Chớ dùng tri kiến                                                                             279
phàm phu để suy lƣờng lầm lạc. Vì các ngài đã
chứng Pháp Nhẫn, trọn không còn có nhân - ngã, chỉ muốn nhiếp
thọ hết thảy chúng sanh vào biển pháp đại giác của Nhƣ Lai. Nếu
so đo, tính toán sẽ thuộc về tình kiến, chẳng thể ngầm khế hợp
với đạo vô nhân ngã.
Nói “bố thí đầu, mắt, tủy, não” là sự thật, còn nói [bố thí cả] kỹ
nữ, thể nữ... chẳng qua là để diễn tả tâm bố thí rộng lớn của Bồ
Tát, chớ vì từ hại ý, chấp chết lời nói. [Nếu chấp câu nguyện]
“nguyện kỹ nữ đầy dẫy trong a tăng kỳ thế giới” [là sự thật] thì
biết an bài họ vào đâu đây? Câu nói ấy hiển thị Bồ Tát bỏ cả
trong lẫn ngoài, trọn chẳng tham tiếc, trong thì bỏ cả đầu, mắt,
tủy, não, ngoài thì bỏ quốc thành, vợ con, chẳng sanh tham chấp
với bất cứ một pháp nào. Vì thế, ở trong sanh tử chỉ mình Bồ Tát
đƣợc giải thoát.
Những kẻ nhận bố thí kia do đƣợc nguyện lực của Bồ Tát nhiếp
trì nên sẽ ngay trong lúc này hoặc trong đời sau không kẻ nào
chẳng đích thân đƣợc hƣởng lợi ích, liễu sanh thoát tử; nhƣ vua
Ca Lợi cắt chặt thân thể [Nhẫn Nhục tiên nhân], sau này trở
thành ngƣời đƣợc [Phật] độ đầu tiên là ngài Kiều Trần Nhƣ.
Phàm phu tiểu tri tiểu kiến há có thể suy lƣờng đƣợc tâm đại Bồ
Đề lƣợng nhƣ thái hƣ ƣ?
Phải biết rằng: phàm phu chƣa đắc Pháp Nhẫn, trong tâm
ngƣỡng mộ đạo Bồ Tát, nhƣng hành sự phải thuận theo lý
thƣờng của phàm phu, nếu không sẽ có thể gây trở ngại cho việc
gìn giữ, duy trì đạo pháp. Nếu chƣa chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn,
dù chẳng duy trì pháp đạo, cũng chẳng nên học theo Bồ Tát bỏ
đầu, mắt, tủy, não v.v... bởi tự lực chẳng đủ, chẳng kham nhẫn
thọ, cả mình lẫn ngƣời đều chẳng đƣợc lợi ích gì cả. Phàm phu
cứ căn cứ theo những điều phàm phu có thể làm đƣợc mà làm
thì mới nên.                                                                            280
15.  Luận về  cảnh giới
* Ngƣời niệm Phật lâm chung đƣợc Phật tiếp dẫn; đấy là chúng
sanh và Phật cảm ứng đạo giao, dù chẳng lìa khỏi tâm nghĩ
tƣởng nhƣng chẳng thể nói là [cảnh giới ấy] chỉ do mỗi mình tâm
tƣởng hiện, tuyệt đối chẳng có chuyện Phật, Thánh nào đến
nghênh tiếp cả! Tâm tạo địa ngục thì lâm chung tƣớng địa ngục
hiện. Tâm tạo Phật quốc thì lâm chung tƣớng Phật quốc hiện.
Nói “tƣớng tùy tâm hiện” thì đƣợc, nhƣng nói “chỉ có tâm không
có cảnh” thì chẳng đƣợc. Nếu bậc đại giác Thế Tôn nói “chỉ có
tâm không có cảnh” thì chẳng có lỗi gì, chứ nếu các hạ nói nhƣ
vậy ắt sẽ rớt vào tri kiến đoạn diệt, ắt thành tà thuyết phá hoại
pháp môn tu chứng của đức Nhƣ Lai; chẳng thể không dè dặt
đƣợc. Nếu nói tỉ mỉ mỗi điều, ắt phí bút mực. Biết một ắt sẽ suy
đƣợc cả ba, không còn sót nghĩa nào.
* Phải biết rằng hiện tại không có pháp nhất định. Do cái thấy của
mỗi ngƣời khác nhau nên hãy tạm gác những cảnh giới của
Phật, Bồ Tát lại đó, chỉ dùng những cảnh phàm tiểu để giảng rõ.
Ông Tử Tấn là con vua Châu Linh Vƣơng, học đạo tiên bảy
ngày, khi xuất hiện ở Hầu Sơn thì đã qua đời Tấn. Vì thế mới có
thơ rằng:
Vƣơng tử khứ cầu tiên,
Đan thành nhập cửu thiên,
Động trung phƣơng thất nhật,
Thế thƣợng kỳ thiên niên.
(Vƣơng tử học đạo tiên,                                                                            281
Thành đạo dạo cửu thiên,
Trong động chỉ bảy bữa,
Trần gian gần nghìn niên)
      (Chữ “kỷ” phải đọc giọng bằng, có nghĩa là “gần”. Từ đời
Châu Linh Vƣơng đến nhà Tấn, thời gian dài gần một ngàn
năm)
      Lại nhƣ ông Lã Thuần Dƣơng gặp Chung Ly Quyền trong
quán trọ ở Hàm Đan, ông Chung khuyên họ Lã học đạo Tiên, họ
Lã muốn đƣợc phú quý rồi mới học. Chung trao cho Lã một cái
gối bảo hãy ngủ một giấc. Họ Lã mộng thấy mình làm quan từ
chức nhỏ đến chức lớn, rồi làm đến Tể Tƣớng. Năm mƣơi năm
phú quý vinh hoa, thật ít có trong đời. Con cháu đầy nhà, thƣờng
sung sƣớng không tai ƣơng gì. Sau vì một chuyện chẳng hợp ý
bề trên bèn tự thoái quan. Lúc tỉnh giấc ra, chủ quán trọ còn đang
nấu nồi cháo kê vàng!
Trong mộng thấy ra vào làm tể tƣớng, bao nhiêu là chuyện lớn,
thời gian lâu cả năm mƣơi năm, tỉnh giấc, nồi cháo kê vàng vẫn
chƣa nhừ. Đấy chẳng qua là cảnh do tiên nhân biến hiện, mà
còn có thể trong một niệm biến hiện những sự nghiệp, cảnh giới
của cả năm mƣơi năm; huống hồ là cảnh giới của Phật là vị trời
trong trời, là thánh của các thánh, của các vị đại Bồ Tát đã chứng
Pháp Thân? Vì thế, ngài Thiện Tài vào trong lầu gác của đức Di
Lặc, vào trong một lỗ chân lông của đức Phổ Hiền, đều ở trong
mƣời phƣơng thế giới hành lục độ vạn hạnh trải Phật sát vi trần
số kiếp. Xem đoạn văn ấy, ông còn có thể suy lƣờng đƣợc
chăng?
Phải biết rằng ba đời không thật thể, còn là phận phàm phu thì
chỉ thấy đƣợc cảnh giới của phàm phu, chẳng đƣợc vin vào cảnh
giới phàm phu thấy đƣợc đó mà bảo cảnh giới của Phật, Bồ Tát
cũng giống nhƣ thế, chẳng  có gì khác! Nay tôi dùng ví dụ để                                                                             282
giảng rõ: Nhƣ gƣơng soi tỏ mấy mƣơi tầng núi sông,
lầu gác, thật chẳng có gần xa, nhƣng gần xa rành rành! Sắc
pháp thế gian còn nhƣ thế, huống là bậc đã chứng tâm pháp duy
tâm tự tánh ƣ? Bởi thế mới nói: “Ƣ nhất hào đoan,  hiện bảo
vƣơng sát, tọa vi trần lý, chuyển đại pháp luân” (trên đầu sợi
lông, hiện cõi bảo vƣơng, ngồi trong vi trần chuyển đại pháp
luân).
Mƣời đời xƣa nay, trƣớc sau chẳng lìa đƣơng niệm, vô biên cõi
nƣớc chẳng xa cách [một khoảng nhỏ bằng] đầu sợi lông! Phàm
những gì thuộc về cảnh giới chẳng thể nghĩ bàn thì hãy nên
ngửa tin lời Phật, đừng suy lƣờng xằng. Nếu nhƣ khẩn thiết đến
cùng cực, sẽ tự hiểu rõ hết, cũng chẳng cần phải hỏi ai khác cả.
Nếu chẳng khẩn thiết, chí thành, dù ra sức lễ bái, trì tụng, nhƣng
cứ suốt ngày đem những cảnh giới mà phàm phu chẳng thể suy
lƣờng đƣợc để cuồng vọng suy lƣờng thì có khác gì đi theo vết
xe đổ của huyễn nhân pháp sƣ, dù có muốn chẳng vƣớng lấy tội
báo báng Phật, báng Pháp, báng Tăng cũng chẳng thể đƣợc!
      * Biết lệnh nghiêm (20) có rất nhiều điều linh cảm, tôi khôn
ngăn bội phục. Nhƣ ƣớc về lúc thọ pháp, nếu Đại Sĩ cùng thiên
long bát bộ cùng hiện thì Mật Tông vẫn có cấm giới chẳng cho
tuyên truyền diệu cảnh. Đấy phải chăng là vì lòng sùng phụng
trong sạch, bền chắc mà ngài thuận lòng thị hiện chăng? Nếu
hiểu nhƣ vậy, nhất định [ngƣời đƣợc thấy diệu cảnh đó] phải có
sở chứng. Nếu [ngƣời ấy] không có sở chứng, nhất định thánh
chẳng tùy tiện ứng hiện xuông!
Còn nhƣ việc “thấy ứng thân” nhƣ luận Khởi Tín đã nói thì đó là
tình cảnh ngƣời niệm Phật lúc lâm chung, vì chƣa phá đƣợc vô
minh nên ứng thân, báo thân, pháp thân [ngƣời ấy] đƣợc thấy đó
đều chẳng phải là do thiện căn của ngƣời ấy mà đƣợc thấy. Bồ
Tát ứng hiện ở Phạm Âm động tại Phổ Đà cũng là phƣơng tiện
quyền biến để tăng trƣởng tín tâm cho chúng sanh, tuy ngƣời                                                                             283
ngƣời đƣợc thấy nhƣng chẳng thể lấy đó làm chứng
cứ. Nếu cứ vin vào đó, ắt sẽ khiến hết thảy mọi ngƣời đều dựa
dẫm vào đó mà đồn thổi. Ngƣời xƣa đƣợc thấy Bồ Tát Văn Thù
ở Ngũ Đài rất nhiều, nhƣng đều là những vị có đại nhân duyên
hoặc là công phu tu tập sâu dày, hễ ai gặp Ngài đều có điểm
chứng ngộ giải nhập.
Năm Quang Tự thứ mƣời hai, Quang tôi triều bái Ngũ Đài, trƣớc
hết ngụ tại xƣởng chế tạo lƣu ly ở Bắc Kinh, tìm tác phẩm Thanh
Lƣơng Sơn Chí khắp nơi nhƣng chỉ tìm đƣợc một bộ, thƣờng
xem hằng ngày. Do trời lạnh, đến tháng Ba mới đến đƣợc núi. Ở
trên núi hơn bốn mƣơi ngày, thấy những ngƣời lên núi triều bái,
đa số nói đƣợc thấy Bồ Tát Văn Thù, nhƣng ngƣời thật sự hành
trì rất ít. Thế mới biết là những ngƣời lên núi triều bái nói đƣợc
thấy Bồ Tát đều chỉ nói dựa theo những tích chuyện của cổ nhân
để khoe khoang đó thôi. Nếu ai thật sự đƣợc thấy ắt sẽ giấu kín.
Vàng thau khác biệt! Nếu không, ngài Văn Thù chẳng tự trọng,
khinh thị hiện thân, còn ra thế nào nữa?
      “Lý tức Phật” hết thảy chúng sanh đều có, chứ chẳng phải chỉ
riêng ngƣời nghịch trần hiệp giác. Nếu là hạng nghịch trần hiệp
giác thì đã thuộc về “danh tự tức Phật”. Ông X. nọ [khoe] khi
nhập định giống hệt nhƣ Tỳ Lô Giá Na, khi xuất định lại vẫn là
phàm phu, nhƣng chẳng biết hổ thẹn, còn lớn tiếng khinh ngƣời.
Nếu thật sự giống hệt nhƣ Tỳ Lô Giá Na, quyết chẳng đến nỗi
vẫn là phàm phu! Ông ta toan dùng Mật tông để lòe ngƣời, chẳng
biết rằng Quang tôi dù chẳng biết Mật tông đi nữa, lẽ nào chẳng
biết đúng sai, dễ hồ lung lạc đƣợc ƣ?
16. Luận về thần thông
* Đạo Tế thiền sƣ là bậc thánh nhân đại thần thông. Ngài muốn
khiến cho hết thảy mọi ngƣời sanh tín tâm nên thƣờng hiển hiện                                                                             284
những sự chẳng thể nghĩ bàn. Ngài ăn thịt uống
rƣợu để giấu kín cái đức của bậc thánh nhân, là vì muốn cho
những kẻ ngu tƣởng ngài là kẻ điên rồ, không pháp tắc; nhân đó,
chẳng tin tƣởng ngài. Nếu không làm thế, ngài sẽ chẳng thể trụ
trong thế gian.
Phật, Bồ Tát hiện thân, nếu thị hiện giống nhƣ phàm phu thì các
ngài chỉ dùng đạo đức để giáo hóa ngƣời, tuyệt đối chẳng hiển
hiện thần thông. Nếu hiển hiện thần thông sẽ chẳng trụ trong thế
gian đƣợc; còn nếu hiện làm kẻ điên rồ, dù có hiển thị thần thông
cũng chẳng trở ngại gì. Chớ bảo ngƣời tu hành ai nấy đều nên
uống rƣợu, ăn thịt! Ngƣời lành thế gian còn chẳng uống rƣợu, ăn
thịt, huống hồ là đệ tử Phật! Muốn giáo hóa chúng sanh mà chính
mình chẳng y giáo phụng hành thì chẳng những làm cho ngƣời
khác chẳng tin, mà còn khiến họ thoái thất tín tâm nữa. Vì thế
chẳng đƣợc học đòi uống rƣợu, ăn thịt.
Ngài (Đạo Tế) ăn những con vật chết, ói ra những con vật sống.
Ông ăn con vật chết vào, còn chƣa ói ra thịt còn nguyên hình
dạng đƣợc nổi, làm sao học đòi ngài ăn thịt cho đƣợc? Ngài
uống rƣợu vào bèn nhả ra vàng để thếp tƣợng Phật, khiến cho
vô số cây gỗ lớn từ trong giếng trồi lên. Ông uống rƣợu vào,
muốn cho nƣớc từ dƣới giếng trào lên còn không đƣợc, làm sao
học đòi ngài [uống rƣợu] cho đƣợc?
Truyện về Tế Công có đến mấy loại, nhƣng chuyện Túy Bồ Đề
hay nhất. Gần đây có đến tám bản khác nhau lƣu thông, đa phần
là những bản do ngƣời đời sau thêm thắt vào. Chuyện Túy Bồ
Đề cả văn lẫn nghĩa đều hay, những chuyện đƣợc kể trong ấy
đều là những sự thực khi ấy. Thế nhân chẳng biết nguyên do,
không bắt chƣớc bừa theo thì cũng hủy báng xằng bậy. Học bừa
theo đó sẽ quyết định phải đọa địa ngục. Hủy báng xằng bậy tức
là dùng tri kiến phàm phu để suy lƣờng thần thông của thánh
nhân, cũng mắc lỗi, nhƣng so với kẻ học bừa theo, tội còn nhẹ
nhiều hơn lắm. Thấy những điều  chẳng thể nghĩ bàn của ngài
phải nên sanh lòng kính tin, thấy ngài uống rƣợu, ăn thịt, chẳng                                                                             285
chịu bắt chƣớc làm theo thì sẽ đƣợc lợi ích, chẳng bị
tổn hại vậy.
* Ngƣời có thể hoằng đạo, chứ đạo chẳng thể hoằng ngƣời. Thế
gian loạn lạc là do ác nghiệp  của đồng phận chúng sanh cảm
thành, các thuyết tà vạy cũng thế (cũng do cùng nguyên do ấy).
Phong tục thế gian biến đổi, lúc thoạt đầu đều là do một hai kẻ
phát khởi. Yên bình, loạn lạc, tà, chánh không gì đều chẳng nhƣ
thế cả; sao chẳng xét đến sức ngƣời để chuyển biến, lại cứ quy
vào sức thần thông của Phật, Bồ Tát để hòng chuyển biến vậy?
Chẳng phải là Phật, Bồ Tát chẳng thể hiển thị thần thông biến
hiện, khổ nỗi chúng sanh nghiệp nặng, nên [dù có biến hiện]
cũng vẫn nhƣ không.
Ví nhƣ mây dầy, sƣơng đậm, mờ mịt chẳng thấy đƣợc mặt trời
giữa ban ngày, bèn bảo là chẳng có mặt trời ƣ? Con ngƣời cùng
trời, đất gọi là Tam Tài; Tăng và Phật, Pháp gọi là Tam Bảo. Gọi
nhƣ vậy là do căn cứ vào ý nghĩa hỗ trợ, tán dƣơng công sanh
trƣởng [của trời đất], hoằng dƣơng đạo pháp mà đặt tên. Ông cứ
muốn bỏ nhân lực, bám vào sức của Phật, Bồ Tát, trời đất, có
còn đáng bảo là biết đạo chăng?
Đời đại loạn, đại bi Bồ Tát thị hiện cứu hộ cũng chỉ cứu đƣợc kẻ
hữu duyên; vì loạn lạc chính là đồng nghiệp, còn túc nhân, hiện
duyên (duyên hiện tại) là biệt nghiệp. Có biệt nghiệp cảm đƣợc
Bồ Tát thì sẽ đƣợc Bồ Tát gia bị, cứu hộ, há nên ngông nghênh
bàn bạc ƣ? Những việc phƣơng tiện thuận nghịch cứu hộ chúng
sanh của Bồ Tát chẳng phải là chuyện kẻ hiểu biết lầm lạc, hẹp
hòi có thể thấu hiểu đƣợc đâu!
Nay tôi vì ông nói một thí dụ để từ đó mà suy rồi đừng nói Bồ Tát
thật là oan gia, cũng nhƣ để tạo thành nền tảng tốt đẹp hòng
nhập đạo thành Phật. Chƣ Phật lấy tám khổ làm thầy để thành
đạo Vô Thƣợng. Nhƣ vậy, Khổ là cái gốc để thành Phật. Thêm                                                                             286
nữa, Phật dạy đệ tử lúc ban đầu phải tu Bất Tịnh
Quán. Quán lâu ngày ắt có thể đoạn Hoặc, chứng Chân, thành A
La Hán. Nhƣ vậy Bất Tịnh lại là cội gốc của Thanh Tịnh.
Ngƣời ở Bắc Câu Lô Châu hoàn toàn chẳng khổ, nên chẳng thể
nhập đạo. Châu Nam Diêm Phù Đề sự khổ rất nhiều nên ngƣời
nhập Phật đạo để liễu sanh tử không thể tính nổi số. Giả sử thế
gian tuyệt chẳng có các khổ: sanh, lão, bệnh, tử, đao binh, thủy,
hỏa v.v... thì ai nấy đều sống say chết ngủ trong lạc thú phóng
dật, có ai chịu phát tâm xuất thế để liễu sanh tử đâu? Ngay cả kẻ
thống lãnh quân mạnh, giữ địa vị cao, gây bao việc khổ não
chúng sanh biết đâu là bậc đại bi thị hiện đó chăng? Nghĩa này
chỉ có thể nói cùng ngƣời thông suốt, đừng nói với kẻ vô tri, vô
thức. Nếu là ngƣời thông suốt, dù thật sự là ác ma, cũng có thể
đƣợc lợi ích; còn ngƣời vô tri vô thức nếu biết đến nghĩa này ắt
sẽ chẳng biết phát tâm tu hành, trái lại còn hủy báng Phật pháp.
Ví nhƣ dùng thuốc, trẻ nhỏ chẳng thể uống thuốc, bèn bôi thuốc
lên vú thì nó dù không uống cũng thành uống. Ông toan làm bậc
thông suốt, nhƣng triển khai rộng lớn nghĩa này thì hại ngƣời rất
nhiều, lợi ngƣời rất ít. Xin hãy thầm tâm niệm, đừng bàn nói ẩu.
Cảnh giới của Phật, Bồ Tát, phàm phu chẳng thể suy lƣờng
đƣợc đâu!
17. Luận về bí truyền
* Nay các ngoại đạo, không đạo nào chẳng dùng cách bí truyền
để dẫn dụ, khêu gợi kẻ vô tri theo đạo họ. Lúc nguyện gia nhập,
ắt phải phát thệ: Từ rày về sau, nếu phản lại đạo ắt sẽ mắc ác
báo nhƣ thế này, nhƣ thế nọ. Thật sự ra, đa phần là những pháp
dối ngƣời. Do trót phát thệ, dù có biết những sai trái trong đạo
cũng chẳng dám trái nghịch hoặc phơi bày ra. Cách phát thệ bí                                                                             287
truyền của ngoại đạo ràng buộc, làm con ngƣời lầm
lạc quá đáng vậy.
Đức Phật ta chẳng có pháp bí truyền; đối với một ngƣời Ngài
cũng nói thế, với vạn ngƣời Phật cũng dạy nhƣ thế. Cửa đóng,
then cài, bên ngoài đặt ngƣời tuần hành canh gác, chỉ cho một
ngƣời vào, thì thầm chẳng cho ngƣời ngoài nghe đƣợc, những
đạo nhƣ thế chẳng có chuyện quang minh, chánh đại gì đâu!
Mong các vị hiểu đƣợc tệ nạn ấy nên tôi mới lƣợc thuật vậy!
* Nếu có bí quyết mầu nhiệm chỉ khẩu truyền ở chỗ kín đáo thì
chính là tà ma ngoại đạo, chẳng phải là Phật pháp.
18. Luận về cầu cơ:
* Những lời giáng cơ trong đàn cầu cơ đa phần là do những linh
hồn dựa dẫm vào tri thức của ngƣời xoay cơ mà nói ra. Nếu nói
về đạo lý thế gian còn đúng đƣợc nhiều, chứ nói đến Phật pháp
thì do chính mình chẳng biết, bèn bịa ra các lời nhảm nhí.
* Cầu cơ đa phần là các linh hồn giả mạo Phật, tiên, thần, thánh.
Những hồn kém cỏi chẳng có sức thần thông, những hồn khá
hơn sẽ biết đƣợc tâm ngƣời nên dựa dẫm vào sự thông minh và
tri thức của ngƣời [phò cơ] để nói này nói nọ.
Ông Kỷ Văn Đạt nói: “Cầu cơ đa phần là linh hồn giả danh giáng
cơ. Tôi cùng ngƣời anh tên là Thản Nhiên cùng phò cơ. Tôi biết
làm thơ, nhƣng chữ viết không ra gì. Tôi phò cơ thì thi từ mẫn
tiệp, nhƣng chữ viết nguệch ngoạc, xiên xẹo. Thản Nhiên phò cơ
thì thi từ tầm thƣờng, chữ viết sắc sảo. Với những hồn giả mạo                                                                             288
cổ nhân, nếu chú tâm hỏi vào những điểm bí nhiệm,
quan yếu, bèn nại cớ năm tháng cách xa, chẳng còn nhớ gì nữa,
nên biết hồn ấy chẳng phải thật”.
Nhƣ vậy, cái linh ứng của những hồn ấy chỉ là chúng có thể dựa
vào những điều đã biết trong tâm của ngƣời hiện tại để mƣợn
dùng. Với những điều tuy có trong thức điền, nhƣng trong cái
thấy biết hiện tại của đƣơng nhân không có, hoặc ngƣời ấy
chẳng biết đến nghĩa đó thì hồn chẳng thể dạy gì về điều ấy
đƣợc. Sánh với tha tâm thông của bậc nghiệp tận tình không
khác nhau một trời, một vực, nhƣng xét về khí phần thì có vẻ
tƣơng tự mà thôi. Tôi lại chỉ sợ quý vị bị mê hoặc bởi những lời
giáng cơ, nên chẳng thể không dẫn chứng để phân trần vậy.
* Gần đây, các đàn cơ ở Thƣợng Hải rất thịnh hành. Những lời
khai thị sửa lỗi, hƣớng thiện, tiểu luân hồi, tiểu nhân quả [của các
đàn cơ ấy] đều rất có ích đối với thế đạo nhân tâm, nhƣng những
lời giảng về cõi trời, về Phật pháp toàn là những lời lẽ quàng
xiên. Chúng ta là đệ tử Phật chẳng thể bài xích pháp ấy vì sẽ
mắc lỗi ngăn trở ngƣời khác hƣớng thiện, nhƣng cũng chẳng thể
phụ họa, tán dƣơng pháp ấy bởi những lời giáng cơ về Phật
pháp toàn là ức đoán, chỉ e gây thành cái họa hoại loạn Phật
pháp, lầm lạc chúng sanh.
19.  Luận về luyện đan:
* Phật pháp chỉ dạy ngƣời dứt ác tu thiện, minh tâm kiến tánh,
đoạn Hoặc chứng Chân liễu sanh thoát tử. Toàn bộ Đại Tạng
kinh trọn chẳng có lấy một chữ dạy ngƣời vận khí luyện đan, cầu
thành tiên bay lên trời, trƣờng sanh bất lão chi cả.                                                                            289
Thời kỳ đầu Dân Quốc, gã dân ma Liễu Hoa Dƣơng
soạn Huệ Mạng kinh, tận dụng kinh Phật, lời Tổ để chứng minh
cho pháp luyện đan, xoay chánh thành tà, dùng pháp báng pháp.
Ngƣời chƣa mở mắt thấy tà thuyết đó ngỡ là chân thật, đánh mất
chánh kiến mãi mãi. Lời lẽ, sự tu hành của họ đều là phá hoại
Phật pháp, nhƣng vẫn hiu hiu tự đắc, cho mình may mắn gặp
đƣợc chân thừa, đƣợc nghe chánh pháp, đúng là nhận giặc làm
con, nấu cát thành cơm, một gã lòa dẫn lũ mù kéo nhau sa hầm
lửa, chẳng đáng buồn ƣ!
Phàm một pháp luyện đan chẳng phải là không lợi ích, nhƣng chỉ
có thể kéo dài tuổi thọ, cao nhất là thành tiên bay lên trời, pháp
ấy còn chƣa phải là chân truyền của Lão Tử, huống hồ là chánh
đạo của Phật pháp ƣ? Khổng Tử nói: “Triêu văn đạo, tịch tử khả
hỹ!” (sáng nghe đạo, tối chết cũng đành)”. Lão Tử nói: “Ngô hữu
đại hoạn vi ngô hữu thân” (ta có mối lo lớn là ta có thân). Nếu
lãnh hội đƣợc những lời ấy sẽ chẳng bị bọn luyện đan kia mê
hoặc. Hãy đọc kỹ các sách An Sĩ Toàn Thƣ, Cƣ Sĩ Truyện, Bình
Tâm Luận, Kê Cổ Lƣợc.... thì gƣơng sáng đặt trên đài, tốt xấu tự
phân, lò nung thử vàng, thật giả rạch ròi.
      * Trộm nghĩ nguồn gốc của Thích và Đạo chẳng hai, nhƣng
nhánh nhóc, chi phái khác xa nhau một trời một vực. Phật giáo
dạy ngƣời trƣớc hết tu Tứ Niệm Xứ Quán: quán thân bất tịnh,
quán thọ là khổ, quán tâm vô thƣờng, quán pháp vô ngã. Đã biết
thân, thọ, tâm, pháp đều thuộc huyễn vọng, khổ, không, vô
thƣờng, vô ngã, bất tịnh thì Chân Nhƣ diệu tánh sẽ tự hiển hiện.
Nếu ƣớc theo nguyên sơ chánh truyền thì Đạo giáo cũng chẳng
lấy việc vận khí luyện đan chỉ cầu trƣờng sanh làm trọng; đời sau
tu hành theo Đạo Giáo, không một ai là chẳng coi pháp ấy là
chánh tông! Phật giáo không điều lớn lao nào chẳng bao gồm,
không điều nhỏ nhặt nào chẳng đề cập đến, chẳng những phát
huy đạo lý thân tâm tánh mạng đến hết sạch không còn sót, mà                                                                             290
ngay cả những điều nhỏ nhặt nhƣ hiếu, đễ, trung, tín,
lễ, nghĩa, liêm, sỉ... của Thế Đế, mảy may điều thiện nào cũng
chẳng bỏ sót. Chỉ riêng đối với việc luyện đan vận khí không có
lấy một chữ nhắc đến, nhƣng [đệ tử Phật] phải kiêng dè sâu xa
[đừng luyện đan], bởi một đằng dạy ngƣời biết thân tâm là huyễn
vọng, một đằng lại dạy ngƣời chấp chặt thân tâm là chân thật.
Cái tâm vừa nói đó chỉ là tâm tùy duyên sanh diệt, chẳng phải là
chân tâm sẵn có. Một pháp luyện đan chẳng phải là không có lợi
ích, nhƣng chỉ kéo dài đƣợc tuổi thọ, cao nhất là thành tiên bay
lên trời, nếu bảo là pháp để liễu sanh thoát tử thì chỉ là lời nói mớ
mà thôi!
20. Luận về tu hành, xử sự phải phù hợp, thích nghi:

      * Đối với pháp niệm Phật phải tùy theo sức lực của mỗi
ngƣời; tùy tiện niệm ra tiếng, niệm thầm, niệm lớn tiếng, niệm
nhỏ tiếng, không cách nào là chẳng đƣợc, lẽ nào cứ một mực
niệm lớn tiếng đến nỗi tổn hơi thành bệnh vậy? Căn bệnh nặng
của ông do khí bị thƣơng tổn mà ra nhƣng thật sự là do nghiệp
lực từ vô lƣợng kiếp biến hiện.
Do ông tinh tấn niệm Phật nên chuyển hậu báo thành hiện báo,
chuyển báo nặng thành báo nhẹ. Chẳng biết là do căn bệnh này
sẽ tiêu đƣợc tội tam đồ ác đạo trong bao nhiêu kiếp số. Phật lực
khó nghĩ lƣờng, Phật ân khó báo, hãy nên sanh lòng vui mừng,
nghĩ mình may mắn lớn lao, sanh lòng tin trong sạch lớn lao,
dùng một pháp Tịnh Độ tự hành, dạy ngƣời, mong sao quyến
thuộc trong nhà cùng hết thảy những ai hữu duyên cùng sanh
Tây Phƣơng thì mới chẳng phụ căn bệnh này, mới khỏi phụ ân
Phật vì mình hiện thân vậy!                                                                            291
      * Học Phật phải chuyên lấy việc tự liễu ngộ làm
chánh, nhƣng cũng phải tùy phần, tùy sức làm các công đức.
Phải là ngƣời có sức lớn lao mới hòng triệt để buông xuống, triệt
để đề khởi đƣợc. Ngƣời căn cơ trung hạ nếu không làm gì hết sẽ
liền thành biếng nhác, trây lƣời, đã chẳng hiểu đúng tự lợi mà đối
với việc lợi ngƣời cũng gác bỏ hết, trở thành cái tệ nhƣ Dƣơng
Tử “dù nhổ một cái lông làm lợi cho ngƣời khác cũng chẳng chịu
làm” (21). Vì thế phải hành cả hai pháp hỗ trợ cho nhau, nhƣng
chú trọng vào mặt tự lợi.
Cũng đừng hiểu lầm lời cƣ sĩ Nhị Lâm (Bành Tế Thanh). Hiểu
lầm thì đắc tội với ông Nhị Lâm chẳng nhỏ. Ý của Bành Nhị Lâm
là chuyên chú tự lợi, chứ chẳng phải là phế sạch việc tùy phần,
tùy sức dạy ngƣời tu theo pháp môn Tịnh Độ đâu! Việc lợi ngƣời
chỉ có hàng Bồ Tát mới gánh vác nổi; ngoài ra, ai dám nói những
lời lẽ lớn lao ấy! Ngƣời căn cơ trung hạ tùy phần, tùy sức làm
việc lợi ngƣời mới phù hợp với đạo lý tu hành tự lợi, bởi lẽ pháp
môn tu hành có lục độ vạn hạnh. Tự mình chƣa độ thoát thì việc
lợi ngƣời vẫn thuộc về tự lợi, nhƣng chẳng thể chuyên chú vào
hình thức bề ngoài mà làm.
      * Ngƣời tu hành thật sự thì dính vào chuyện khác làm chi?
Chỉ vì do chƣa thể buông cả toàn thân xuống, cắt đứt vạn duyên
đƣợc thì chẳng ngại gì đeo đẳng trong lòng để vớt vát lấy một
nửa mà thôi.
      * Niệm Phật tuy trọng chí thành, thanh khiết, nhƣng nếu bệnh
nhân không đủ sức thì cứ giữ lòng chí thành thầm niệm, hoặc
niệm ra tiếng, công đức vẫn giống hệt nhƣ vậy. Bởi lẽ, Phật từ
rộng lớn, nhƣ cha mẹ lúc thấy con cái bệnh khổ, ắt chẳng nệ vào
những nghi thức lúc bình thƣờng để trách móc gì, lại còn đến vỗ
về, xoa nắn thân thể con, rửa sạch những dơ bẩn. Nếu con bệnh                                                                             292
đã lành mà vẫn đối xử với cha mẹ hệt nhƣ lúc còn
đang bệnh thì sẽ bị sét đánh vậy!

* Lập thân, xử thế, gìn lòng thì dù là ngu hay hiền đều phải cung
kính, chẳng sanh lòng ngạo mạn. Hành sự thì thân hiền, xa ngu,
giữ ƣu, bỏ kém. Nhƣ thế sẽ tránh khỏi cái tệ lây phải tính xấu,
cũng nhƣ giữ cho mình khỏi bị lầm lạc. Chuyện thiên hạ có cái lý
nhất định, nhƣng không có pháp nhất định. Nếu chẳng dựa vào
sự tình để định đoạt, nhƣ chấp chết vào toa thuốc để trị biến
chứng thì ngƣời sống sẽ ít, kẻ chết lại nhiều. Phải tình hợp với lý,
pháp phù hợp sự thì mới nên!
* Thiên hạ vạn sự có cái lý nhất định, nhƣng khi gặp chuyện phải
vận dụng cái lý nhất định để hành xử sao cho thích nghi, lý phù
hợp cùng quyền, pháp tƣơng ứng với đạo thì mới nên!
* Phật pháp phải tùy theo căn tánh mỗi ngƣời mà thực hiện,
chẳng thể chấp chặt vào quy cách truyền bá thông thƣờng. Nếu
trái nghịch căn cơ sẽ khiến ngƣời ấy bị mất lợi ích liễu sanh thoát
tử thù thắng; cốt sao ngƣời ấy phải tự lƣợng đƣợc căn tánh để tu
trì [sao cho thích hợp].  
* Vào thời Phật pháp hƣng thạnh dƣới các triều Đƣờng, Tống,
ngƣời tại gia phần nhiều dùng cách hỏa táng; nhƣng [nay] nên
thuận theo thói tục chôn cất, vì sợ kẻ câu nệ luận bàn quàng
xiên, chứ thật ra thiêu thì gọn gàng hơn. Qua bốn mƣơi chín
ngày hãy thiêu là ổn thỏa. Còn chôn thì qua nhiều năm, rất có thể                                                                             293
hài cốt bị phơi bày. Cái lệ ba năm tang chế chẳng
dùng đến lễ nhạc cố nhiên phải tuân thủ.
Trƣớc đời Thanh, quan văn có thể xin nghỉ cƣ tang, quan võ
chẳng đƣợc phép nghỉ cƣ tang bởi việc quân chẳng thể xao
nhãng đƣợc nên chẳng để tang. Bây giờ thạnh hành quan niệm
“bỏ thói thƣờng là bất hiếu”, dù giữ đúng thời gian tang chế vẫn
còn bị chê trách nữa là. Chúng ta nên theo đúng cổ lễ, nhƣng
phải châm chƣớc mà làm theo, tuy chẳng thể biến cải ngay,
nhƣng đừng có quá câu nệ là đƣợc!
* Liên xã mới mở phải có quy chế nhất định, nữ nhân tuyệt đối
chẳng đƣợc tham dự liên xã, đừng bắt chƣớc nơi khác buông
tuồng chẳng thúc liễm đến nỗi một pháp chẳng lập, trăm mối tệ
chen chúc nảy sanh. Rất quan trọng, rất quan yếu đấy!
* Trộm nghĩ thế đạo nhân tâm hiện thời suy sụp đến cùng cực.
Lại còn phung phí quốc khố, so với trƣớc kia thuế má nặng hơn
gấp mấy lần, mọi thứ đắt đỏ, dân không lẽ sống. Tai trời vạ
ngƣời giáng xuống liên tiếp. Gặp phải thời buổi này, muốn hoằng
dƣơng đạo pháp chỉ còn cách khuyên những ngƣời tìm đến học
hãy học lấy yếu nghĩa nhà Phật.
Với cha nói Từ, với con nói Hiếu, anh nhƣờng em kính, chồng
xƣớng vợ theo, ai nấy trọn hết bổn phận để làm nền tảng [cho
việc học đạo]. Ngoài ra, còn phải giữ lòng thành, chuyên chú lòng
kính, khắc kỷ, giữ lễ, hiểu nhân rõ quả, mong thoát khỏi luân hồi,
đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, tín nguyện niệm
Phật cầu sanh Tây Phƣơng. Dù thiên tƣ cao đến cách mấy cũng
phải y theo đây mà hành.                                                                            294
Ngoài ra, những khi có thời gian, có sức thì nghiên
cứu hết thảy kinh luận cũng chẳng trở ngại gì. Cốt sao tùy phận
tu trì trong chính gia đình mình thì chẳng cần gì phải cất dựng
phòng ốc cho nhiều, lại phải sắp đặt nhiều nhân viên, đây kia qua
lại càng phí thời gian. Đấy chính là cách tƣơng kế tựu kế để
hoằng pháp bậc nhất trong hiện tại vậy.
* Muốn cầu vãng sanh hãy nên buông bỏ thế gian này cũng nhƣ
buông bỏ cái tâm cuồng vọng quá phận mong độ thoát chúng
sanh giống nhƣ Bồ Tát. Tu cho chính mình chính là điều Bồ Tát
phải làm đầu tiên. Nếu chính mình còn là phàm phu, lại toan đảm
nhiệm việc ấy thì chẳng những chẳng thể độ ngƣời mà còn
chẳng thể tự độ nữa! Không ít thiện tri thức thế gian mắc phải
bệnh này, nhƣng cứ cho là mình có tâm Bồ Tát. Phải biết rằng:
[nếu có] tâm ấy, phải cầu vãng sanh trƣớc đã thì mới có lợi ích.
Nếu mình là Bồ Tát thì chẳng cầu vãng sanh còn đƣợc, chứ nếu
không thì tai hại chẳng nhẹ. Tâm cuồng vọng quá phận chính là
chƣớng ngại lớn nhất đối với việc tu hành. Chẳng thể chẳng biết
điều này.
* Trong lúc kiếp trƣợc thời loạn này, lẽ tất nhiên phải đề xƣớng
nhân quả báo ứng và pháp môn Tịnh Độ mới hòng có lợi ích thật
sự. Những kẻ ham cao chuộng trội kia chỉ sợ những pháp ấy mà
đƣợc đề xƣớng thì tiếng tăm, giá trị của họ sẽ bị hủy hoại, nên
thà để ngƣời khác chẳng hiểu, chứ chẳng chịu xuôi theo môn
phong của chúng ta.
Hãy thử hỏi họ: Đối với những vật bên ngoài dùng để điều dƣỡng
sanh mạng, có thể nào cứ cố chấp vào một pháp chẳng chịu biến
đổi cho thông suốt hay chăng? Mùa Hạ dùng sắn dây, mùa Đông
khoác áo cừu, đói thì ăn, khát thì uống. Mỗi ngày còn phải chọn
lấy những điều thích nghi; thế mà đối với việc hoằng dƣơng đạo                                                                             295
pháp thì lại bất trí chẳng hợp lẽ nhƣ việc dƣỡng
sanh, vẫn còn bảo là thật sự muốn làm cho ngƣời khác đƣợc lợi
lạc nữa ƣ?
* Sáng lập liên xã ắt phải thanh tịnh, thơm sạch, chủ nhân ắt phải
cung kính chí thành, chẳng thể là hạng ngƣời ngạo mạn, mà
cũng chẳng thể là ngƣời thiếu khí tƣợng, đức độ. Đối với mọi
ngƣời đến tham dự đều phải đối đãi ôn hòa, cung kính, khiêm
tốn. Lúc chƣa niệm Phật cũng nhƣ lúc niệm Phật xong, đều
chẳng đƣợc bàn chuyện nhà, có những yếu nghĩa nào đáng bàn
luận, trình bày thì hãy bàn. Nếu không ai nấy trở về chỗ mình.
Những ai quá nhỏ tuổi hãy nên tự niệm ở nhà. Nếu thƣờng đến
liên xã, ở gần thì còn tạm đƣợc, chứ nếu đƣờng xa, chỉ e nảy ý
ham vui bên ngoài, chẳng thể không cẩn thận. Lập liên xã bất
quá chỉ là đề xƣớng trong địa phƣơng mà thôi, phải lấy việc niệm
Phật tại gia là chính.
* Ngƣời học Phật trƣớc hết phải biết nhân quả, dè dặt, cẩn trọng
mà xử sự. Nếu đã có thể dè dặt, cẩn trọng thì tà niệm sẽ tự tiêu,
chẳng đến nỗi làm điều chẳng đúng pháp. Nếu trót làm, phải cực
lực đoạn diệt thì mới là tu hành chân thật. Nếu không, học một
đƣờng làm một nẻo, tri kiến càng cao, hành vi càng tệ. Đây chính
là căn bệnh đã lậm vào xƣơng tủy của những kẻ học Phật tự
xƣng là bậc thông gia ngày nay. Nếu có thể luôn lấy việc tránh lỗi
lầm làm điều mong mỏi thì cứ học một phần sẽ đƣợc một phần
lợi ích thật sự.
21. Luận về phú cƣờng                                                                            296
      * Trung Quốc nghèo hèn là vì chẳng tuân theo lễ nghĩa nên
mới nghèo hèn đến thế đó. Thử hỏi nguyên nhân gây nên sự
nghèo hèn, có nguyên nhân nào ngoài chuyện tham ăn của đút
lót, nhận của hối lộ khiến ngoại nhân hƣởng lợi hay không? Ông
chƣa thấy rõ gốc bệnh nên mới bảo là thuốc chẳng hiệu nghiệm,
có đáng gọi là trí chăng? Nƣớc ngoài cƣờng thịnh, nhƣng nƣớc
họ nhỏ, nếu họ chẳng đồng tâm hiệp lực há có thể tự lập đƣợc
ƣ? Trung Quốc mỗi ngƣời mỗi ý. Dù có đồng tâm đi nữa, nhƣng
ngoại nhân đem lợi ra nhử liền bị của đút lót xoay chuyển, chẳng
những chẳng đoái hoài gì đến đất nƣớc và nhân dân, ngay cả
thân mình cũng chẳng thèm đếm xỉa đến nữa. Chẳng phải là việc
phụng hành lễ nghĩa đã bị đánh mất đó sao?
Xƣa Lâm Văn Trung Công đánh đuổi quân Di đủ chứng thực
điều ấy. Từ đấy, bất cứ việc lớn việc nhỏ gì, không việc nào lại
chẳng vì Trung Quốc chu toàn cho thành tựu chăng? Ngƣời
Trung Quốc đa phần quên mất tám chữ (hiếu, đễ, trung, tín, lễ,
nghĩa, liêm, sỉ) cho nên nƣớc ngoài mới hùng mạnh nhƣ thế,
Trung Quốc mới yếu hèn đến thế. Nếu nhƣ ai nấy đều giữ gìn lễ
nghĩa thì các hàng hóa vô ích của ngoại quốc không cách nào
tiêu thụ đƣợc, mỗi năm Trung Quốc sẽ tiết kiệm đƣợc cả mấy
ngàn vạn vạn lạng vàng vậy. Ngƣời Trung Quốc mà bệ rạc thì
phải nói thành thật là bệ rạc đến tột cùng...
Ông tuy đọc sách hiểu đời nhƣng chƣa lãnh hội cái đạo đọc sách
hiểu đời nên mới hỏi nhƣ vậy. Với tình thế hiện tại thì đề xƣớng
nhân quả báo ứng, sanh tử luân hồi, và cải ác tu thiện, tín
nguyện vãng sanh là cách vãn hồi kiếp vận, cứu quốc, cứu dân
bậc nhất; đàm huyền thuyết diệu [so ra] vẫn kém hơn. Muốn cứu
đời nhƣng chính mình chẳng tận lực thực hành thì sẽ chẳng có
hiệu quả thật sự. Từ chính mình lan ra cả nhà, từ một nhà lan
đến cả ấp, từ mỗi ấp lan ra cả nƣớc, một khi đã tạo thành nề nếp
thì sẽ có hiệu quả chẳng lƣờng đƣợc. Nếu không thì dù có mơ
cũng vẫn khó thấy đƣợc!                                                                              297
      * Gần đây những ngƣời làm chuyện lớn phần nhiều là trẻ
tuổi, đa phần là lập dị, vọng ngoại, coi Nghiêu, Thuấn, Châu,
Khổng chẳng ra gì. Kẻ chƣa đắc chí bèn cuồng vọng lung lạc
ngƣời. Kẻ đã đắc chí liền thành phƣờng hại nƣớc mọt dân. Vì
thế thiên tai nhân họa xảy ra liên tiếp, vận nƣớc nguy ngập, dân
không lẽ sống. Học Phật cốt là để đối trị tập khí, cải ác hƣớng
thiện. Nếu vô sự bèn miệt mài học Phật, nhƣng hữu sự bèn gạt
phăng việc học Phật sang một bên thì chỉ mang cái tiếng xuông,
trọn chẳng có mảy may lợi ích thật sự gì!
      22. Luận về cách dự phòng tai họa
      * Với tình thế hiện tại, chỉ nên tận tâm, còn chuyện họa
phƣớc cát hung trong tƣơng lai chẳng thể dự đoán đƣợc. Nếu có
thể chí thành niệm Phật, niệm Quán Thế Âm Bồ Tát ắt sẽ có sự
chuyển biến âm thầm, chẳng đến nỗi vƣớng phải mối nguy hiểm
lớn. Nếu chẳng dốc sức vào đây, dù vận dụng hết cơ mƣu cũng
vẫn khó đạt hiệu quả tốt đẹp bởi thế cục biến huyễn, khó thể dự
liệu nổi! Những kẻ vinh hoa, phú quý hiển hách kia trong chốc lát
còn bị tiêu tan sạch cả, huống hồ gì bọn ta? Khổng Tử nói: “Kẻ
chẳng biết mạng thì chẳng thể coi là quân tử đƣợc” ; nhƣng phải
cực lực tu trì thì mới đáng gọi là Mạng đƣợc. Nếu biếng nhác
trây lƣời, tánh tình buông xuôi, dù đạt đƣợc hay mất đi cái gì thì
cũng chẳng thể gọi là Mạng đƣợc!
* Tình thế hiện nay là tình thế hoạn nạn. Dù bảo là niệm Phật diệt
đƣợc túc nghiệp, nhƣng phải sanh lòng hổ thẹn lớn lao, chuyển
đổi cái tâm tổn ngƣời lợi mình, hành hạnh Bồ Tát lợi khắp chúng
sanh thì dù túc nghiệp hiện ra, cũng sẽ đều nhờ Phật hiệu quang                                                                             298
minh trong Bồ Đề tâm để tiêu diệt hết sạch. Nếu
trong đời trƣớc hoặc trong xƣa kia đã từng tạo nghiệp lớn, nay
dù không làm ác, nhƣng chỉ niệm Phật qua quýt, ơ hờ thì công
chẳng thắng nổi tội, rất có thể mắc phải ác báo.
Chẳng phải là niệm Phật vô ích, nhƣng vì chƣa phát Bồ Đề tâm,
mà ác nghiệp lại rộng lớn nên công niệm Phật chẳng áp đảo
đƣợc ác nghiệp. Nếu có thể phát đại Bồ Đề tâm thì nhƣ vầng mặt
trời rạng rỡ giữa hƣ không, sƣơng móc tiêu lập tức. Ngƣời đời
phần nhiều nửa đời tạo ác, sau mới sám hối đôi chút, do bởi
chƣa thể hoàn toàn không gặp phải ác báo, bèn nói Phật pháp
chẳng thiêng, tu trì vô ích! Cƣ sĩ chẳng coi Quang tôi là ngƣời
ngoài, cố nhiên Quang chẳng thể không cùng cƣ sĩ trình bày sơ
lƣợc nguyên do ngõ hầu cƣ sĩ thoát khỏi đƣờng mê, vƣợt lên
bến giác vậy!
Hết phần 5
(1) Cát Căn: củ sắn dây, thƣờng cho là mát, có tính chất giải
nhiệt, nên ta thƣờng uống bột sắn dây trong mùa Hạ.
(2) Tam kỳ: ba đại a-tăng-kỳ kiếp.
(3) Xuất thai cách ấm: thân này chết đi, sanh sang đời sau.
(4) Cơm vua (vƣơng thiện): Vƣơng thiện là cỗ bàn của nhà vua.
Đây là điển tích lấy từ kinh Pháp Hoa, phẩm Thọ Ký: Các vị La
Hán nhƣ Ca Chiên Diên, Tu Bồ Đề, Mục Kiện Liên... nghe Phật
chỉ dạy đạo Nhất Thừa, bèn biết mình cũng có khả năng thành
Phật, nhƣng vẫn chƣa đủ tự tin, bèn cầu xin Phật thọ ký, giống
nhƣ kẻ đói thấy cỗ bàn của vua chẳng dám ăn, phải chờ vua cho
phép. “Ăn no cơm vua” ý nói vị Tăng trong đoạn thƣ này đã hiểu
lý Nhất Thừa, đã tự tin mình có khả năng thành Phật.                                                                              299
(5) Trƣớc khi hiểu đạo Phật, tổ Ấn Quang mê Nho
nên kịch liệt bài báng đạo Phật.
(6) Thời xƣa dùng những tấm đồng tròn, đánh bóng làm gƣơng
soi mặt.
(7) Phật sát vi trần số kiếp: Số kiếp nhiều nhƣ số vi trần trong
một cõi Phật.
(8) Bạn bè xa cách nhau gọi là “khiết khoát”, nên khi viết thƣ, ta
hay gọi ngƣời bạn ở xa là “hiền khiết” (bạn hiền)
(9) Đắc pháp sƣ: lãnh hội pháp, chứng ngộ pháp nơi vị nào thì vị
ấy gọi là “đắc pháp sƣ”.
(10) Thô trì trọng giới: Giữ các giới trọng còn ở mức giới tƣớng,
chƣa hoàn toàn giữ đƣợc giới tánh nên gọi là “thô trì”.
(11) Lệnh thân: tiếng gọi tỏ ý tôn trọng đối với mẹ của ngƣời
khác.
(12) Năm tông: năm tông của nhà Thiền là Lâm Tế, Quy
Ngƣỡng, Tào Động, Vân Môn và Pháp Nhãn.
(13) Sở dĩ gọi là chánh âm vì chú Vãng Sanh ta thƣờng đọc chỉ
là cách phiên âm theo giọng Hán, mô phỏng Phạn âm.
(14) Thời Minh, tăng sĩ phải trúng tuyển kỳ khảo thí về nội điển
mới đƣợc cấp giấy chứng nhận (độ điệp) là Tăng sĩ thực thụ.
(15) Thẩn lâu hải thị: lầu sò chợ biển. Ngƣời cổ Trung Hoa tin
ngoài biển có giống sò rất lớn gọi là Thẩn, hơi thở của chúng tạo
thành những ảo ảnh nhìn xa nhƣ lầu gác, chợ búa trên mặt biển.
(16) Ý nói: kinh điển lƣu truyền nhƣ thế nào thì cứ chép đúng y
nhƣ thế, đừng tự tiện sửa đổi theo ý riêng.                                                                              300
(17) Gọi là “thuần viên” vì chỉ giảng về pháp viên
đốn, gọi là “độc diệu” vì chỉ mình kinh Pháp Hoa phô bày diệu
nghĩa “hội tam quy nhất”.
(18) Năm bộ lớn là cách phán giáo chia kinh điển đức Phật đã
nói ra làm năm thời kỳ: Hoa Nghiêm, A Hàm, Bát Nhã, Phƣơng
Đẳng và Pháp Hoa - Niết Bàn.
(19) Tam luân thể không: bản thể của ba luân đều không, tức là
không thấy có ngƣời thí, không thấy có ngƣời nhận, không thấy
có vật đƣợc dùng để bố thí.
(20) Lệnh nghiêm: tiếng gọi cha ngƣời khác một cách tôn kính.
(21) Dƣơng Tử tức là Dƣơng Châu (Chu), tên tự là Tử Cƣ,
ngƣời thời Chiến Quốc, chủ trƣơng thuyết “vị ngã”: dù là làm
điều lợi nhỏ nhặt dù bằng cái lông cho ngƣời khác cũng chẳng
chịu làm.                                                                            301
ẤN QUANG ÐẠI SƢ GIA NGÔN LỤC
PHẦN 6
IX. Khuyên nhủ các thiện tín tại gia
1. Dạy về luân thƣờng đại giáo
      * Phải tận tánh học Phật mới có thể tận hết luân thƣờng học
Khổng. Phải tận hết luân thƣờng học Khổng mới có thể tận tánh
học Phật. Thử coi những bậc đại trung, đại hiếu và những vị phát
huy tâm pháp của thánh hiền trong Nho Giáo xƣa nay không vị
nào là chẳng nghiên cứu kinh Phật sâu xa, ngầm tu thầm chứng.
Hợp hai đạo Phật và Nho lại thì cả hai cùng tốt đẹp, tách ra thì cả
hai cùng bị tổn thƣơng; bởi lẽ, ngƣời trong cõi đời không ai
chẳng thuộc trong vòng luân thƣờng, mà cũng không ai ra khỏi
tâm tánh đƣợc. Để trọn vẹn luân thƣờng tâm tánh ấy thì dùng
“chẳng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện” của nhà Phật
để khắc kỷ, giữ lễ, ngăn lòng tà, giữ lòng thành, dùng “cha hiền,
con hiếu, anh nhƣờng, em kính” để hỗ trợ. Do vậy, cha con, anh
em v.v... dắt dìu nhau cùng trọn vẹn luân thƣờng, tâm tánh, trừ
khử phiền hoặc huyễn vọng để khôi phục Phật tánh sẵn có.
Chẳng những về thể là một, mà về dụng cũng chẳng có hai!
      * Phải biết rằng Phật pháp là pháp chung của cả chín pháp
giới, không một ai là chẳng nên tu mà cũng không ai là chẳng thể
tu nổi. Những kẻ nói Phật giáo vứt bỏ nhân luân, làm hại thánh
đạo đều là những kẻ mù chẳng thấy hình sắc cứ luận càn. Vì sao
nói nhƣ thế? Đức Phật đối với cha dạy lòng từ, với con dạy lòng
hiếu, với vua dạy lòng nhân, với bầy tôi dạy lòng trung, chồng
xƣớng vợ theo, anh nhƣờng, em kính.
Với những lời lẽ hay đẹp, những hành vi tốt đẹp, không điều nào
kinh Phật lại chẳng thuật rõ túc nhân hậu quả, tiền nhân hậu quả.                                                                             302
Những điều Phật dạy về lòng từ, lòng hiếu... giống
với Nho Giáo, nhƣng những điều đạo Phật dạy về nhân quả ba
đời thì Nho giáo còn chƣa bao giờ đƣợc nghe đến, huống hồ là
“đoạn Hoặc chứng chân” và “viên mãn Bồ Đề, quy về pháp vô sở
đắc”! Tiếc là những kẻ ấy chƣa đƣợc biết đến, chứ nếu đọc kỹ,
nghĩ chín, ắt sẽ khóc lóc, đau đớn, tiếng rền cả đại thiên thế giới,
buồn thƣơng vì tội lỗi báng Phật vậy!
      * Muốn học Phật, Tổ, trƣớc hết phải giữ pháp Thánh Hiền.
Nếu nhƣ thiếu sót bổn phận, trái nghịch luân thƣờng thì đã là kẻ
tội nhân danh giáo, còn làm đệ tử Phật sao đƣợc? Phật giáo tuy
vƣợt ngoài thế pháp, nhƣng gặp vua nói Nhân, gặp bầy tôi nói
Trung, gặp cha nói Từ, gặp con nói Hiếu, từ cạn mà lần đến sâu,
hạ học thƣợng đạt (học từ những điều căn bản, thấp kém, nhƣng
đạt đƣợc những điều cao quý). Hãy đọc kỹ An Sĩ Toàn Thƣ, ắt
sẽ biết đƣợc đại khái vậy!
      * Muốn làm Phật tử chân thật, phải bắt đầu làm chân Nho
trƣớc đã. Nếu đối với những sự nhƣ chí tâm thành ý, khắc kỷ,
giữ lễ, giữ lòng kính, trọng lòng thành, hiếu đễ, vui vẻ, cung
kính... mà chẳng thể tu tập, đôn đốc thì nền tảng chẳng kiên cố,
học Phật sao đƣợc? Chọn lấy tôi trung trong đám con hiếu; kẻ
tánh hạnh trái nghịch  Nho phong lẽ nào gánh vác đƣợc gia
nghiệp của Nhƣ Lai, trên nối tiếp huệ mạng, dƣới hóa độ chúng
sanh cơ chứ?
Phật pháp không sự gì to lớn chẳng bao hàm, không điều gì nhỏ
nhặt chẳng nêu lên. Dù là pháp thế gian hay xuất thế gian, không
một pháp nào lại chẳng thuộc phạm vi của Phật pháp. Những kẻ
câu nệ, hủ bại trong thế gian thƣờng cứ bảo “xuất gia là trái
nghịch luân lý”, họ đều là hạng chƣa suy xét thấu đáo đã vội hủy                                                                             303
báng, sợ mắc nghẹn nên bỏ ăn, tự chôn vùi tánh
mạng, thật là đáng thƣơng!
Nếu có mở rộng đƣợc tầm mắt thì mới biết Phật pháp lƣu truyền
rộng rãi khắp trong ngoài Trung Hoa, đạo pháp thạnh hành cả hai
ngàn năm qua, đƣợc rất nhiều vua thánh, tôi hiền, hào kiệt, vĩ
nhân hộ trì, truyền bá. Lẽ đƣơng nhiên đạo ấy phải là chân đạo
mà phàm tình chẳng thể suy lƣờng đƣợc nổi! Dù có bị một hai gã
nho sĩ câu nệ, hủ bại bài xích, hay những tên vua bạo ác hủy
phá, rốt cuộc hai tay vẫn không che nổi mặt trời, ngửa mặt nhổ
lên trời, chỉ càng tự phô bày cái thấy biết kém cỏi, ít ỏi của mình
mà thôi, tự lầm lạc gây tạo tội lỗi, chứ rốt cuộc Phật pháp có bị
tổn hại gì đâu?
Lại có kẻ bề ngoài làm ra vẻ chê bai Phật pháp, chứ bề trong lại
thực sự tu chứng. Từ đời Tống đến nay, những bậc danh nho
không có ai là chẳng nhƣ vậy cả! Cho nên Quang tôi nói “thành ý
chánh tâm do vậy hãy còn khiếm khuyết” thật đúng là lời bàn
quyết định vậy!
      * Đối với việc học Phật, vốn phải trọn vẹn nhân đạo mới hòng
hƣớng đến đƣợc. Nếu chẳng thật sự thực hành hiếu, đễ, trung,
tín, lễ, nghĩa, liêm, sỉ, dù có suốt ngày thờ Phật, Phật cũng chẳng
gia hộ! Ấy là vì Phật giáo bao gồm hết thảy các pháp thế gian,
xuất thế gian. Vì thế với cha nói Từ, với con nói Hiếu, khiến ai
nấy đều tận hết bổn phận làm ngƣời, sau đấy mới tu pháp xuất
thế. Ví nhƣ muốn dựng lầu cao vạn trƣợng, ắt trƣớc hết phải đắp
nền móng kiên cố, khai thông đƣờng nƣớc thì lầu cao vạn
trƣợng mới có thể xây lên đƣợc, mới vĩnh cửu chẳng hƣ hoại.
Nếu nhƣ nền móng chẳng vững, ắt chƣa xây xong đã sụp.
Sách Luận Ngữ nói: “Tuyển trung thần ƣ hiếu tử chi môn” (chọn
tôi trung từ nơi con hiếu); học Phật cũng giống nhƣ vậy. Xƣa kia,
ông Bạch Cƣ Dị hỏi Ô Sào Thiền Sƣ: “Thế nào là đại ý Phật                                                                             304
pháp?” Sƣ dạy: “Đừng làm các điều ác, vâng làm các
điều lành”. Muốn học Phật pháp, phải khắc kỷ, dè dặt, việc gì
cũng đều phải phát xuất từ cái tâm chân thật mà làm. Ngƣời nhƣ
vậy mới đáng gọi là chân Phật tử. Nếu tấm lòng gian ác, lại toan
mƣợn Phật pháp để tránh tội nghiệp, có khác gì trƣớc đã uống
thuốc độc, sau lại uống thuốc bổ, muốn cho thân thể khỏe mạnh,
nhẹ nhàng, kéo dài tuổi thọ, phỏng có đƣợc chăng?
      * Đại trƣợng phu muốn văn chƣơng thiên hạ, công nghiệp
vang dội vũ trụ, nhƣng chẳng thể đoạn Hoặc chứng chân, liễu
sanh thoát tử thì chỉ là chấp vào cái bên ngoài, bỏ sót cái bên
trong, chấp cái Có tuy nó chỉ là đằng ngọn, bỏ đi cái Không dù nó
chính là đằng gốc. Ngƣời đời ai có thể vẹn toàn đƣợc mọi việc,
chúng ta chỉ nên gắng sức giữ vẹn luân thƣờng, tận lực tu Tịnh
nghiệp là đƣợc, cần gì phải bận tâm đến điều gì khác nữa!
      * Trộm nghĩ Nho lễ coi trọng cúng tế Xuân Thu, Thích giáo
đặt nặng việc quanh năm truy tiến. Nghĩ đến cái ân nguồn nƣớc,
cội cây mà thực hành cẩn thận, chu đáo việc truy tiến thì thế
gian, xuất thế gian nào có gián đoạn chi?
2. Luận về giáo dục gia đình
      * Gia đình muốn hƣng thạnh, phải bắt đầu từ gia quy nghiêm
chỉnh. Gia đình gần nhƣ tan nát là do từ đầu đã bỏ phế gia quy.
Muốn con em thành ngƣời, phải bắt đầu từ hành vi, việc làm của
mình sao cho đúng phép tắc hòng làm gƣơng cho con em. Lý
nhất định phải nhƣ thế! Nhƣ nay muốn bắt đầu [giáo dục con em]                                                                             305
ít tốn công sức nhất, trƣớc hết hãy nói về nhân quả
báo ứng khiến chúng tập thành tánh, mới hòng mai sau chúng
chẳng đến nỗi làm càn quá đáng. Đây thật đúng là diệu pháp bậc
nhất để tề gia, dạy con, khiến đời yên, dân hiền vậy.
      * Con em có nên ngƣời hay chăng chỉ là do giáo dục trong
gia đình. Phàm đối với con cái, ngay từ nhỏ phải dạy chúng hiếu,
đễ, trung, tín, cần kiệm, ôn hòa, cung kính, để khi chúng lớn lên
đi học đọc sách mới có nền tảng để hƣởng đƣợc lợi ích. Nếu
nhƣ từ nhỏ đã dung túng thành thói, hãy khoan kể đến những
đứa không thiên tƣ, không đƣợc học hành đàng hoàng; ngay cả
những đứa có thiên tƣ, có học hành đàng hoàng cũng chỉ thành
thợ gọt giũa chữ nghĩa, thành kẻ bại hoại trong cửa Nho mà thôi!
Đời có kẻ tài ngang Bắc Đẩu, học rộng năm xe, nhƣng hành vi,
việc làm toàn là ỷ mình thông minh, độc hại sanh linh, hủy diệt
đạo nghĩa. Những hạng ấy vốn là do từ thuở đầu đã thiếu sự
giáo dục trong gia đình mà nên nỗi. Văn Vƣơng nghiêm khắc kể
từ vợ góa cho đến anh em để giữ gìn gia đình, đất nƣớc; cũng
nhƣ sách Đại Học nói muốn trị thiên hạ, quốc gia phải bắt đầu từ
“cách vật trí tri, thành ý chánh tâm” đều vì cùng một mục đích.
Đấy chính là bí quyết vô thƣợng để dạy con ngƣời trở thành
thánh, thành Hiền của đạo Nho. Bỏ điều này, cầu lấy điều khác
thì đều toàn là tìm tòi nơi cái ngọn vậy!
      * Với tình hình hiện tại, ngay khi con cái biết nói, nhận biết sự
vật, trong nhà hãy dạy con nhận biết mặt chữ trƣớc. Mỗi tờ giấy
chỉ viết một chữ, đừng viết cả hai mặt. Hạn định mỗi ngày mấy
chữ, mỗi ngày học thuộc mặt những chữ đó xong lại bắt con
nhận mặt toàn bộ các chữ đã học một hai lƣợt nữa. Chƣa hơn
một năm, con sẽ biết đƣợc nhiều chữ. Sau này lúc con đọc sách,                                                                             306
phàm đọc qua chữ nào đều nhận biết đƣợc cả,
chẳng đến nỗi có cái tệ miệng chỉ đọc làu làu [nhƣng vẫn không
biết chữ].
Tùy theo năng lực của con, sai con làm những việc lặt vặt để tập
tánh siêng năng. Đừng cho con ăn uống, mặc quần áo quá sang
trọng. Phàm những khi con phí phạm ngũ cốc và làm hƣ hỏng
vật gì, chẳng cần biết vật ấy quý giá hay tầm thƣờng thế nào,
phải bảo cho con biết những vật ấy chế tạo chẳng dễ, cũng nhƣ
nói đến những nghĩa lý bị tổn phƣớc, giảm thọ v.v... Nếu con vẫn
vậy, nhất định phải trách phạt, quyết chẳng bỏ qua. Có nhƣ thế,
con sẽ tự kiệm ƣớc, trọn chẳng đến nỗi xa xỉ, phung phí.
Khi con đọc đƣợc sách, bảo con hãy đọc kỹ các sách Âm Chất
Văn, Cảm Ứng v.v... thuận theo từng mặt chữ mà giảng giải. Hễ
hành vi hằng ngày của con là tốt lành, bèn chỉ cho con thấy điều
thiện trong hai sách ấy để khen ngợi. Nếu hành vi nào không tốt,
bèn lấy những điều bất thiện trong hai sách ấy để quở trách. Nhƣ
vàng đổ khuôn, nhƣ nƣớc có đê ngăn, lẽ nào chẳng thành vật
dụng, vẫn cứ chảy lung tung nhƣ cũ ƣ? Con ngƣời có đúng là
ngƣời hay không là do từ nền tảng ấy. Chẳng giảng đến điều ấy,
lại muốn trở thành con ngƣời vẹn toàn thì họa chăng thiên tƣ
phải hơn cả Mạnh Tử!
Đến tuổi đi học, đừng cho con vào học ngay những trƣờng hiện
thời đang mở, hãy nên cho con học ở nhà vài năm trƣớc đã. Mời
một vị thầy học vấn, đức hạnh đều tốt đẹp, tin sâu nhân quả để
dạy con học Tứ Thƣ, Ngũ Kinh. Đợi đến khi con học đƣợc mấy
phần, văn tự lẫn đạo lý chẳng bị lầm lạc bởi những tà thuyết, tục
luận, mới cho con vào học những trƣờng hiện thời để mở rộng
tầm mắt, biết suy xét việc, chẳng đến nỗi hành động trái thời,
không cách gì tiến lên đƣợc!
Làm đƣợc nhƣ thế, đứa con nào có thiên tƣ sẽ tự thành đạt, đứa
không thiên tƣ cũng thành ngƣời lƣơng thiện. Thật sự ra, những                                                                             307
điều lão tăng hay nói chẳng ngoài những chuyện
“riêng mình thiện, khiến ngƣời khác cũng thiện, tự lợi, lợi ngƣời”!
      * Dạy con cái phải bắt đầu từ căn bản. Cái căn bản vừa nói
đó chính là hiếu với cha mẹ, giúp đỡ mọi ngƣời, nhẫn nhục,
chuyên gắng, dùng chính thân mình dạy dỗ ngƣời khác, nêu
gƣơng đạo đức. Nhƣ vàng hay đồng đã nung chảy, nghiêng rót
vào khuôn, khuôn ngay sẽ ra hình ngay, khuôn méo thành hình
méo. Chƣa đổ vào khuôn đã biết trƣớc là sẽ lớn, nhỏ, dày,
mỏng, huống hồ là khi đúc xong.
Gần đây, nhân tình phần nhiều chẳng biết đến điều ấy, thế nên
những con em có thiên tƣ đa phần ngông cuồng, bồng bột, kẻ
không thiên tƣ lại ƣơng bƣớng, hèn kém. Đó là vì lúc nhỏ chẳng
uốn vào khuôn phép, nhƣ nƣớc đồng sôi đổ vào khuôn hỏng ắt
phải thành đồ hƣ. Kim loại vốn chỉ một, nhƣng đồ đúc ra sai khác
nhau một trời một vực, tiếc thay!
Phật lấy Vô Ngã làm giáo. Hiện tại, những kẻ có chút tri kiến
thƣờng nhìn lên tận trời, cứ tƣởng chỉ có nghĩa lý văn tự mới là
Phật pháp, chẳng biết tu thân, tịnh tâm, diệt trừ ngã tƣớng, tận
lực tu Định - Huệ ngõ hầu đoạn Hoặc chứng Chân là Phật pháp!
      * Trộm nghĩ: cha mẹ yêu con không gì chẳng quan tâm đến,
chỉ trừ khi bị bệnh tật, hoạn nạn mới bớt quan tâm. Con trẻ vừa
biết nói liền dạy nó niệm danh hiệu nam mô A Di Đà Phật và nam
mô Quán Thế Âm Bồ Tát, khiến cho những điều kém xấu đã vun
bồi trong đời trƣớc của nó nay nhờ thiện lực này ắt tai họa sẽ
tiêu ngay khi chƣa nảy mầm, đƣợc phƣớc nhƣng chẳng biết,
không còn phải lo gì đến các hiểm nạn tai ƣơng, bệnh tật, khổ sở
v.v...                                                                            308
Khi con vừa hiểu biết đôi chút, liền dạy con trung thứ,
nhân từ, kiêng giết, phóng sanh và những sự tích nhân quả ba
đời rành rành ngõ hầu tập thành tánh, ngay từ lúc còn thơ đã
chẳng dám giết hại tàn nhẫn các loài trùng kiến nhỏ nhoi, lớn lên
quyết chẳng đến nỗi làm điều gian ác, khiến cha mẹ, tổ tiên
mang nhục lây!
      * Con em có tài năng, nếu đƣợc khéo giáo hóa sẽ dễ trở
thành ngƣời chánh trực; không khéo giáo hóa đa phần sẽ thành
hạng bại hoại. Ngày nay dân không lẽ sống, nƣớc nhà lắm nỗi
gian nan, mấy phen chao đảo đều là do những kẻ có tài năng
nhƣng không đƣợc khéo dạy khiến mầm họa đƣợc ƣơm từ từ.
Ngƣời không có tài, đƣơng nhiên phải dạy họ thành thực; với
ngƣời có tài càng phải nên dạy họ thành thực.
Thế nhƣng thành thực vẫn có thể là giả vờ. Thoạt đầu, hãy
thƣờng nên dạy dỗ về nhân quả báo ứng và lẽ “con ngƣời khởi
tâm động niệm gì, mỗi mỗi điều thiên địa quỷ thần đều biết đều
hay cả”, khuyên con phải đọc kỹ các sách Âm Chất Văn, Thái
Thƣợng Cảm Ứng, đừng cho rằng chúng không phải là sách
Phật rồi xem thƣờng. Ấy là vì phàm phu tâm lƣợng thiển cận,
nếu dùng những lý xa xôi lớn lao để giảng nói sẽ khó thể lãnh hội
đƣợc. Những sách ấy dù già hay trẻ nghe đến đều đƣợc lợi ích
cả, huống hồ là những ngƣời lấy việc chú trọng điều thiện làm
thầy ƣ?
Với tử thi, phân nhơ, rắn độc mà đức Phật còn dạy ngƣời quán
để chứng A La Hán, số đó nhiều hơn hằng hà sa; huống hồ là
những lời lẽ thiết thực, tồn dƣỡng, cảnh tỉnh này [há nên xem
thƣờng] ƣ?                                                                            309
      * Còn thuộc địa vị phàm phu chẳng thể không
bệnh đƣợc, nhƣng cũng chẳng nên bỏ mặc chẳng trị. Cách trị
bệnh tốn ít sức nhất lại đƣợc lợi ích nhiều nhất là lấy bệnh làm
thuốc. Lấy bệnh làm thuốc nghĩa là chẳng để bệnh lụy mình.
Chẳng hạn nhƣ cái bệnh yêu mến con cái quyết chẳng thể đoạn
đƣợc thì chẳng ngại gì dùng ngay sự yêu mến đó làm cái  gốc
khiến cho con cái khi sống làm ngƣời chân chánh, chết đi sanh
về Tịnh Độ. Yêu con nhƣ vậy là biến phàm tình thế gian thành
thánh quả xuất thế gian. Nếu chẳng khéo sử dụng lòng Ái, mặc
lòng nuông chiều con thì còn hơn giết chết con cả trăm ngàn vạn
ức vô lƣợng vô biên lần! Nƣớc nhà diệt vong, nhân dân đồ thán
đều là do những kẻ cha mẹ chẳng hiểu rõ sự tình un đúc nên,
chẳng đáng buồn ƣ?
      * Muốn cho con cháu chẳng hƣớng theo nẻo bại hoại, cùng
nhau noi theo chánh đạo thì nên lấy các sách Cảm Ứng Thiên
Vựng Biên, Âm Chất Văn Quảng Nghĩa làm kim chỉ nam. Dù
những làn sóng thế tục xấu ác có bủa ngập trời, mây đen phủ kín
mặt nhật, cũng chẳng đến nỗi chẳng biết hƣớng về đâu, chìm
đắm mất cả.
Nếu không, dù gió lặng, sóng yên, mặt trời soi tỏ cũng khó bảo
đảm không có nƣớc xoáy ngầm, vào đó liền bị đắm chìm, huống
hồ trọn chẳng có chuyện gió yên, sóng lặng, mặt trời soi thấy tỏ
thế đạo nhân tâm! Phải biết nội dung hai chữ Âm Đức rất rộng.
Thành tựu con em ngƣời ta, khiến chúng thành thánh thành hiền,
cố nhiên thuộc về Âm Đức. Thành tựu con em mình khiến chúng
thành thánh, thành hiền cũng là âm đức. Ngƣợc lại, khiến con
em ngƣời ta bị lầm lạc đƣơng nhiên là tổn âm đức; khiến con em
mình lầm lạc cũng tổn âm đức. Nếu vừa đủ khả năng lẫn đủ sức
thì may mắn nào hơn!
Nếu không, đối với những hành vi, ngôn ngữ hằng ngày trong gia
đình, phải lấy việc thành thánh, thành hiền làm đầu, đấy chính là                                                                             310
dùng Tục để tu Chân. Nay cƣ sĩ dùng thân mình
thuyết pháp, xin hãy đem ý này thiết tha bảo cùng bè bạn và hết
thảy ngƣời quen biết thì cũng là một cách để tự lập, lập ngƣời, tự
lợi, lợi tha vậy!
      * Nhà Châu mở nƣớc là do ba bà Thái tạo lập nền tảng, Văn
Vƣơng thành thánh là nhờ thai giáo. Do vậy biết rằng: thế gian
không có bậc thánh, bậc hiền là do đời thiếu những ngƣời mẹ
thánh hiền mà nên nỗi! Nếu nhƣ bà mẹ nào cũng giống nhƣ ba
bà Thái, dù con họ chẳng thành Vƣơng Quý, Văn Vƣơng, Châu
Công, cũng hiếm đứa làm bậy, gian ngoa. Thế nhƣng ngƣời đời
chỉ biết yêu thƣơng con cái, mặc tình nuông chiều thành thói,
chẳng biết làm gƣơng cho con. Đây chính là một điều đại bất
hạnh của nƣớc ta.
Con ngƣời lúc còn nhỏ thƣờng gần bên mẹ, nên chịu ảnh hƣởng
của mẹ rất sâu. Con gái ngày hôm nay sẽ là mẹ ngƣời khác
trong mai sau. Muốn vun đắp quốc gia, phải lấy việc dạy dỗ con
gái làm nhiệm vụ cấp bách. Đừng bảo: “Con gái là con ngƣời ta,
cần gì phải mất công lo lắng?” Phải biết rằng: Vì trời đất mà tài
bồi một kẻ lƣơng dân biết giữ phận, không công đức nào lớn
hơn. Huống hồ nếu một cô gái đức hạnh vẹn toàn, con cái cô ta
ắt sẽ noi theo nề nếp tốt đẹp đó, còn gì vẻ vang hơn?
Vả nữa, con dâu, cháu dâu mình chẳng phải là con gái nhà
ngƣời đó sao? Muốn cho đất nƣớc quật cƣờng, không có hiền
mẫu thì không có cách nào hỗ trợ đƣợc cả. Đời không mẹ hiền
thì chẳng những nƣớc không dân lành, nhà không con ngoan,
mà ngay cả những gã thầy chùa bại hoại sống bám vào Phật
trong Phật pháp thảy đều do những bà mẹ bất hảo sanh ra. Nếu
mẹ thật sự hiền, con sẽ trọn chẳng đến nỗi đớn hèn nhƣ thế.
Tiếc thay!
                                                                                  311
      * Gia quyến của ông rất đông, khi các cô em dâu,
em gái, con gái v.v... của ông đi học về, hãy đem những sự
những nhân quả báo ứng và lợi ích của việc niệm Phật bàn luận
cùng họ, ngõ hầu ai nấy đều biết “trong tâm mình đã tự biết thì
tâm sẽ tƣơng thông thiên địa quỷ thần cũng nhƣ sẽ tƣơng thông
với từ phụ Di Đà”. Do vậy, họ sẽ đoạn trừ ác niệm, tăng trƣởng
chánh tín, ngõ hầu hiện tại đáng làm vợ hiền, tƣơng lai xứng làm
hiền mẫu khiến cho [nết tốt] đó truyền lan trong làng xóm, đấy
cũng là pháp luân căn bản để bình trị thiên hạ quốc gia.
Bồ Tát thuận theo thế tục lợi sanh, chẳng bày vẽ phong cách
riêng, đối bệnh cấp thuốc khiến cho ai nấy đều đúng đƣờng về
nhà mới thôi. Hiện tại, các phụ nữ trong chốn học đƣờng đa
phần lầm lạc sanh dị tâm, toan nắm lấy chánh quyền, chẳng biết
tự giữ bổn phận giúp chồng dạy con chính là căn bản khiến thiên
hạ thái bình. Bởi lẽ vƣơng nghiệp nhà Chu bắt nguồn từ ba bà
Thái. Ba bà Thái Khƣơng, Thái Nhậm, Thái Tự là những bậc
thánh trong hàng nữ nhân, họ chỉ chú trọng vào việc dạy con
ngay từ lúc còn trong thai để ngầm giúp chồng. Ngƣời đời nay
chẳng học theo gƣơng đấy, những điều họ toan tính đều là
những mƣu mô tai ác khiến thiên hạ loạn lạc biết là chừng nào!  
      * Ngƣời sanh trong thế gian phải có thiện ác phụ trợ mới
hòng thành tựu đƣợc. Dù là bậc thánh trời sanh, vẫn cần phải có
hiền mẫu, hiền thê phụ trợ đạo đức, huống hồ là những kẻ kém
cỏi hơn ƣ? Do bà Thái Nhậm dạy con từ thuở trong thai nên Văn
Vƣơng sanh ra đã có thánh đức. Vì thế kinh Thi khen ngợi
chuyện ngài nghiêm khắc từ vợ góa cho đến anh em để giữ yên
gia đình, đất nƣớc. Đấy chỉ là nói riêng về Văn Vƣơng, chứ nếu
luận về bà Thái Tự, cố nhiên đức hạnh của bà cũng bổ trợ cho
đƣờng lối đạo đức của Văn Vƣơng, nhƣ hai ngọn đèn cùng chiếu
càng thấy sáng rỡ, hai tay cùng rửa mới đƣợc sạch sẽ. Cứ xem
những lời ông Tƣ Trai khen ngợi tiếng thơm của các bà Thái
Nhậm, Thái Tự ắt sẽ thấy rõ.                                                                            312
Vì thế mới nói: đời ít ngƣời hiền là do đời thiếu mẹ
hiền và vợ hiền vậy! Đó là vì vợ hiền sẽ ngầm giúp chồng, mẹ
hiền dạy con cái ngay từ lúc còn trong thai. Huống hồ mấy năm
đầu tiên, luôn ở bên mẹ, đƣợc uốn nắn theo khuôn mẫu tốt đẹp,
thƣờng đƣợc răn dạy, tánh tình sẽ ngầm chuyển biến, chẳng
mong đợi mà đƣợc vậy.
Tôi thƣờng bảo: “Dạy con gái là cái gốc để tề gia trị quốc”, lại
cũng thƣờng nói: “Quyền trị quốc bình thiên hạ, nữ nhân đã nắm
giữ quá nửa!” chính là ý này. Bởi lẽ, kẻ có thiên tƣ cao đƣợc mẹ
hiền un đúc, đƣợc vợ hiền giúp đỡ, ắt sẽ trở nên ý thành, tâm
chánh, rạng đức sáng, chuyên chí nơi việc lành, lúc cùng thì
riêng mình thiện, lúc đạt thì khiến thiên hạ cùng thiện. Dù là kẻ
thiên tƣ bình thƣờng cũng vẫn có thể tuân thủ quy củ, một bề giữ
phận lƣơng dân, trọn chẳng đến nỗi vƣợt lý trái phận, làm điều
sai quấy, gian dối, khiến cha mẹ nhục nhã, gây hại cho đời.
Tiếc cho ngƣời đời mơ màng chẳng dạy con gái tận hết luân
thƣờng, giữ bổn phận, hằng ngày chỉ lo trau chuốt, chẳng màng
đến chuyện gì khác. Mai kia làm vợ ngƣời ta, làm mẹ ngƣời ta,
chẳng những chẳng thể giúp chồng dạy con trở thành thiện sĩ,
trái lại còn dạy con hóa thành kẻ ác. Bởi vậy mới nói: Đối với con
gái, phải dạy họ chú tâm đến việc dạy dỗ con cái [mai sau].
Những câu tôi đã nói nhƣ “dạy con gái là cái gốc để tề gia trị
quốc” và “quyền trị quốc bình thiên hạ, nữ nhân chiếm quá nửa”
chính là lời chân thật.
Gần đây, học vấn phát triển mạnh mẽ, phụ nữ đi học đa phần bị
những giáo viên chẳng biết dạy từ cội gốc làm cho lầm lạc. Do
đó, họ chẳng coi trọng việc tận hết luân thƣờng, giữ bổn phận,
yên cửa yên nhà, giúp chồng dạy con. Ai nấy đều muốn nắm lấy
chánh quyền, làm trƣởng quan, toan tính quá phận, tập thói
cuồng vọng, thật đáng than vậy! Nếu nhƣ có kẻ làm đầu cực lực
đề xƣớng việc vun bồi trong gia đình khiến cho việc tu thân, tề
gia, trị quốc, bình thiên hạ tự nhiên đƣợc hữu hiệu thì may mắn
thay!                                                                            313
      * Phận làm con cố nhiên phải tỏ bày đức hạnh của cha mẹ.
Để tỏ bày đức ấy phải chú trọng đến việc thân mình tự hành, bản
thân phải khắc kỷ giữ lễ, ngăn tà, giữ lòng thành, biết sai liền
sửa, thấy điều nghĩa bèn làm, hiểu nhân rõ quả, kiêng giết,
phóng sanh, đừng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện,
sanh Tín, phát nguyện trì danh hiệu Phật, tự hành, dạy ngƣời
cùng sanh Tịnh Độ.
Làm đƣợc nhƣ vậy, dù ngƣời ta chẳng biết đến đức hạnh của
cha mẹ, nhƣng do ngƣỡng mộ đức hạnh của ngƣời ấy cũng sẽ
ngƣỡng mộ lây cả đức hạnh của cha mẹ, tổ tiên kẻ đó; cho rằng
ông bà cha mẹ phải ngầm tu đức hạnh đã lâu nên mới có đƣợc
con cháu nối tiếp nhƣ thế. Nếu không, dù cha mẹ, tổ tông có đức
tốt ai nấy đều biết, nhƣng con cái không ra gì, ngƣời ta ắt sẽ đâm
ngờ cha mẹ, tổ tông tuy có đức tốt, biết đâu lại có những điều ác
ẩn giấu. Nếu không, sao từ cửa đức hạnh tốt đẹp lại nẩy sanh
hạng con cháu tệ hại đến thế?
Vì thế, phải biết rằng: lập thân hành đạo chính là biểu dƣơng đức
hạnh của cha mẹ, tổ tông. Làm con phải chú trọng lòng kính, cẩn
thận, dè dặt, tận lực thực hành nhƣ thế mới mong khỏi làm nhục
lây bậc sanh ra mình!
      * Đời có hiền mẫu mới có hiền nhân. Các thánh mẫu đời xƣa
chú trọng thai giáo để un đúc bẩm chất con cái ngay từ thuở đầu,
những mong tập quen thành tánh. Thế gian gọi nữ nhân là Thái
Thái là vì ba vị thánh nữ Thái Khƣơng, Thái Nhậm, Thái Tự bà
nào cũng giúp chồng dạy con, mở mang vƣơng nghiệp tám trăm
năm. Cho nên mới dùng chữ Thái Thái để gọi nữ nhân. Quang
tôi thƣờng nói: “Quyền bình trị thiên hạ, nữ nhân nắm hơn quá
nửa”. Tôi còn thƣờng nói: “Dạy con gái là cái gốc để tề gia trị
quốc” hàm ý: tận hết đạo làm vợ, giúp chồng dạy con.                                                                            314
Chẳng nhƣ nữ lƣu ngày nay, đa phần chẳng giữ bổn
phận, vọng động muốn nắm lấy chánh quyền, làm đại sự, chẳng
biết vun bồi ngay từ trong gia đình. Đấy đúng là: gom sắt cả chín
châu vạn quốc cũng chẳng thể đúc nổi lỗi lầm lớn ấy. Bởi vậy,
thế đạo nhân tâm ngày càng suy đồi, tai trời vạ ngƣời thấy xảy ra
liên miên. Tuy những tai vạ ấy do ác nghiệp đồng phận của
chúng sanh cảm thành, nhƣng thật ra cũng là do đánh mất sự
giáo dục trong gia đình mà nên nỗi.
Vì thế, kẻ có thiên tƣ quen thói cuồng vọng, ngƣời không thiên tƣ
thành ra bƣớng bỉnh, sàm sỡ. Nếu nhƣ ai nấy đều đƣợc mẹ hiền
uốn nắn thì ngƣời ngƣời đều thành thiện sĩ, cùng thì riêng mình
thiện, đạt thì khiến ngƣời khác cùng thiện; sao đến nỗi trên
không đạo để noi, dƣới không pháp để giữ, thói tệ nảy sanh trăm
mối, dân không lẽ sống vậy!

      * Chỉ cầu sao chẳng đói, chẳng rét, mơ chi phát tài cự vạn.
Để vàng ròng đầy ắp lại cho con, chẳng bằng dạy con một quyển
kinh. Tổ đức bị sứt mẻ mới đáng chết thẹn, chứ tổ nghiệp bị sứt
mẻ nào có thƣơng tổn chi!
      * Con em nhà phú quý đa phần chẳng thành ngƣời, nguyên
do là thƣơng con nhƣng chẳng hiểu đạo: hoặc chỉ chú trọng đến
tiền tài, hoặc chỉ lo cho con ăn mặc sang trọng. Tiền xài mặc sức
ắt sẽ đến nỗi ăn bậy thành bệnh. Nếu cho đứa này giữ tiền để
sanh lợi thì những đứa kia chẳng đƣợc giữ sẽ oán hờn cha mẹ,
sanh lòng đố kỵ với anh, em, chị em nào đƣợc giữ tiền. Đấy đều
chẳng phải là cách để dạy con hiếu đễ. Nếu con gái có tiền, khi
xuất giá ắt sẽ cậy tiền tự kiêu, hoặc khinh thƣờng chồng, hoặc
chẳng hiểu rõ sự việc, đem tiền giúp chồng làm việc quấy.                                                                            315
Muốn cho con cái thành hiền nhân thì hãy nên bồi
phƣớc, chớ nên tích cóp tiền tài. Của cải là gốc họa. Các vị từng
thấy không ít ngƣời tay trắng làm nên đều là do không tiền tự
mình siêng gắng mà đƣợc, nhƣng nhà đại phú gia chẳng mấy
chốc gia sản trống rỗng. Vì thế cổ nhân nói: “Để cho con một
rƣơng đầy vàng, chẳng bằng để cho con một quyển sách”. Đọc
sách đƣợc thì đọc, không đọc đƣợc thì làm nghề nông, hoặc
buôn bán, ai có nghề nấy để làm cái vốn lập thân nuôi gia đình.
Con gái nếu có tiền lại hiểu đạo lý, lẽ cố nhiên tiền sẽ thành cái
vốn để trợ đạo. Nếu chẳng hiểu đạo lý, tiền sẽ hại cô đó, hại luôn
chàng rể, hại lây cả đến cháu trai, cháu gái!
      * Con ngƣời một đời thành bại đều là do sự tài bồi, tập tành
dần dần lúc nhỏ mà ra. Ngƣơi đã thành thiếu niên phải biết tốt
xấu, vạn phần chẳng đƣợc học theo thói đời, hãy nên học hiếu,
học đễ, học trung hậu, thành thực. Đang lúc tuổi trẻ mạnh mẽ,
cƣờng tráng, hãy nỗ lực đọc sách. Phàm đọc qua sách nào, phải
nghĩ xem những điều nào sách dạy là trọng yếu đối với con
ngƣời thì thực hành theo đó; chứ nếu không chỉ là cố ngốn sách
cho nhiều.
Nếu những điều dạy trong các sách nói trên chẳng dễ lãnh hội thì
những điều nói trong các sách nhƣ Âm Chất Văn, Cảm Ứng
Thiên v.v... đều là nói trực tiếp, dễ lãnh hội; hãy nên thƣờng đọc,
thƣờng nghiền ngẫm, sửa lỗi hƣớng thiện. Lúc nhàn hạ, rất nên
niệm A Di Đà Phật và Quán Thế Âm Bồ Tát để mong tiêu trừ
nghiệp chƣớng, tăng trƣởng phƣớc huệ, đừng nghĩ là khổ sở.
Cổ nhân nói: “Thiếu tráng bất nỗ lực, lão nhân đồ thƣơng bi” (Trẻ
mạnh chẳng nỗ lực, già cả luống sầu thƣơng!) Lúc này bỏ phí
quang âm, về sau dù có nỗ lực cũng khó thành tựu! Bởi lẽ, tuổi
trẻ đã qua, trí nhớ cùn quá nửa, học cái gì cũng phải dùng sức
nhiều nhƣng hiệu quả lại ít.                                                                            316
Thứ nhất là phải làm ngƣời tốt, thấy ngƣời hiền
mong đƣợc bằng, thấy kẻ chẳng hiền trong lòng tự cảnh tỉnh,
      Thứ hai là phải biết nhân quả báo ứng, nhất cử nhất động
đừng mặc tình khoái ý, mà phải nghĩ việc này có lợi ích đối với
ta, với ngƣời thân, ngƣời ngoài hay chăng. Chẳng những làm
việc gì cũng nhƣ thế mà khi khởi tâm động niệm cũng phải
thƣờng nhƣ thế. Khởi tâm lành ắt có công đức, khởi tâm xấu ắt
mắc tội lỗi. Muốn đƣợc báo tốt thì phải giữ tâm tốt. Nói lời lành,
làm việc lành, lợi ngƣời lẫn vật, chẳng làm hại mình lẫn ngƣời thì
mới nên. Nếu chẳng vậy, sao hƣởng đƣợc báo tốt?
Ví nhƣ đem hình xấu đặt trƣớc gƣơng sáng, quyết định chẳng
thể hiện bóng đẹp đẽ đƣợc. Ảnh đƣợc hiện so với hình xấu, trọn
chẳng khác gì. Nếu ngƣơi quả thật hiểu sâu nghĩa này, tƣơng lai
nhất định thành một bậc chánh nhân quân tử, khiến hết thảy mọi
ngƣời đều tôn trọng, yêu kính. Mong hãy suy nghĩ cẩn thận, nghĩ
ngợi chín chắn thì thật là may mắn lắm!
3. Khuyên nên tại gia hoằng pháp
      * Nhƣ Lai thuyết pháp hằng thuận chúng sanh. Gặp cha nói
Từ, gặp con nói Hiếu, ngoài tận hết luân thƣờng, trong tiêu  trừ
tình lự. Nếu nhƣ khôi phục đƣợc chân tâm vốn có thì gọi là Phật
đệ tử, chứ nào có phải vì đầu tóc mà luận đâu!
Huống nữa, quý hƣơng (làng) tuốt trong núi sâu, ngƣời biết pháp
ít ỏi. Kẻ cao minh vì chẳng thông ngôn ngữ nên đều chẳng đến
đấy. Hãy cậy vào lòng thành ấy, kiệt lực học đạo, tu hiếu đễ, ngõ
hầu cảm hóa xóm giềng. Trai giới thành lập, giết trộm dâm liền
tiêu.                                                                            317
Nghiên cứu kinh luận Tịnh Độ ắt hiểu yếu đạo xuất
thế. Thọ trì An Sĩ Toàn Thƣ sẽ hiểu khuôn mẫu tốt lành khiến
cuộc đời thuần dịu. Dùng pháp môn Tịnh Độ khuyên dụ cha mẹ,
dùng pháp môn Tịnh Độ dạy con và ngƣời thân bè bạn, chính là
vì sanh tử đại sự đau đáu lo cho thân sau.
Chẳng cần phải chọn riêng một nơi mà gia đình liền thành đạo
tràng, cha mẹ, anh em, vợ con, bằng hữu, thân thích, ngƣời
quen biết đều thành pháp quyến. Tự hành, dạy ngƣời, miệng
khuyên, thân siêng gắng khiến cho mọi ngƣời cùng quy hƣớng
Tịnh Độ, đều thoát khổ luân, đáng gọi là bậc cao tăng còn để tóc,
là đệ tử Phật tại gia vậy!
      * Hai vị lệnh thân hiện còn sống thì hãy nên dùng những cảm
ứng, sự tích của pháp môn Tịnh Độ để thƣờng giảng nói khiến
họ phát tâm hoan hỷ, tin nhận phụng hành. Nếu chẳng coi đấy là
hiếu, dù có tận sức làm hết những điều thế gian coi là hiếu, rốt
cuộc có ích lợi gì cho cha mẹ đâu?
Vua Đại Vũ là đại thánh nhân, vẫn chẳng cứu đƣợc hồn [cha là]
Cổn hóa thành Hoàng Nai (chữ Năng đọc thành Nai, có nghĩa là
con ba ba có ba chân) sống trong Vũ Uyên. Thấy vậy chẳng nên
kinh sợ, tỉnh ngộ mong dẫn dắt thần thức cha mẹ cao dự hải hội,
thân cận Di Đà hòng chứng đƣợc vô lƣợng quang thọ vốn có sẵn
trong tâm ƣ?
Cƣ sĩ Chí Liên dù giỏi khổ hạnh, nhƣng chỉ e với tông chỉ Tịnh
Độ vẫn còn có điều chẳng biết, hoặc có tâm cầu chuyển nữ thân
hoặc mong sanh vào chốn an vui trong đƣờng trời ngƣời nên
chẳng thể buông xuống triệt để đƣợc, đến nỗi vô biên lợi ích bị
mất cả vào điều vui thế gian nhỏ nhặt. Phải nên thƣờng giảng nói
khiến cho bà ấy chí hƣớng quyết định. Khuyên một chúng sanh
vãng sanh Tịnh Độ chính là thành tựu cho một chúng sanh thành                                                                             318
Phật. Thành Phật rồi ắt độ vô lƣợng chúng sanh,
công ấy bắt đầu từ ta, công đức lợi ích ấy há nghĩ bàn nổi
chăng?
Tự mình đã tu Tịnh Độ, lại còn phải đem pháp môn này bảo khắp
với mọi ngƣời: anh em, thê thiếp, con cái, bảo họ [các ngƣời] lẽ
nào chẳng chịu phát tâm, đành bỏ mất lợi ích lớn lao này ƣ? Nếu
thiên tánh của họ gần với pháp môn này thì còn gì tốt hơn! Nếu
tánh họ hơi xa, giồi mài mãi (1) cũng sẽ nhiễm từ từ, dù xa cũng
thành gần. Đấy đáng gọi là lòng yêu mến sâu xa, đáng gọi là lòng
từ rộng lớn. Bỏ tấm lòng từ ái này chỉ đáng gọi là hữu danh vô
thật!
      * Thái phu nhân niên kỷ đã tám mƣơi ba, phải thƣờng khuyến
dụ bà tín nguyện niệm Phật. Nếu bảo bà suốt ngày niệm Phật chỉ
e bà làm không nổi. Trƣớc đây đã toan lập cách trợ niệm ngay
khi còn sống, nhƣng nghĩ chƣa ra. [Đến khi] Trấn Thủ Sứ Vƣơng
Duyệt Sơn đƣa mẹ lên thăm núi, [tôi thấy] quyến thuộc của ông
ta rất đông bèn tìm ra một cách trợ niệm rất tuyệt diệu, đã trình
bày sơ lƣợc với ông ta, nay sẽ thƣa cùng các hạ. Dù các hạ
chẳng thực hành đƣợc cũng chẳng đến nỗi coi thƣờng bỏ qua,
đó cũng là đạo tự lợi lợi tha vậy.
Trong quyến thuộc của các hạ, các ông con trai ai nấy đều có
chức nghiệp, cố nhiên khó thể luôn luôn làm đƣợc. Nhƣng các
bà con dâu thì vô sự thanh nhàn, những kẻ hầu gái nhƣ các bà
vú v.v... ắt chẳng có việc gì quan trọng, ông nên bảo họ căn theo
đồng hồ suốt ngày ở quanh thái phu nhân lớn tiếng niệm Phật
chừng nửa giờ. Hết lƣợt bèn đổi phiên, cả ngày chẳng dứt tiếng
niệm Phật.
Thái phu nhân nếu niệm theo đƣợc thì càng tốt; bằng không thì
chỉ nhiếp tâm lắng nghe suốt ngày, thƣờng chẳng lìa Phật. Các
ngƣời khác cũng chẳng mất sức, bởi lẽ cả ngày bất quá chỉ phải                                                                             319
niệm một lƣợt hay hai lƣợt, nhƣng thời gian cách
khoảng giữa hai lƣợt cũng khá dài. Bọn họ không có chuyện gì
quan trọng, bèn nhờ đấy mà dốc tận lòng hiếu, gieo thiện căn;
ngay đến bọn hầu gái cũng nhờ vào nhân này, gieo duyên xuất ly
sanh tử.
Từ nay trở đi, lấy cách này làm lệ thƣờng; dù thái phu nhân tuổi
thọ quá cao cũng chẳng đƣợc nửa chừng bỏ dở. Pháp này lợi
ích chẳng thể nghĩ bàn. Phàm ai có tín tâm muốn thành tựu đạo
nghiệp vãng sanh cho cha mẹ thì hãy nên khuyên họ làm theo
cách này.
      * Mẹ ông tuổi cao nhƣng với pháp môn Tịnh Độ chƣa thể
hiểu đúng, tu trì, hãy thƣờng nói với mẹ về nỗi khổ luân hồi trong
sáu đƣờng, sự vui trong thế giới Cực Lạc. Ngƣời sanh trong thế
gian siêu thăng cực khó, đọa lạc cực dễ. Nếu chẳng vãng sanh
Tây Phƣơng, đừng nói là nhân đạo chẳng đáng nƣơng cậy, dù
sanh lên trời phƣớc thọ thật lâu, một khi phƣớc lực đã tận vẫn
phải đọa lạc trong nhân gian nhƣ cũ và phải thọ khổ trong tam đồ
ác đạo.
Nếu chẳng biết Phật pháp thì chẳng biết làm sao đƣợc; còn nhƣ
nay đã hiểu đại lƣợc Phật pháp, há đành nhƣờng mối đại lợi ích
này cho ngƣời khác, tự mình cam tâm luân hồi trong lục đạo,
thoạt ra thoạt vào, vĩnh viễn không có ngày giải thoát ƣ? Cứ nói
nhƣ vậy, may ra mẹ sẽ phát khởi đƣợc túc thế thiện căn, tin nhận
phụng hành.
Bồ Tát độ sanh tùy thuận cơ nghi, trƣớc hết dùng dục để nhử,
sau mới khiến cho nhập vào Phật trí. Ông cực lực tu hạnh hiếu
đễ, lại đem pháp môn Tịnh Độ khuyên lơn, hƣớng dẫn quyến
thuộc của mình và hết thảy những ai hữu duyên cùng làm ngƣời
trong hội Liên Trì thì công đức rất lớn.                                                                            320
      * Con hiếu thờ cha mẹ thì phải đặt cái gốc lên trƣớc, đặt cái
ngọn ra sau, nuôi thân cha mẹ, khai đạo tinh thần. Nếu chỉ biết
báo bổ công lao, phụng dƣỡng cho cha mẹ an nhàn, lập thân
hành đạo để cha mẹ đƣợc vẻ vang, chẳng biết đem đạo thƣờng
trụ vô sanh, pháp niệm Phật vãng sanh để khuyên dụ cha mẹ tu
trì, khiến cho cha mẹ lúc sống niệm Phật hiệu, chết đi sanh về cõi
Phật, giã biệt nỗi khổ sanh tử hƣ huyễn, hƣởng thƣờng trụ chân
lạc, phụng sự Di Đà, chen vai cùng hải chúng nghe viên âm, tam
Hoặc trừ sạch, thấy diệu cảnh, viên minh tứ trí, chẳng lìa An
Dƣỡng, vào khắp mƣời phƣơng thƣợng cầu hạ hóa, rộng làm
Phật sự, triệt chứng Phật tánh vốn sẵn có trong tâm, làm thuyền
từ độ khắp mọi ngƣời trong biển khổ.
Nếu vậy thì đúng là thấy nhỏ quên lớn, đƣợc gần bỏ xa, chính là
kiến giải hạn hẹp của kẻ hèn, chẳng phải là tầm nhìn rộng lớn
của bậc thông đạt. Nếu nhƣ ông có thể làm cho mẹ hiền cũng
giống nhƣ mình, cũng nhƣ quyến thuộc cùng thoát Sa Bà, đồng
sanh An Dƣỡng, đồng chứng vô lƣợng quang thọ, đồng hƣởng
pháp lạc tịch quang, đồng làm pháp vƣơng tử của Phật A Di Đà,
đồng làm đại đạo sƣ của trời ngƣời thì mới là trọn hết tấm lòng
hiếu tử, mới xứng với công cha mẹ nuôi dạy. Đấy mới đúng là
hiếu từ nuôi dạy, chứ chẳng phải nhƣ thế gian nói hiếu từ nuôi
dạy đâu!
      * Hành đạo hiếu thì không còn gì lớn hơn đƣợc nữa, hết thảy
các điều lành không gì chẳng thâu tóm, nhƣng đạo hiếu có thế
gian, xuất thế gian, lớn, nhỏ, bổn, tích sai khác.
      Đạo hiếu thế gian là chăm nom, phụng dƣỡng cho cha mẹ
đƣợc yên ổn, đón trƣớc ý khiến cha mẹ vui vẻ, cho đến lập thân
hành đạo để dƣơng danh hậu thế. Dù lớn nhỏ khác nhau nhƣng
đều là chuyện thuộc về mặt sắc thân; dẫu cho đại hiếu ngút trời,                                                                             321
rốt cuộc chẳng ích lợi gì cho tâm tánh, sanh tử của
cha mẹ cả! Đúng là chỉ uổng công đuổi theo cái ngọn, chẳng xét
đến cái gốc. Huống hồ là sát sanh để dâng lên cha mẹ hay để
cúng tế khiến cho cha mẹ càng bị oán thù kết chặt, mãi mãi phải
đền trả chẳng ngơi ƣ?
      Đạo hiếu xuất thế gian, xét về mặt Tích cũng giống nhƣ thế
gian chăm nom, phụng dƣỡng... cho đến lập thân dƣơng danh,
nhƣng cái gốc là khiến cho cha mẹ huân tu đại pháp của Nhƣ
Lai. Cha mẹ còn sống thì khéo léo khuyên dụ sao cho cha mẹ ăn
chay niệm Phật cầu sanh Tây Phƣơng. Ăn chay ắt chẳng tạo sát
nghiệp, vừa diệt đƣợc túc ƣơng. Niệm Phật thì ngầm thông Phật
trí, thầm hợp diệu đạo. Nếu quả thật tin sâu, nguyện thiết cầu
sanh Tây Phƣơng, ắt đến lúc lâm chung đƣợc Phật tiếp dẫn, gởi
thân nơi chín phẩm sen. Từ đấy siêu phàm nhập thánh, liễu sanh
thoát tử, mãi mãi xa lìa các khổ trong chốn Sa Bà, thƣờng hƣởng
các sự vui trong chốn Cực Lạc.
Cha mẹ đã khuất bèn thay cha mẹ dốc sức tu Tịnh nghiệp, chí
thành hồi hƣớng cho cha mẹ. Nếu tâm thật sự chân thiết, cha mẹ
sẽ đƣợc lợi ích; nếu chƣa vãng sanh liền đƣợc vãng sanh. Nếu
đã vãng sanh, phẩm sen sẽ cao thêm. Đã phát tâm đƣợc nhƣ thế
thì sẽ tƣơng ứng với bốn hoằng thệ nguyện, khế hợp Bồ Đề giác
đạo; há đâu chỉ riêng cha mẹ đƣợc lợi ích mà công đức thiện
căn, phẩm vị đài sen của chính mình cũng sẽ cao siêu thù thắng!
Huống lại dùng chính thân mình thuyết pháp khiến cho khắp mọi
đồng luân cùng phát lòng hiếu thuận. Đạo hiếu ấy mới là thật
nghĩa rốt ráo, chẳng phải nhƣ thế gian chỉ mong lợi lạc cho sắc
thân và đời này, bỏ qua tâm tánh và đời sau chẳng buồn bàn tới!
Vì thế biết rằng đạo Phật lấy hiếu làm gốc. Do đó, kinh Phạm
Võng dạy: “Hiếu thuận với cha mẹ, sƣ tăng, Tam Bảo. Hiếu
thuận là pháp chí đạo. Hiếu gọi là Giới”‟.
Lại nhƣ trong các giới Giết - Trộm - Dâm - Dối, kinh đều nói phải
sanh tâm từ bi, tâm hiếu thuận. Trong giới “Chẳng thực hành                                                                             322
phóng sanh, cứu mạng”, kinh Phạm Võng dạy: “Hết
thảy ngƣời nam là cha ta, hết thảy ngƣời nữ là mẹ ta, đời đời
chẳng lúc nào ta chẳng sanh ra từ họ. Vì thế lục đạo chúng sanh
đều là cha mẹ ta, giết chúng sanh để ăn thịt chính là giết cha mẹ
mình”. Bởi thế mới nói đạo Hiếu của Phật giáo gồm khắp tứ sanh
lục đạo từ vô thỉ trƣớc đến tận vị lai sau, chẳng thể đem chuyện
chỉ biết một đời một thân ra so sánh đƣợc. Biết vậy rồi mà chẳng
kiêng giết phóng sanh, ăn chay niệm Phật thì làm sao trọn hết
đƣợc đạo hiếu chí cực không chi hơn đƣợc nữa đây?
      * Tự mình đã tu trì Tịnh nghiệp thì cũng phải nên dạy hết mọi
ngƣời quen biết cùng tu Tịnh nghiệp. Nên dựa theo phần Phổ
Khuyến Môn trong sách Long Thƣ Tịnh Độ khiến cho ai nấy tùy
phần tùy sức gieo thiện căn chẳng thể nghĩ bàn này. Đã muốn
đem pháp này dạy ngƣời thì nên dạy từ thân đến sơ, nỡ nào để
thê thiếp, con cái chẳng đƣợc hƣởng lợi ích này ƣ? Văn Vƣơng
nghiêm nhặt với vợ góa cho đến huynh đệ để giữ yên nhà cửa
đất nƣớc. Đạo tự hành, dạy ngƣời thế gian, xuất thế gian không
pháp nào chẳng vậy!
      *    Tự mình cải ác tu thiện, nhất tâm niệm Phật; phàm hết
thảy ngƣời thân đều là kẻ hữu duyên, cũng nên dạy họ pháp này.
Với những ngƣời phản đối, hãy khởi tâm thƣơng xót, đừng bắt
buộc họ phải làm. Cứ đè đầu bò bắt gặm cỏ thì vạn vạn phần
chẳng làm đƣợc! Nếu bảo: “Tôi nhất tâm niệm Phật, các sự
chẳng bận tâm đến nữa” thì chẳng những là bị trở ngại nơi pháp
thế gian, mà cũng chẳng hợp với Phật pháp. Làm đúng với địa vị
thì mới nên.
Khuyên ngƣời niệm Phật tu hành dĩ nhiên là công đức bậc nhất,
nhƣng dƣới đến vợ con, trên lên  cha mẹ, ông bà đều phải nên
khuyên nhủ. Nếu chẳng thể khéo léo dùng phƣơng tiện khuyên                                                                             323
nhủ gia đình, khiến cho quyến thuộc mình cùng đƣợc
hƣởng lợi ích chẳng thể nghĩ bàn liễu thoát sanh tử ngay trong
đời này thì chính là bỏ gốc theo ngọn, chỉ biết lợi ngƣời ngoài mà
chẳng biết làm lợi cho ngƣời thân, có nên chăng?
      * Với những ngƣời trong nhà, vào những khi nhàn hạ vô sự,
hãy dùng lời lẽ khúc chiết, uyển chuyển tỏ bày tận lý khiến tâm
ngƣời nghe biết đƣợc lẽ phải trái, nên, không nên; vô hình trung
ắt sẽ khiến cho tâm thức ngƣời nghe đƣợc mài giũa giần, nhiễm
dần mà chuyển biến.
Còn nhƣ khi cái tánh ngu bƣớng, ngạo nghễ của ngƣời ấy trỗi
dậy, nếu thấy đối trị đƣợc thì hãy dùng những danh ngôn chí lý
để ôn hòa bình tĩnh đối trị. Nếu không đƣợc thì cứ mặc kệ, đừng
động đến kẻ ấy nữa, đợi khi kẻ ấy hết nóng, lại ôn hòa, bình tĩnh
cùng kẻ ấy bàn luận khúc nhôi, lâu dần kẻ ấy cũng bị cảm hóa.
Trọn chẳng nên dùng đến những phƣơng cách bắt buộc, mạnh
mẽ, dữ dội...
      * Nay là lúc pháp nhƣợc ma cƣờng, muốn hộ trì Phật pháp
thì ở ngoài đời dễ hơn, làm Tăng sẽ khó. Nếu các hạ nghiêm trì
năm giới, chuyên niệm Di Đà, khắc kỷ, giữ lễ, lời nói tƣơng xứng
hành vi, sau đấy lại rộng khuyến hóa, chỉ dạy nhằm lợi khắp
quần sanh, đừng cậy mình làm thầy mà tự cao, chẳng đƣợc
nhận tiền tài để hƣởng thọ. Ở nhà thì dạy cho cả nhà, ra đại
chúng bèn vì đại chúng trình bày rõ khiến ai nấy đều ngƣỡng mộ
đức mà tin theo lời mình. Đấy gọi là thân đã chánh thì chẳng ra
lệnh mà ngƣời hành theo, lấy thân mình làm gƣơng, hễ gió thổi
qua là cỏ phải rạp xuống.                                                                            324
      * Tôi hay viết câu liễn nhƣ sau:
      Xả Tây Phƣơng tiệp kính, cửu giới chúng sanh thƣợng hà dĩ
viên thành Phật đạo?
      Ly Tịnh Độ pháp môn, thập phƣơng chƣ Phật bất năng phổ
lợi quần manh.
      (Bỏ  đƣờng tắt Tây Phƣơng, cửu giới chúng sanh dùng chi
viên thành Phật đạo?
       Rời pháp môn Tịnh Độ, mƣời phƣơng chẳng thể lợi khắp
quần manh)
      Các hạ hãy khởi phát đại dũng mãnh, phát đại tinh tấn gánh
vác pháp này. Dùng những ngôn luận hoằng dƣơng Tịnh Độ
xứng với căn cơ của cổ nhân để bảo ban làng xóm, sống trong
trần lao chẳng nhiễm, tu Chân ngay trong cõi Tục thì mới hợp với
ý nghĩa “viên dung, vƣợt thoát khỏi danh và mạng” vậy.
4. Khuyên nên sống trong cõi trần học đạo

      * Niệm Phật dĩ nhiên quý tại chuyên nhất; nhƣng cƣ sĩ trên có
cha mẹ, dƣới có vợ con, ngoài lo toan tính mong cầu giàu
sƣớng, thật chẳng thích hợp [để xuất gia]. Đối với những việc
bên trong cần nên làm thì hãy gắng sức làm, bất tất phải bỏ sạch
hết thảy mới là tu hành. Nếu bỏ sạch hết thảy nhƣng vẫn nuôi
dƣỡng cha mẹ, vợ con chẳng thiếu sót thì cũng đƣợc. Nếu
không là trái với đạo hiếu, tuy bảo là tu hành nhƣng lại trái nghịch
với Phật pháp. Điều này chẳng thể chẳng biết.                                                                            325
Lại phải nên dùng những lợi ích của pháp môn Tịnh
Độ để khuyên lơn cha mẹ, khiến họ niệm Phật cầu sanh Tây
Phƣơng. Nếu họ tin nhận phụng hành, lúc lâm chung nhất định
đƣợc vãng sanh. Một phen đƣợc vãng sanh bèn siêu phàm nhập
thánh, liễu sanh thoát tử, cao dự hải hội, thân cận Di Đà thẳng
cho đến khi thành Phật mới thôi. Đạo hiếu thế gian sao sánh
bằng đƣợc!
Nếu lại còn có thể đem điều ấy bảo ban cho khắp mọi ngƣời biết
khiến cho cha mẹ ngƣời nào cũng đều đƣợc vãng sanh thì công
đức giáo hóa quy về mình, khiến cho phẩm vị liên đài của cha mẹ
và của mình đều đƣợc tăng cao. Kinh Thi chép: “Hiếu tử bất quỹ,
vĩnh tứ nhĩ loại” (con hiếu chẳng thiếu thốn, [trời] luôn ban
thƣởng cho các ngƣơi). Muốn hiếu với cha mẹ, hãy nên suy nghĩ
sâu xa rồi tận lực thực hành.
      * Hoàn cảnh của mỗi ngƣời vạn phần chẳng giống nhau; xét
đến hoàn cảnh của ông, thật sự là ở tại gia có lợi ích lớn hơn,
nếu xuất gia chỉ đƣợc lợi ích nhỏ. Ông nhờ tổ nghiệp tạm sanh
sống đƣợc, trên còn mẹ già để thờ, giữa có anh em để nhờ cậy,
trong nhà có vợ hiền, dƣới gối chƣa có con cái gì. Bác cả nhà
ông hơi tin Phật pháp, chú ba, chú tƣ cũng chẳng chống đối đạo
pháp chi lắm, ông ở nhà dốc sức tu tịnh nghiệp cũng có thể
hƣớng dẫn bà cụ phát lòng tin niệm Phật, cầu đƣợc liễu thoát, lại
cũng có thể giúp anh em ở ngoài lo liệu  việc nhà, cũng nhƣ
xƣớng xuất vợ con, em dâu v.v... cùng tu Tịnh nghiệp để làm kế
sách cùng thoát luân hồi.
Ngoài ra còn tùy duyên khai thị, hƣớng dẫn xóm giềng, thân
thích. Vậy thì nhà mình biến thành đạo tràng, mọi ngƣời: thân
mẫu, anh, em, vợ, con, cháu, xóm giềng, bằng hữu đều thành
pháp quyến; tùy sức tùy phần, thân làm, miệng khuyên, khiến
cho cả miền Vĩnh Gia, những kẻ lạc đƣờng, những ngƣời thuộc
tà kiến chủng tánh đều đƣợc nạp vào lò luyện pháp môn Tịnh Độ                                                                             326
viên đốn chí cực lớn lao, luyện thành pháp khí, cùng
tu tịnh nghiệp, tƣơng lai cùng ngự Liên Bang, cùng chứng Bồ Đề.
[Lợi ích nhƣ thế] vẫn thua việc ông xuất gia làm tăng, bỏ mẹ đi
xa, khiến ngƣời nhà hờn oán thiếu ngƣời nƣơng dựa, mẹ ôm
lòng phiền con hay sao?
Vả nữa, tất cả những kẻ chẳng hiểu đạo lý đến nơi đến chốn ắt
sẽ trở mặt chê Phật pháp trái nghịch thế đạo, lầm lạc hủy báng,
khiến cho bọn họ tạo khẩu nghiệp phải đọa ác đạo, chƣa thấy ích
gì mà trƣớc đã tạo nên sự tổn hại lớn lao vậy. Huống chi mẹ ông
đã chẳng bằng lòng, há chẳng nên tuân theo ý mẹ, vẫn cứ ôm ấp
tấm lòng đó ƣ? Nếu mẹ ông chẳng chấp thuận cho ông tu hành
thì xuất gia còn chấp nhận đƣợc, nay mẹ ông hoan hỷ cho ông tu
hành, sao lại muốn bỏ mẹ để tu hành?
Trong Phật pháp, lục độ vạn hạnh, các thứ công nghiệp đều vì lợi
ích chúng sanh. Ông không xuất gia ắt sẽ lợi ích rất lớn cho mẹ.
Chỉ riêng một lẽ đó đã rất nên thuận theo lòng mẹ, cứ ở nhà học
đạo khiến mẹ quen thấy, chẳng mong mẹ tin tƣởng mà tự nhiên
mẹ tin tƣởng, không công đức nào lớn hơn; huống hồ nào phải
chỉ lợi ích riêng cho một mình mẹ ông thôi đâu!
      Thêm nữa, mẹ không bằng lòng cho xuất gia thì đừng nghĩ
tới chuyện ấy nữa. Bởi lẽ trong giới luật nhà Phật, cha mẹ chẳng
cho phép xuất gia, cứ tự ý mình đi xuất gia, nhà chùa sẽ chẳng
cho phép xuống tóc và thọ giới v.v... Không vậy, cả thầy lẫn trò
đều mắc tội!
      * Hiện tại mọi ngăn cấm đều rỡ bỏ cả, ngƣời tại gia nghiên
cứu, tu tập nhiều nhƣ rừng, ngƣời đƣợc lợi ích sanh Tây
Phƣơng cũng thƣờng thấy, cần gì phải xuất gia bỏ cha mẹ?
Chuyện ấy Quang tôi tuyệt đối chẳng tán thành. Căn cứ trên thực
tế mà nói, trong hiện tại tu tại gia tốt hơn. Vì sao vậy? Vì đối với
hết thảy đều vô ngại. So với ngƣời tại gia, ngƣời xuất gia bị                                                                             327
chƣớng ngại nhiều hơn; bởi thế, nếu không phải là
ngƣời phát tâm chân thật, ắt sẽ thành phƣờng hạ lƣu, vô ích đối
với Phật pháp, nhục lây đến Phật.
      * Nếu muốn xuất thế thì chẳng cần gì phải tách ra ở riêng, chỉ
y theo ngôn giáo của Phật, đối trị phiền não tập khí sao cho hết
sạch mới thôi. Tuy thân trong cảnh tục, chẳng ngại gì đoạn Hoặc
chứng Chân, liễu sanh thoát tử tiến đến Phật Quả. Nhƣ cƣ sĩ
Duy Ma bên Tây Thiên và các vị Phó Đại Sĩ, Lý Trƣởng Giả,
Bàng Cƣ Sĩ v.v... trong cõi này. Nếu tự lực chẳng đủ, đã có pháp
cậy nhờ Phật từ lực vãng sanh Tây Phƣơng để nƣơng tựa. Há
phải đâu ai nấy đều phải bỏ tục xuất gia mới đúng là đệ tử Phật
ƣ?
      * Cƣ trần học đạo, tu chân ngay trong cõi tục thì bậc đạt nhân
danh sĩ hay kẻ ngu phu, ngu phụ đều làm đƣợc cả. Gắng sức tu
trì, với những thứ hệ lụy của đời tại gia hãy tƣởng nhƣ bóng gậy,
tiếng hét (2) phải đƣơng đầu, hằng sanh tâm nhàm lìa, luôn sanh
chí vui thích (3), lấy bệnh làm thuốc, biến tắc thành thông, trên
chẳng khiến cao đƣờng (4) buồn bã, dƣới là vợ con chẳng mất
nơi nhờ cậy, lại còn khiến cho hết thảy những ai thấy biết nhờ đó
sẽ tăng trƣởng lòng tin trong sạch, còn gì vui hơn!
      * Ngƣời sống trong thế gian chẳng thể không làm gì cả, chỉ
nên trọn hết bổn phận, chẳng dòm dõi chi đến chuyện ngoài bổn
phận. Sĩ, nông, công, thƣơng, ai nấy chăm lo nghề mình làm cái
gốc để nuôi thân, nuôi gia đình, tùy phận, tùy lực, quyết chí cầu
sanh Tây Phƣơng. Nếu có sức thì với việc lành sẽ bỏ của, hoặc
giúp lời nói để tán trợ. Nếu không, phát tâm tùy hỷ cũng thành
công đức, dùng đấy để vun bồi ruộng phƣớc làm trợ hạnh vãng                                                                             328
sanh. Nhƣ thuận nƣớc căng buồm, lại thêm chèo lái
đến đƣợc bến bờ, chẳng sƣớng lắm ƣ?
      * Nếu là bậc đại thông gia thì Thiền - Tịnh song tu, nhƣng
phải lấy Tịnh Độ làm chủ. Nếu là ngƣời căn cơ trung bình thì
cũng chẳng cần phải xem khắp kinh sâu luận rộng, chỉ cốt sao
chẳng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, nhất tâm niệm
Phật cầu sanh Tây Phƣơng là đƣợc. Ngƣời ấy chẳng buông bỏ
gia nghiệp mà vẫn kiêm tu pháp xuất thế.
Tuy tựa hồ là cách tu tầm thƣờng không gì lạ lùng cả, nhƣng lợi
ích chẳng thể nghĩ bàn. Bởi lẽ, ngu phu, ngu phụ cắm cúi niệm
Phật là đã ngầm thông Phật trí, thầm hợp diệu đạo. So ra, lợi ích
nhiều hơn hẳn bậc đại thông gia suy lƣờng, phỏng đoán, cứ suốt
ngày vắt óc phân biệt. Bởi thế, ngu phu, ngu phụ niệm Phật dễ
đƣợc lợi ích, bậc đại thông gia nếu toàn thân buông xuống đƣợc
hết sẽ dễ đƣợc lợi ích, chứ nếu cứ suy dò nghĩa lý sẽ chẳng
đƣợc lợi ích; trái lại còn thành bệnh, chƣa đắc bảo là đắc, có kẻ
trở thành cuồng dại nữa.
Một pháp tham thiền, con ngƣời hiện tại chẳng nên học; dù có
học cũng chỉ thành văn tự tri kiến (5), quyết chẳng thể đốn minh
tự tâm, tự thấy tự tánh. Vì sao vậy? Một là thiếu thiện tri thức chỉ
dạy, quyết trạch; hai là ngƣời học chẳng hiểu căn cội của Thiền.
Mang tiếng tham thiền nhƣng thật ra là hiểu lầm.
      * Đối với việc thọ giới, nếu thiện nam tử xuất gia làm tăng thì
phải vào chùa tập tành oai nghi mới biết quy củ chốn tùng lâm.
Giữ đúng oai nghi của Tăng thì du phƣơng hành cƣớc (6) trọn
chẳng trở ngại gì. Nếu không, mƣời phƣơng tùng lâm không trụ
nơi nào đƣợc cả.                                                                            329
Nếu ngƣời nữ tại gia, cửa nhà khá giả, thân có thể tự
làm chủ, đến chùa thọ giới cũng chẳng phải là không đƣợc. Còn
nếu nhƣ gia cảnh cùng quẫn, cần gì phải làm vậy. Chỉ cần đối
trƣớc Phật, khẩn thiết chí thành sám hối tội nghiệp trong  vòng
bảy ngày, tự thệ thọ giới. Đến ngày thứ bảy, đối trƣớc Phật
xƣớng rằng: “Đệ tử con tên là... thề thọ năm giới, làm mãn phần
ƣu-bà-di (ƣu-bà-di Hán dịch là Cận Sự Nữ, hàm nghĩa đã thọ
năm giới, kham phụng sự Phật. Mãn Phần nghĩa là thọ trì trọn
vẹn năm giới). Đến hết cuộc đời chẳng sát sanh, đến hết cuộc
đời chẳng trộm cắp, đến hết cuộc đời chẳng dâm dục (nếu là gái
có chồng thì nói “chẳng tà dâm”), đến hết cuộc đời chẳng nói dối,
đến hết cuộc đời chẳng uống rƣợu”. Nói nhƣ vậy ba lần liền
đƣợc đắc giới.
Nếu chí tâm thọ trì thì công đức chẳng hơn kém, đừng bảo tự thệ
thọ trì là chẳng đúng pháp. Đấy là thánh huấn của đức Nhƣ Lai
đã dạy trong kinh Phạm Võng.
      * Tam Quy - Ngũ Giới là cửa ngõ ban đầu để vào Phật pháp;
tu các pháp môn khác đều nƣơng theo đây mà vào, huống hồ là
pháp môn Tịnh Độ liễu sanh thoát tử giản dị nhất, chí viên, chí
đốn chẳng thể nghĩ bàn ƣ? Chẳng cảnh tỉnh tam nghiệp, chẳng
trì năm giới, còn chẳng có phần lại đƣợc thân ngƣời, huống chi
là muốn đƣợc liên hoa hóa sanh, thân đầy đủ quang minh tƣớng
hảo ƣ?
      * Vì hàng tại gia đệ tử lƣợc giảng ý nghĩa của Tam Quy, Ngũ
Giới, Thập Thiện:                                                                            330
      Thƣơng thay, từ vô thỉ đến nay chúng sanh luân
hồi sáu nẻo, không đƣợc cứu, không chỗ về nƣơng, không nơi
gởi gắm, nhƣ con côi mất cha, dƣờng kẻ cùng quẫn nhà tan cửa
nát, toàn là do phiền não ác nghiệp cảm thành quả khổ sanh tử
ấy, mù lòa không huệ nhật, chẳng thể tự thoát khỏi. Đại Giác Thế
Tôn thƣơng xót, thị hiện sanh trong thế gian, vì chúng sanh
thuyết pháp, dạy họ thọ Tam Quy để làm cái gốc bỏ tà về chánh,
dạy họ trì Ngũ Giới hòng làm cái gốc đoạn ác tu thiện, dạy họ
hành Thập Thiện để làm gốc rễ thanh tịnh ba nghiệp thân - khẩu
- ý.
Từ đấy, chẳng làm các điều ác, vâng làm các điều thiện. Tam
nghiệp đã đƣợc tịnh rồi mới hòng tuân tu đạo phẩm, ngõ hầu trái
giác hợp trần, chuyển phàm thành thánh, đoạn gốc tham - sân -
si, thành đại đạo Bồ Đề giới - định - huệ. Bởi thế, đức Phật giảng
Tứ Đế, Thập Nhị Nhân Duyên, Lục Độ, ba mƣơi bảy phẩm trợ
đạo v.v... vô lƣợng pháp môn. Lại muốn cho chúng sanh mau
thoát sanh tử, chóng thành Phật đạo, đức Phật bèn dạy pháp
môn Niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ, khiến họ chẳng phí nhiều sức,
hoàn tất đƣợc ngay trong đời này. Ôi! Ơn đức Thế Tôn thật là
cùng cực, dù là cha mẹ hay trời đất cũng chẳng thể  sánh ví
đƣợc.
Bất Huệ (Tổ Ấn Quang tự xƣng) thọ ân thật sâu, nhƣng không
cách nào báo đƣợc ân sâu. Nay các vị lầm nghe lời ngƣời,
chẳng ngại xa xôi ngàn dặm đến đây, toan bái tôi làm thầy,
nhƣng tôi tự xét mình vô đức, ba bốn lƣợt khƣớc từ, quý vị vẫn
chẳng chịu nghe. Nay bất đắc dĩ, đem ý xuất thế thuyết pháp độ
sanh của đức Nhƣ Lai bàn đại khái cùng quý vị, cũng nhƣ giải
thích sơ lƣợc về ý nghĩa của Tam Quy, Ngũ Giới, Thập Thiện và
pháp môn Tịnh Độ ngõ hầu tất cả quý vị lãnh hội đƣợc, tất cả quý
vị tuân thủ đƣợc, còn nhƣ từ Tứ Đế cho đến Ba Mƣơi Bảy Phẩm
Trợ Đạo v.v... chẳng phải là những điều quý vị có thể hiểu thấu
nên tôi lƣợc đi không nhắc đến. Nếu quý vị y giáo phụng hành,
chính là thờ Phật làm thầy, sá gì Bất Huệ! Nếu chẳng y giáo
phụng hành là đã phụ ân Bất Huệ, huống chi là Phật ân!                                                                              331

Tam Quy là:
- Một là quy y Phật.
- Hai là quy y Pháp.
- Ba là quy y Tăng.
Quy là quay theo, Y là nƣơng tựa. Nhƣ ngƣời rớt xuống biển,
chợt có thuyền đi đến, liền hƣớng về đó. Đấy là ý nghĩa “quay
theo”; ngồi yên ổn trên thuyền là ý nghĩa “nƣơng tựa”. Sanh tử là
biển, Tam Bảo là thuyền; chúng sanh quy y liền lên bờ kia.
Đã quy y Phật bèn thờ Phật làm thầy, từ nay trở đi cho đến khi
mạng chung, chẳng đƣợc quy y thiên ma, ngoại đạo, tà quỷ, tà
thần. Đã quy Pháp bèn thờ Pháp làm thầy, từ nay trở đi cho đến
khi mạng chung, chẳng đƣợc quy y kinh sách ngoại đạo. Đã quy
y Tăng bèn thờ Tăng làm thầy, từ nay trở đi cho đến khi mạng
chung, chẳng đƣợc quy y đồ chúng ngoại đạo.
Ngũ Giới:
- Một là chẳng sát sanh.
- Hai là chẳng trộm cắp.
- Ba là chẳng tà dâm.
- Bốn là chẳng nói dối.                                                                            332
- Năm là chẳng uống rƣợu.
1) Sát sanh:
Loài vật cũng giống nhƣ ta, ham sống sợ chết. Ta đã ƣa sống,
há vật lại muốn chết! Do đó hãy nghĩ: Có nên giết hại loài vật
chăng? Hết thảy chúng sanh luân hồi sáu nẻo, tùy nghiệp thiện -
ác, thăng - giáng, siêu - trầm, ta cùng bọn chúng trong nhiều kiếp
lần lƣợt làm cha mẹ nhau, lần lƣợt làm con cái nhau, phải nghĩ
cách cứu vớt, nỡ nào giết hại? Hết thảy chúng sanh đều có Phật
tánh, trong đời tƣơng lai sẽ đều thành Phật. Nếu ta đọa lạc còn
mong đƣợc cứu vớt.
Thêm nữa, ta đã tạo sát nghiệp, ắt phải đọa ác đạo đền bồi nợ
cũ, xoay vần giết hại lẫn nhau chẳng khi nào xong. Suy nghĩ nhƣ
thế nào còn dám giết? Nhƣng nguyên nhân sát sanh là do ăn thịt.
Nếu biết đƣợc những nhân duyên nhƣ trên vừa nói sẽ tự chẳng
dám ăn thịt nữa. Kẻ ngu lại cho thịt là ngon, chẳng biết thịt vốn
do tinh huyết tạo thành; trong chứa phân tiểu, ngoài lẫn bẩn thỉu,
tanh tƣởi, hôi thối, ngon lành chỗ nào? Thƣờng quán bất tịnh, ắt
ăn vào sẽ ói ra.
Thêm nữa, sanh vật là ngƣời, cầm thú, giòi, bọ, cá, tép, muỗi,
mòng, rận, rệp, tất cả những loài có sanh mạng; đừng bảo con
vật lớn chẳng đƣợc giết, con vật nhỏ thì giết đƣợc! Trong kinh
Phật có rộng nói công đức kiêng giết, phóng sanh. Tục nhân
chẳng thể đọc đến thì hãy xem sách Vạn Thiện Tiên Tƣ của An
Sĩ tiên sinh ắt sẽ biết đƣợc đại khái!

2) Chẳng trộm cắp:                                                                            333
Thấy nghĩ đƣợc cái gì, chẳng cho bèn chẳng lấy.
Ngƣời biết liêm sỉ chẳng phạm lỗi này, nhƣng nếu luận tỉ mỉ thì
chẳng phải là bậc đại thánh đại hiền sẽ rất khó chẳng phạm. Vì
sao? Lấy công giúp tƣ, tổn ngƣời lợi mình, cậy thế lấy của, dùng
mƣu kế đoạt vật, ghen ghét vì ngƣời khác phú quý, mong họ bần
tiện; làm lành để phô trƣơng; đối với các việc lành tâm chẳng
hiểu đúng, chẳng hạn nhƣ lập trƣờng miễn phí, chẳng chọn thầy
nghiêm, khiến con em ngƣời khác bị lầm lạc; thí thuốc chữa bệnh
chẳng phân biệt thật giả khiến ngƣời dùng bị nguy tánh mạng;
thấy ngƣời bị tai nạn gấp vẫn xem thƣờng chẳng cứu, lề mề hờ
hững đến nỗi lỡ việc; làm tắc trách cho xong việc, mặc kệ tiền tài
ngƣời khác bị lãng phí, trong lòng không coi đó là chuyện khẩn
yếu. Những điều nhƣ thế đều gọi là trộm cắp. Vì các vị đều ở
chốn tốt lành nên tôi chỉ chọn ra những điều tệ hại nhất  để nói
đại lƣợc mà thôi!  
3) Chẳng tà dâm:
Tục nhân nam nữ lập gia đình sanh con đẻ cái, trên là liên quan
đến phong hóa, dƣới là liên quan đến việc cúng giỗ. Dù vợ chồng
ăn nằm với nhau chẳng bị cấm, nhƣng phải kính nhau nhƣ
khách, cốt để [có con cháu] giỗ quải tổ tiên, chẳng đƣợc lấy đó
làm điều khoái lạc, ham dục đến nỗi mất mạng. Dù là vợ mình,
tham vui quá cũng là phạm tội, nhƣng tội ấy còn nhỏ nhặt. Nếu
chẳng phải là vợ mình mà ăn nằm bừa bãi thì gọi là “tà dâm”, tội
ấy cực nặng!
Hành tà dâm là đem thân ngƣời làm chuyện súc sanh, khi báo
hết mạng tận trƣớc là đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, sau là đọa
trong đƣờng súc sanh ngàn vạn ức kiếp chẳng thể thoát khỏi.
Hết thảy chúng sanh từ dâm dục sanh nên giới này khó giữ, dễ
phạm. Dẫu là bậc hiền đạt, cũng có lúc còn vi phạm, huống chi
kẻ ngu?                                                                            334
Nếu lập chí tu trì thì trƣớc hết phải biết rõ lợi - hại (lợi
là chẳng phạm giới này sẽ đƣợc lợi lạc gì; hại là những họa hại
do phạm giới này) cũng nhƣ phƣơng pháp đối trị thời sẽ nhƣ
thấy rắn độc, nhƣ gặp oán tặc, kinh sợ, hoảng hốt, dục tâm sẽ tự
dứt. Cách đối trị chép rộng trong kinh Phật. Tục nhân không
duyên xem đến hãy đọc sách Dục Hải Hồi Cuồng của An Sĩ tiên
sinh sẽ biết đƣợc đại khái.
      4) Chẳng vọng ngữ:
Lời nói đáng tin, chẳng thốt lời hƣ dối. Nếu thấy nói chẳng thấy,
chẳng thấy nói thấy, lấy hƣ làm thật, biến có thành không, phàm
điều gì tâm chẳng xứng với miệng, toan khinh dối ngƣời khác
đều là vọng ngữ cả. Lại nếu nhƣ chƣa đoạn Hoặc bảo là đã đoạn
Hoặc, chƣa đắc đạo bảo là đắc đạo thì gọi là đại vọng ngữ. Tội
ấy rất nặng, sau khi mạng chung nhất định đọa thẳng vào A Tỳ
địa ngục, vĩnh viễn không có lúc thoát ra. Nay ngƣời tu hành
chẳng biết giáo lý Phật pháp, đa phần nhƣ thế cả, cho nên phải
đau đáu răn đe. Điều này thật thiết yếu.
      Bốn điều trên chẳng luận là xuất gia hay tại gia, thọ giới hay
không thọ giới hễ phạm liền vƣớng tội lỗi, bởi thể tánh của chúng
là ác. Nhƣng ngƣời chƣa thọ giới thì mắc tội một tầng; ngƣời đã
thọ giới mắc tội gấp đôi bởi ngoài chuyện làm điều ác ra, còn
thêm cái tội phạm giới. Nếu giữ đƣợc chẳng phạm thì công đức
vô biên; hết thảy phải nên gắng sức.
      5) Chẳng uống rƣợu:
Rƣợu làm cho tâm ngƣời mê loạn, hoại giống trí huệ. Uống vào
sẽ bị điên đảo, hôn cuồng, làm chuyện càn quấy, nên Phật chế
định ngƣời tu hành trọn chẳng đƣợc uống rƣợu. Lại nhƣ hành,                                                                             335
hẹ, kiệu, tỏi, nén, năm thứ thực vật nồng gắt, mùi vị
hôi hám, bản chất chẳng thanh khiết, ăn chín sanh dâm, ăn sống
tăng lòng nóng giận, ngƣời tu hành đều chẳng đƣợc ăn. Với giới
này, ngƣời chƣa thọ giới ăn uống chúng chẳng bị tội gì; ngƣời
thọ giới mà dùng hay ăn chúng liền phạm một tầng giới của Phật.
Phật đã cấm chế, các vị vẫn phạm nên mắc tội vậy.
      Thập Thiện là:
      - Một là chẳng sát sanh,
      - Hai là chẳng trộm cắp.
      - Ba là chẳng tà dâm.
      - Bốn là chẳng nói dối.
      - Năm là chẳng nói thêu dệt.
      - Sáu là chẳng nói đôi chiều.
      - Bảy là chẳng ác khẩu.
      - Tám là chẳng tham.
      - Chín là chẳng sân.
      - Mƣời là chẳng si.
      Ba điều đầu gọi là thân nghiệp, bốn điều giữa là khẩu nghiệp,
ba điều cuối là ý nghiệp. Nghiệp nghĩa là “sự”. Nếu trì chẳng
phạm thì gọi là Thập Thiện, nếu phạm chẳng trì thì gọi là Thập
Ác. Thập Ác chia làm thƣợng, trung, hạ, cảm ba đƣờng ác địa
ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Thập Thiện chia thành thƣợng, trung,                                                                             336
hạ cảm ba thiện đạo trời, ngƣời, a-tu-la. Nhân lành
cảm quả lành, nhân ác cảm quả ác, quyết định chẳng nghi,
chẳng sai mảy may. Trong phần nói về Ngũ Giới đã giảng giết -
trộm - dâm - dối rồi.
Ỷ ngữ (nói thêu dệt) là những lời lẽ phù phiếm, vô ích, chải
chuốt, bóng bảy bàn nói chuyện dâm dục khiến ngƣời khác nghĩ
bậy.
Lƣỡng thiệt (nói đôi chiều) là đến ngƣời này nói ngƣời kia, đến
ngƣời kia nói ngƣời này, đâm thọc thị phi, đòn xóc hai đầu v.v...
Ác khẩu là ngôn ngữ thô ác nhƣ dao, nhƣ kiếm, vạch trần lỗi kín
của ngƣời, chẳng kiêng dè. Nếu lại còn khiến cho cha mẹ ngƣời
bị xấu lây, thì gọi là “đại ác khẩu”, tƣơng lai mắc phải quả báo
súc sanh. Đã thọ giới nhà Phật, chớ nên phạm giới này.
Tham keo là tiền tài của mình chẳng chịu thí cho ngƣời thì gọi là
“keo”, chỉ mong vơ của cải của ngƣời về mình thì gọi là “tham”.
Sân khuể là giận dữ, thấy ngƣời đƣợc gì bèn sầu lo, phẫn nộ,
thấy ngƣời bị mất gì bèn mừng rỡ, sung sƣớng, lại còn cậy thế,
cậy oai khinh ngƣời rẻ vật.
Tà kiến là chẳng tin làm lành đƣợc phƣớc, làm ác mắc tội, nói
không nhân quả, chẳng có đời sau, khinh chê thánh ngôn, hủy
báng kinh giáo của Phật...
Mƣời điều thiện này bao hàm hết thảy. Nếu có thể tuân hành thì
không điều ác nào chẳng đoạn, không điều thiện nào chẳng tu.
Chỉ sợ quý vị chẳng thể lãnh hội nên tôi nay chỉ nêu đại lƣợc một
hai việc: hiếu thuận cha mẹ, chẳng trái, chẳng nghịch, khúc nhôi
uyển chuyển khuyên cha mẹ nhập đạo, dứt mặn ăn chay, trì giới
niệm Phật, cầu sanh Tây Phƣơng, liễu sanh thoát tử. Nếu cha
mẹ tin theo thì chẳng còn gì tốt hơn.                                                                            337
Với anh em liền tận sức nhƣờng nhịn, với vợ chồng
thời hết sức kính trọng, với con cái thời tận sức giáo huấn khiến
chúng trở thành ngƣời tốt, ngƣời hiền, chớ để chúng mặc tình
quen thói kiêu căng, đến nỗi thành hạng ngƣời chẳng ra gì. Với
xóm giềng làng nƣớc, phải hòa mục, nhƣờng nhịn, giảng cho họ
nghe nhân quả thiện ác, khiến họ sửa lỗi hƣớng thiện. Với bằng
hữu tận lực giữ chữ tín. Với tôi tớ phải từ ái. Với việc công bèn
tận tâm kiệt lực nhƣ khi làm chuyện tƣ.
Hễ gặp ngƣời quen biết, họ hàng, gặp cha nói Từ, gặp con nói
Hiếu. Còn nhƣ kinh doanh cố nhiên là để kiếm lời, nhƣng chẳng
đƣợc bán hàng giả, lừa dối ngƣời khác. Nếu nhƣ đem phong tục
này giáo hóa cho cả một ấp, một làng thì sẽ khiến cho họa loạn
chƣa nảy mầm đã tiêu, các hình phạt trở thành vô dụng; có thể
nói là ra ngoài tận trung, trong nhà tận chính vậy!
10. Các sách vở nên đọc
      * Thuật rộng nguyện luân, giảng sâu xa duyên khởi thì chỉ có
mình kinh Vô Lƣợng Thọ. Chuyên giảng về pháp quán cũng nhƣ
dạy rõ các nhân vãng sanh thì chỉ có mình Thập Lục Quán Kinh
(kinh Quán Vô Lƣợng Thọ Phật). Hai kinh trên đây pháp môn
rộng lớn, đế lý tinh vi, kẻ độn căn đời mạt thật khó thể đƣợc lợi
ích.
Tìm lấy một bản kinh câu văn giản dị nhƣng nghĩa lại giàu, dùng
ít chữ nhƣng nghĩa lý phong phú, độ khắp ba căn, hạ thủ dễ
nhƣng thành công cao, dùng sức ít mà đạt hiệu quả nhanh
chóng, chuyên ròng tu một hạnh lại viên thành vạn đức, khiến
cho nhân tâm mau chóng khế hợp quả giác thì chỉ có mình kinh
Phật Thuyết A Di Đà mà thôi!                                                                            338
Ấy là vì một phen nghe đến y báo, chánh báo trang
nghiêm, thƣợng thiện nhân cùng nhóm họp, ắt sẽ sanh lòng tin
chân thành, phát nguyện khẩn thiết, quyết có cái thế [mạnh mẽ]
nhƣ sông ngòi tuôn chảy không sao ngăn đƣợc. Từ đấy giữ chặt
khƣ khƣ, chấp trì vạn đức hồng danh, niệm đâu chú tâm vào đó
mãi cho đến khi nhất tâm bất loạn. Làm đƣợc nhƣ vậy thì ngay
trong đời này đã dự vào dòng thánh, lâm chung theo Phật vãng
sanh, khai Phật tri kiến, cùng thọ dụng nhƣ Phật.
Bởi thế biết rằng một pháp Trì Danh bao gồm vạn hạnh, toàn sự
tức lý, toàn vọng tức chân, nhân tột biển quả, quả thấu nguồn
nhân. Thật đúng là đƣờng tắt để quay về gốc, là cửa ngõ trọng
yếu để nhập đạo.
      * Kinh A Di Đà có bản Yếu Giải do đại sƣ Ngẫu Ích trƣớc tác,
lý - sự đều đạt tới mức cùng cực, là bản chú giải bậc nhất kể từ
khi đức Phật nói ra kinh này, diệu cực xác thực, dù cổ Phật tái
hiện trong thế gian chú giải lại kinh này cũng chẳng thể hay hơn
đƣợc! Chớ nên xem thƣờng, hãy tin nhận chắc chắn.
      Kinh Vô Lƣợng Thọ có bản sớ giải của pháp sƣ Huệ Viễn đời
Tùy, giải văn thích nghĩa thật là trong sáng, gãy gọn. Kinh Quán
Vô Lƣợng Thọ có bản [chú giải] Tứ Thiếp Sớ của hòa thƣợng
Thiện Đạo. Ngài chỉ muốn khiến cho ba căn cùng đƣợc lợi ích
nên đa phần phát huy về mặt sự tƣớng. Sau phần nói về Thƣợng
Phẩm Thƣợng Sanh, Ngài phát huy sự hơn kém của hai cách
Chuyên Tu và Tạp Tu, khiến ngƣời đọc sanh lòng tin chân thành
kiên cố. Dù đức Thích Ca Mâu Ni Phật và chƣ Phật hiện thân
bảo bỏ pháp môn Tịnh Độ này để tu các pháp môn khác cũng
chẳng thay đổi ý nguyện chút nào; có thể nói sách ấy là kim chỉ
nam cho hành giả Tịnh nghiệp.
Còn nhƣ cuốn Quán Kinh Diệu Tông Sao của tông Thiên Thai thì
do đế lý cực viên dung nên trung hạ căn chẳng đƣợc lợi ích,                                                                             339
chẳng bằng sách Tứ Thiếp Sớ lợi khắp ba căn, lợi
căn hay độn căn đều đƣợc lợi ích cả!
* Cổ nhân muốn cả thế gian cùng tu nên lấy kinh A Di Đà làm
nhật khóa, bởi lẽ kinh này ngôn từ ngắn gọn, nghĩa lý phong phú,
hạnh giản dị, hiệu quả nhanh chóng. Bậc đại sĩ hoằng pháp chú
sớ, ngợi khen kinh này từ cổ đến nay chẳng đếm đƣợc hết.
Trong số đó, tìm lấy bản rộng lớn, tinh vi thì không bản nào bằng
đƣợc tác phẩm Sớ Sao của ngài Liên Trì; còn thẳng chóng, yếu
diệu thì không chi bằng tác phẩm Yếu Giải của ngài Ngẫu Ích. U
Khê đại sƣ dùng pháp ấn Đế - Quán bất nhị của tông Thiên Thai
để soạn Lƣợc Giải Viên Dung Trung Đạo Sao lý cao thâm nhƣng
sơ cơ vẫn lãnh hội đƣợc, văn giảng minh bạch nhƣng ngƣời tu
lâu [đọc đến] vẫn khâm phục.  
      * Về Tịnh Độ thì chọn lấy sách nhƣ Di Đà Sớ Sao, ngôn từ
giản dị nhƣng tinh vi, lý sâu xa nhƣng dễ nhận, thật là cuốn sách
trọng yếu trong Tịnh Độ, là ngƣời hƣớng dẫn tốt cho kẻ sơ cơ.
      * Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện của kinh Hoa Nghiêm dùng
mƣời đại nguyện vƣơng để dẫn dắt quy hƣớng Tịnh Độ. Đọc
phẩm này sẽ biết rằng pháp Niệm Phật cầu sanh Tây Phƣơng
chính là chỗ quy kết sau cùng để thành Phật trong một đời của
kinh Hoa Nghiêm, thật là phƣơng tiện tối thắng để tự lợi khi tu
nhân, là phƣơng tiện tối thắng để lợi tha khi đắc quả của mƣời
phƣơng chƣ Phật.                                                                            340
      * Phẩm Hạnh Nguyện nghĩa lý bao la, văn tự vi
diệu. Tụng đến khiến cho chấp trƣớc ta - ngƣời - chúng sanh của
con ngƣời biến mất nào còn có nữa, thiện căn vãng sanh Tịnh
Độ ngày càng thấy tăng trƣởng, ắt sẽ tự hành dạy ngƣời; nhƣng
chẳng đƣợc nghĩ rằng “chƣa trì kinh này, dù có tu Tịnh Độ cũng
là bạc phƣớc, thiên lệch!”
Các vị Liên Trì, Ngẫu Ích v.v... cũng đều cực lực tán dƣơng [kinh
Di Đà]. Trong Di Đà Yếu Giải có câu: “Trong giáo pháp cả một
đời của đức Nhƣ Lai, chỉ mình kinh Hoa Nghiêm nói về một đời
viên mãn, nhƣng cái nhân để viên mãn chỉ trong một đời là ở
phần cuối kinh: ngài Phổ Hiền dùng mƣời đại nguyện vƣơng dẫn
dắt hƣớng về Cực Lạc để khuyến tấn Thiện Tài và Hoa Nghiêm
hải chúng.
Ôi! Điều kinh Hoa Nghiêm đã dạy lại nằm trọn trong kinh này,
nhƣng thiên hạ xƣa nay tin thì ít, nghi lại nhiều, nói càng nhiều
nghĩa càng hao, tôi chỉ còn có cách mổ tim vẩy máu mà thôi!”
Vì thế, ngài Vô Ẩn nói: “Hoa Nghiêm là quảng bản Di Đà (bản
kinh Di Đà nói rộng), kinh Di Đà là lƣợc bản Hoa Nghiêm (bản
kinh Hoa Nghiêm nói giản lƣợc)”. Xem lời của hai vị đại sƣ ắt biết
rằng xem kinh mà thiếu con mắt viên đốn chính là cô phụ ân Phật
nhiều lắm!
      * Cuối quyển 5 kinh Lăng Nghiêm là chƣơng Đại Thế Chí
Niệm Phật Viên Thông, đấy chính là lời khai thị tối thƣợng của
Tịnh tông. Chỉ riêng mình chƣơng này đã có thể sánh cùng bốn
kinh tạo thành Tịnh Độ ngũ kinh!
      * Sách Tịnh Độ Thập Yếu do đại sƣ Ngẫu Ích dùng mắt kim
cang xem khắp các sách xiển dƣơng Tịnh Độ mà soạn thành một                                                                             341
tác phẩm khế lý, khế cơ, chí cực không thể thêm gì
đƣợc nữa. [Trong sách ấy, cuốn] thứ nhất là Di Đà Yếu Giải do
đại sƣ tự soạn, văn uyên thâm nhƣng dễ lãnh hội, lý viên đốn
nhƣng duy tâm, không gì tuyệt hơn. Hãy nên thƣờng xem, đọc,
nghiền ngẫm. Chín cuốn còn lại không cuốn nào lý viên mãn, từ
ngữ hay khéo, khế hợp thời cơ sâu xa bằng cuốn Yếu Giải. Dù
chƣa thể hiểu trọn vẹn mỗi một cuốn, nhƣng một phen giở xem
khác nào uống thuốc tiên, dần dà lâu ngày, phàm chất ắt thành
xác tiên vậy.
      * Sách Tịnh Độ Thánh Hiền Lục chép tỉ mỉ các hạnh nguyện
khi tu nhân và công đức khi đã đắc quả của Phật Di Đà, và các
việc tự hành dạy ngƣời của các vị Bồ Tát Quán Âm, Thế Chí,
Văn Thù, Phổ Hiền, Mã Minh, Long Thọ... Kế đến là các sự tích
vãng sanh của từ Viễn Công (tổ Huệ Viễn), Trí Giả cho đến các
đại tổ sƣ, thiện tri thức đầu đời Thanh; rồi đến sự tích niệm Phật
vãng sanh của tỳ kheo ni, vua quan, sĩ thứ, phụ nữ, ác nhân, súc
sanh. Lại còn chọn chép cả những ngôn luận thiết yếu ngõ hầu
ngƣời đọc có căn cứ để chọn lấy pháp, không cách nào nghi ngờ
đƣợc nữa, bèn noi gƣơng cổ nhân tận lực tu Tịnh nghiệp. So với
việc tham phỏng thiện tri thức, đọc sách này lại càng thật sự
quan yếu hơn.

      * Sách Long Thƣ Tịnh Độ Văn đoạn nghi khởi tín, bao lƣợt
phân tích, trình bày rành rẽ, chia môn định loại pháp môn tu trì, là
cuốn sách hƣớng dẫn quý bậc nhất của ngƣời sơ cơ. Nếu muốn
lợi lạc khắp hết thảy, chẳng thể không bắt đầu từ cuốn sách này.
      * Sách Pháp Uyển Châu Lâm (gồm một trăm quyển) luận rõ
nhân quả, lý - sự cùng nêu, sự tích báo ứng rành rẽ phân minh.                                                                             342
Đọc đến không lạnh mà run, dù ở trong nhà kín
phòng tối vẫn thƣờng nhƣ đang đối diện Phật, trời, chẳng dám
nảy sanh chút ác niệm nào. Thƣợng - trung - hạ căn đều đƣợc
lợi ích, chẳng đến nỗi vƣớng mối tệ nhận lầm đƣờng nẻo, chấp
lý phế sự, ngả theo thiên tà, cuồng vọng. Nhƣ ngài Mộng Đông
nói: “Ngƣời khéo bàn tâm tánh ắt chẳng bỏ lìa nhân quả, ngƣời
tin sâu nhân quả rốt cuộc sẽ hiểu thật rõ tâm tánh”. Lẽ ấy thế
đƣơng nhiên nhƣ thế.
Câu nói này của ngài Mộng Đông quả là lời bàn luận cùng tột
thiên cổ chẳng sửa đổi đƣợc, mà cũng là mũi kim đâm thẳng
xuống đỉnh đầu những kẻ cuồng huệ buông tuồng vậy.
      * Bộ An Sĩ Toàn Thƣ giác thế, dạy ngƣời tận thiện tận mỹ,
bàn đạo luận đức, vƣợt cổ siêu kim, lời lẽ giản dị nhƣng súc tích,
lý sâu nhƣng dễ hiểu, dẫn những sự tích có chứng cứ đích xác,
phát huy tột cùng uyên nguyên những nghĩa luận, đúng là của
báu để lƣu truyền cho con cháu, mà cũng là bộ kỳ thƣ để tuyên
giảng.
Mỗi lời đều là tâm pháp của Phật, của Tổ, là đạo mạch thánh
hiền, là đạo trọng yếu khiến đời yên, dân hiền, là bí phƣơng rạng
rỡ, tốt lành. Nếu có thể hành đúng theo sách ấy sẽ nối chí thánh
hiền, liễu sanh thoát tử giống nhƣ đƣa ra giấy cầm đồ để lấy lại
vật cũ, sánh với những thiện thƣ khác đƣợc lƣu thông trong đời
thì có khác nào đem quả núi sánh với đụn đất, biển cả sánh với
vũng nƣớc vậy!
An Sĩ tiên sinh họ Châu, tên Mộng Nhân, còn có tên là Tƣ Nhân,
ngƣời Côn Sơn, tỉnh Giang Tô, thông hiểu rộng khắp kinh sách
của tam giáo (Phật - Nho - Lão), tin tƣởng sâu xa vào pháp môn
Niệm Phật, đến tuổi nhƣợc quan (chừng 20 tuổi) đi học bèn chán
con đƣờng khoa cử, phát Bồ Đề tâm, soạn sách giác ngộ ngƣời                                                                             343
đời, ngõ hầu trƣớc là để ai nấy chẳng lầm lỗi, sau là
thoát khỏi biển khổ sanh tử.
Vì thế, ông viết cuốn sách khuyên kiêng giết hại đặt tên là Vạn
Thiện Tiên Tƣ, sách giới dâm tên Dục Hải Hồi Cuồng. Ấy là vì
chúng sanh tạo nghiệp chỉ hai sự này là nhiều nhất, mà sửa lỗi
thì cũng chỉ hai sự này là khẩn yếu nhất. Ông còn soạn Âm Chất
Văn Quảng Nghĩa (giảng rộng nghĩa lý bài Âm Chất Văn của Văn
Xƣơng Đế Quân) ngõ hầu với mỗi một pháp, ai cũng biết phân
biệt đầu mối, đều biết kiêng dè. Sách phê bình, biện luận cùng
tột, tinh vi, đáng gọi là bậc công thần của Đế Quân, triệt để bóc
trần, phơi bày tất cả cái tâm rủ lòng giáo huấn khiến cho ngàn
đời trƣớc, ngàn đời sau cả ngƣời giáo huấn lẫn ngƣời đƣợc giáo
huấn không buồn bã, tiếc nuối gì. Ấy là vì tiên sinh kỳ tài diệu
ngộ, đã dùng những sự tích thế gian để phát huy những nghĩa lý
áo diệu, u vi của Phật, Tổ, khiến cho ngƣời nhã, kẻ tục cùng
xem, ngƣời trí, kẻ ngu cùng hiểu.
      Lại vì trong các pháp môn tu hành, chỉ có pháp Tịnh Độ là
thiết yếu nhất nên tiên sinh lại soạn cuốn Tây Quy Trực Chỉ để
giảng rõ đại sự niệm Phật cầu sanh Tây Phƣơng, liễu sanh thoát
tử. Bởi lẽ, tích đức tu thiện chỉ đƣợc phƣớc nhân - thiên, phƣớc
hết lại phải đọa lạc. Niệm Phật vãng sanh là dự vào địa vị Bồ Tát,
quyết định đạt thành Phật đạo.
Ba cuốn sách đầu tuy dạy ngƣời tu thiện nghiệp thế gian, nhƣng
vẫn gồm đủ pháp liễu sanh thoát tử. Cuốn sách thứ tƣ tuy dạy
ngƣời pháp liễu sanh tử, nhƣng phải tận lực hành điều thiện thế
gian. Thật có thể nói là tiên sinh hiện thân cƣ sĩ để thuyết pháp
độ sanh. Ai bảo tiên sinh chẳng phải là Bồ Tát tái lai, tôi chẳng
dám tin.

      * Văn bút lẫn nghĩa luận của sách Cảm Ứng Thiên Vựng Biên
thảy đều siêu tuyệt, nhƣng chẳng đƣợc quán thông Phật pháp                                                                             344
nhƣ An Sĩ Toàn Thƣ. Ngoại trừ sách An Sĩ Toàn Thƣ
ra, tôi cho rằng cuốn này là hay nhất.
      * Sách Cảm Ứng Thiên giảng thẳng [vào vấn đề], là sách do
bậc đại thông gia soạn, lời chú giải thuần dùng văn bạch thoại,
chỉ đọc qua một lƣợt, sẽ tự hiểu rõ ý nghĩa. Lúc con cái còn nhỏ,
rất nên bảo chúng đọc sách này để nhờ sách này răn dạy con cái
mình, tƣơng lai chúng ắt sẽ đƣợc thọ dụng chân thật hòng gỡ bỏ
mối lo cho mình.
      * Sách Cƣ Sĩ Truyện do tiến sĩ Bành Thiệu Thăng ở Tô Châu
soạn vào thời Càn Long. Ông xem khắp các sách vở, chọn lấy
những gƣơng đại trung, đại hiếu, thanh cao, chánh trực,  liêm
khiết, hữu công danh giáo, hiểu sâu Phật pháp từ đời Hán đến
nay, ghi chép những sự nhập đạo, tu chứng của họ, và chép cả
những câu văn phát huy Phật pháp. Số ngƣời đƣợc chép lên đến
mấy trăm ngƣời, chép thành sáu quyển.
      * Tam Giáo Bình Tâm Luận do học sĩ Lƣu Mật đời Nguyên
soạn. Trƣớc hết, sách chỉ rõ tam giáo đều khuyên ngƣời dứt ác
tu lành, chẳng nên phế một giáo nào. Tiếp đó, sách luận rõ công
dụng cùng cực của từng giáo sâu cạn bất đồng. Cuối cùng sách
đả phá sạch những thuyết của Hàn Dũ, Âu Dƣơng, Trình, Chu.
      * Thích Thị Kê Cổ Lƣợc chép theo năm tháng các đời, ghi sự
tích của Thích Nho thành từng mục. Từ Phục Hy cho đến cuối
đời Minh, quốc gia thái bình hay loạn lạc, Phật pháp hƣng thịnh
hay suy vong, tội do hủy báng, phƣớc do tin tƣởng, lợi ích do tu                                                                             345
trì, pháp ngữ của tổ sƣ, hạnh chân thật của chƣ
Tăng, và những kẻ trung thứ lỗi lạc, kẻ gian ác cùng cực đều
chép tỉ mỉ cả khiến cho ai nấy giở xem liền biết pháp giới, ngồi
ngay ngắn xem khắp cổ kim, há phải đâu chỉ có ích cho riêng
ngƣời tu đạo, mà còn là của báu kỳ lạ trong tay áo của những ai
đọc sách để luận cổ suy kim nữa!
* Nếu đã có tín tâm, hãy nên đọc các sách Tịnh Độ. Nếu chẳng
thể đọc nhiều thì chọn lấy cuốn sách dễ hiểu, nghĩa lý rộng rãi
nhất nhƣ cuốn Kính Trung Kính Hựu Kính (trong các con đƣờng
tắt nhất, lại là con đƣờng tắt hơn nữa). Cuốn sách này thâu thập
yếu nghĩa của các nhà, phân môn chia loại, khiến ngƣời xem đến
chẳng phí sức nghiên cứu, tìm đọc mà ngộ thẳng vào chỗ yếu
diệu, cốt tủy của Tịnh Độ. Đối với kẻ sơ cơ, sách này có lợi ích
rất lớn.
* Cao Tăng Truyện quyển 1, 2, 3, 4; Cƣ Sĩ Truyện, Tỳ Kheo Ni
Truyện, Thiện Nữ Nhân Truyện, Tịnh Độ Thánh Hiền Lục đều ghi
chép lời lẽ tốt lành, hành vi cao đẹp của chƣ cổ đức. Xem đến ắt
sẽ nảy lòng vui mừng ngƣỡng mộ, trọn chẳng đến nỗi mắc lỗi
đƣợc chút ít đã cho là đủ, cam phận kém hèn.
Hoằng Minh Tập, Quảng Hoằng Minh Tập, Đàm Tân Văn Tập,
Chiết Nghi Luận, Hộ Pháp Luận, Tam Giáo Bình Tâm Luận, Tục
Nguyên Giáo Luận, Nhất Thừa Quyết Nghi Luận đều là những
sách hộ trì giáo pháp. Đọc đến chẳng những không bị tà ma,
ngoại đạo mê hoặc, lại còn phá tan đƣợc thành lũy tà kiến của
chúng nữa. Các sách này đọc đến sẽ khiến cho chánh kiến kiên
cố, chúng có thể dùng để chứng tỏ, soi sáng kinh giáo. Chớ bảo
là “cứ nhất tâm đọc kinh, chẳng thèm dòm dõi gì đến những sách
ấy”. Cái tri kiến sai biệt ấy nếu không đả thông đƣợc, khi gặp
địch rất có thể bị chuốc lấy nhục vậy!                                                                            346
* Sách Mộng Đông Ngữ Lục do cƣ sĩ Tiền Y Am trích tuyển
những câu nói chuyên dạy về Tịnh Độ trong Mộng Đông Di Tập
soạn thành, lƣu truyền ở phƣơng Nam ngõ hầu đáp ứng nỗi hận
đã lâu của những ngƣời vô duyên hội ngộ. Toàn tập thì có ở Bắc
kinh, nhƣng ở phƣơng Nam chỉ có lƣợc bản này. Sách này văn
từ, nghĩa lý tinh diệu, là trƣớc tác đáng xếp hạng nhất sau sách
của các vị Ngẫu Ích, Tỉnh Am.
* Ngài Mộng Đông nói: “Thật vì sanh tử, phát Bồ Đề tâm, dùng tín
nguyện sâu trì danh hiệu Phật”. Mƣời sáu chữ này là đại cƣơng
tông của pháp môn Niệm Phật. Một đoạn khai thị này tinh vi, thiết
thực đến cùng cực, hãy nên đọc kỹ.
Toàn bộ sách Mộng Đông Ngữ Lục văn từ, nghĩa lý chu đáo, đích
thật là kim chỉ nam trong Tịnh tông. Nếu còn muốn đọc thêm nữa
thì cuốn Di Đà Yếu Giải của Ngẫu Ích lão nhân, đúng là một tác
phẩm hƣớng dẫn tốt ngàn đời chỉ có một.
Nếu có thể một lòng hành theo hai cuốn sách này sẽ chẳng cần
phải nghiên cứu hết thảy kinh luận nào nữa. Nếu thƣờng xem ba
kinh Tịnh Độ và các sách nhƣ Tịnh Độ Thập Yếu v.v... ngửa tin
lời chân thành của Phật, của Tổ, phát lòng tin chân thành, phát
nguyện thiết tha, dùng lòng chí thành cung kính trì danh hiệu
Phật, dù ở trong nhà tối phòng kín vẫn nhƣ đang đối trƣớc Phật,
trời, khắc kỷ giữ lễ, thành thật, cẩn thận, e dè, chẳng giống nhƣ
những kẻ trong đời hiện tại trọn chẳng câu thúc, phóng túng
không biết e sợ gì. Quang tôi dù còn là phàm phu sanh tử, vẫn
dám bảo đảm ngay trong đời này các hạ sẽ giã biệt Sa Bà, cao
dự hải hội, tự làm đệ tử Phật Di Đà, làm bạn hiền của các vị đại
sĩ.                                                                            347
* Có các sách Tịnh Độ, các giáo nghĩa Tịnh Độ nhƣ
thế, phải nên hiểu biết trọn vẹn; dù chẳng đọc khắp các kinh
cũng chẳng bị khiếm khuyết chi! Còn nhƣ chẳng biết đến pháp
môn Tịnh Độ, dẫu thâm nhập nghĩa lý mọi kinh, triệt ngộ tự tâm
lại toan liễu sanh thoát tử thì chẳng biết phải mất mấy đại kiếp
mới mãn đƣợc nguyện ấy! Chẳng biết đến món thuốc A Già Đà
(Hán dịch là Đối Trị, trị đƣợc hết thảy các bệnh) trị chung vạn
bệnh này thật đáng đau buồn thay! Biết nhƣng không tu, hoặc tu
nhƣng chẳng chuyên chí lại càng đáng đau tiếc hơn nữa!
Phần Tăng Bổ
1. Thƣ gởi Sài Dã Ngu
(Lá thƣ này vốn không có trong Văn Sao, nhân vì ngƣời đời
thƣờng đối với những nghĩa nhƣ mê - ngộ, chúng sanh - Phật,
cuồng - thánh v.v... khởi nghi nên kèm thêm thƣ này để giải trừ
những mối nghi ấy)
      Ai cũng có thể trở thành Nghiêu, Thuấn, ai cũng có thể thành
Phật. Nhƣng thánh thất niệm cuồng, cuồng chế ngự đƣợc niệm
ắt sẽ thành thánh. Mê thì Phật thành chúng sanh, ngộ thì chúng
sanh tức là Phật. Xét lẽ ấy, mấu chốt ở tại nơi ta. Vì thế, trên
phải ngƣỡng mộ chƣ thánh, dƣới phải trọng tánh linh của mình,
dè dặt kinh sợ, phẫn chí tu trì, đôn đốc luân thƣờng, tận hết bổn
phận, các điều ác đừng làm, vâng làm các điều thiện, sáng dậy
tối ngủ chẳng nẩy sanh điều gì đáng thẹn. Làm đƣợc nhƣ thế
chính là làm thánh, làm hiền, chẳng điếm nhục, ô uế trời đất.                                                                            348
Lại còn sanh lòng tín nguyện trì danh hiệu Phật, cầu
sanh Tây Phƣơng để mong tự chứng đƣợc Phật tánh sẵn có,
viên thành vô thƣợng Bồ Đề mới thôi. Đại trƣợng phu sanh trong
thế gian nếu chẳng biết đại thể, chỉ biết đắm đuối ăn uống, nam
nữ, tham cầu sắc thanh, của cải, lợi lộc thì có khác gì dị loại đâu?
Nỡ nào để cái tánh có khả năng làm đƣợc Nghiêu, Thuấn, có thể
thành Phật bị luân hồi trong lục đạo bao kiếp dài lâu, chịu đủ mọi
nỗi khổ cùng cực, chẳng đáng buồn ƣ?
Ngƣơi đã phát tâm quy y Tam Bảo thì phải lấy việc niệm niệm đối
trị phiền não làm gốc, ngăn tà, giữ lòng thành, khắc kỷ, giữ lễ, cải
ác tu thiện, trọn hết bổn phận, luân thƣờng, chuyên tu Tịnh
nghiệp, tự hành, dạy ngƣời, ngõ hầu trong là cha mẹ, anh em, vợ
con, quyến thuộc, ngoài là thân thích, bạn  bè, láng giềng chòm
xóm cùng đƣợc gội ân giáo hóa của Phật, cùng thành thiện nhân
mới chẳng uổng phí cái đời này, chẳng uổng duyên gặp gỡ này.
Sách Trung Dung nói: “Ai cũng bảo mình là ngƣời trí, nhƣng cứ
bị xua vào, vƣớng vào lƣới rập, hầm bẫy, chẳng ai biết tránh cả”.
Là vì chỉ biết hƣớng ngoại rong ruổi tìm cầu, chẳng biết hồi
quang phản chiếu, nên mới mắc hại nhƣ thế. Nếu có thể phản
chiếu tự tâm, ngầm vận dụng trí ngõ hầu tự chiếu ắt sẽ có thể
học thánh, học hiền, học Phật, học Tổ, ắt lúc sống đã dự  vào
cảnh giới thánh nhân, mất đi liền sanh về cõi nƣớc Cực Lạc. Đấy
là những điều Quang tôi vì ông mệnh danh là “đại ý”.
      Thêm nữa, chỉ vì thánh mất niệm thành cuồng, cuồng chế
ngự đƣợc niệm sẽ thành thánh, mê thì Phật thành chúng sanh,
ngộ thì chúng sanh chính là Phật. Nếu chẳng khéo hiểu bốn câu
này rất có thể đến nỗi sanh nghi, luận bàn lầm lạc. Nay tôi sẽ giải
thích sơ lƣợc.
Thứ nhất, nói Thánh hay Phật đều là ƣớc theo bản thể của tự
tâm mà nói, chứ chẳng phải đã thành Phật hay thành thánh. Tiếp
đó, “mất niệm”, “chế ngự đƣợc niệm”, “mê  - ngộ” đều là nói
ngƣời ấy nghịch hay thuận, có tu luyện, gìn giữ hay không. Cuối                                                                             349
cùng, “thành cuồng”, “thành thánh”, “thành chúng
sanh”, “chính là Phật” là nói đến hiệu quả của việc nghịch thuận,
tu trì, gìn giữ.
Nếu chẳng hiểu “thành Phật, thành thánh” là nói về bản thể, ắt sẽ
lầm tƣởng mình đã thành Phật, thành thánh, cũng nhƣ hiểu lầm
“thành cuồng”, “thành chúng sanh” sẽ có hại rất lớn. Bởi thế, tôi
chẳng thể không giảng sơ lƣợc cho ông hiểu về điểm này.
Những điều khác xin đọc kỹ Văn Sao ắt sẽ tự biết.
2. Thƣ phúc đáp Du Huệ Úc, Trần Huệ Sƣởng

      Nghiệp chƣớng sâu nặng, bẩm chất ngu tối, may đƣợc nghe
pháp môn Tịnh Độ nên đƣợc quy y dƣới tòa, chỉ còn biết tận lực
tuân thủ lời giáo huấn già giặn chắc thật của thầy tôi để mong
chóng liễu sanh tử, chẳng phụ tấm lòng đau đáu của thầy. Đã là
Phật tử, ắt phải phát tâm tự độ độ ngƣời. Nay các đệ tử chƣa tự
độ đƣợc mình, còn nói gì độ ngƣời, nhƣng khi gặp thân hữu phải
phƣơng tiện khuyên họ tin tƣởng, đấy cũng là phận sự của chính
mình vậy.
Thƣờng thấy có hai hạng ngƣời kiến giải hoặc lời lẽ đều khiến
mình lầm, khiến ngƣời khác lầm chẳng phải ít;
a) Một hạng cho rằng: Phật vô dục, kinh A Di Đà lại nói đến các
thứ vàng, chất báu, dƣờng nhƣ vẫn là dục vọng, chẳng bằng
kinh Kim Cang “hết thảy đều không” thật cao siêu huyền diệu.
Bởi thế, miệt thị pháp môn Tịnh Độ, chẳng sanh lòng tin. Hạng
ngƣời này chẳng hiểu ý nghĩa hai kinh Kim Cang và Di Đà nên
cứ chấp theo ý mình mà loạn đạo.                                                                            350
b) Hạng thứ hai cho rằng Phật dạy con ngƣời thấy rõ
bản tánh của hết thảy các pháp, cớ sao chính mình lại khởi lòng
tham dục? Sao chúng ta lại phải khổ sở bỏ đi cái thật sự có trƣớc
mắt để mong cầu chuyện vu vơ sau khi chết? Đây là hạng ngƣời
chấp trƣớc tà kiến, mặc tình báng Phật, báng Pháp.
Hai hạng ngƣời này tuy phẩm vị có cao thấp [khác nhau] nhƣng
đều tà kiến hệt nhƣ nhau, đều tự lầm, lầm ngƣời giống hệt nhau.
Các đệ tử phải tận lực bảo họ các thứ cảnh giới Tây Phƣơng đều
là thật tƣớng trang nghiêm do công đức của Phật A Di Đà hóa
hiện, là quả báo để hƣởng thọ phƣớc đức tự tại, chẳng giống với
đời ngũ trƣợc do nghiệp lực cảm thành.
Huống nữa, tất cả mọi thứ trong cõi Sa Bà đều là khổ, không, vô
thƣờng, nên phải buông bỏ chúng để cầu lấy những cái thật. Lời
lẽ của kẻ ngu này (tổ Ấn Quang tự xƣng) dù chẳng trái nghịch
chánh lý, vẫn chẳng thể phát khởi chánh tín nổi. Nghĩ lại thầy tôi,
tất cả ngôn luận của ngài đều nhƣ mặt trời rực rỡ, không tối tăm
nào chẳng chiếu tỏ đƣợc; đành xin mƣợn mấy lời trong sách để
phá mối tà kiến này.
      Thƣ các vị gởi tới có nhắc đến hai loại tà kiến này, ấy là dùng
tri kiến phàm phu để suy lƣờng cảnh giới Nhƣ Lai, giống nhƣ
Khổng Tử nói “thích thực hành trí huệ nhỏ nhoi” hay nhƣ Mạnh
Tử bảo là “tự mình bỏ phí”. Hạng ngƣời ấy vốn chẳng có tƣ cách
giá trị gì để đàm luận, nhƣng Phật từ rộng lớn chƣa từng bỏ bất
cứ loại ngƣời nào, nên chẳng ngại gì lập bày phƣơng tiện để
đánh thức cơn mơ ngủ của chúng.
Do Phật trọn chẳng có tâm tham nên mới cảm đƣợc các báu
trang nghiêm. Phàm những sự hóa hiện đều là những cảnh giới
trang nghiêm thù thắng chẳng cần phải tốn sức ngƣời trù tính, lo
liệu, cảnh giới phàm phu của thế giới Sa Bà há sánh đƣợc ƣ?
Ví nhƣ ngƣời từ thiện hữu đức, tâm địa hành vi thảy đều chánh
đại quang minh nên tƣớng mạo cũng hiện vẻ tƣơi sáng, hiền từ,                                                                             351
rạng rỡ. Cố nhiên họ chẳng có tâm mong cầu dung
nhan tƣớng mạo đẹp đẽ nhƣng tự nhiên đƣợc đẹp đẽ. Ngƣời tạo
nghiệp tâm địa cáu bẳn, ô uế, hung ác, nên diện mạo cũng tăm
tối, dữ dằn theo. Cố nhiên họ chỉ muốn vẻ mặt mình đẹp đẽ,
khiến  ngƣời khác tƣởng mình là thiện nhân chánh đại quang
minh, nhƣng vì tâm địa chẳng lành dù có muốn thế cũng chẳng
đƣợc.
Đấy là ƣớc theo con mắt của phàm phu, chứ trong mắt quỷ thần,
họ sẽ thấy thiện nhân thân có quang minh. Quang minh lớn hay
nhỏ tùy thuộc ngƣời ấy đức lớn hay nhỏ. Quỉ thần thấy ngƣời ác
thân có các tƣớng hắc ám, ác bạo... tƣớng ấy lớn hay nhỏ cũng
do kẻ đó ác nhiều hay ít mà hiện.
Kẻ [tà kiến] kia bảo kinh Kim Cang là không, chính là chẳng hiểu
kinh Kim Cang chỉ phát minh lý tánh chứ chƣa luận đến quả báo
do chứng đƣợc lý tánh. Sự trang nghiêm nơi cõi nƣớc Thật Báo
không chƣớng ngại chính là quả báo rốt ráo đạt đƣợc của kinh
Kim Cang. Phàm phu nghe đến ắt sẽ ngờ vực làm sao có chuyện
ấy đƣợc.
Kinh Kim Cang nhằm dạy kẻ trai gái lành phát Bồ Đề tâm nhƣng
chẳng trụ tƣớng, mà lại muốn độ hết chúng sanh. Dù độ vẫn
chẳng thấy mình là ngƣời độ, chúng sanh là kẻ đƣợc độ, cũng
chẳng thấy có pháp Niết Bàn rốt ráo để đạt đƣợc. Đó gọi là “vô
sở trụ nhi sanh tâm”, đã đạt vô sở đắc mà thành Phật; há nên
bảo đức Phật đƣợc thành và cõi nƣớc ngài trụ trong kinh Kim
Cang cũng chỉ giống nhƣ cảnh giới ngũ trƣợc ác thế này ƣ?
Cũng chỉ là rỗng tuếch chẳng có đƣợc một vật gì ƣ?
Cõi Phật thanh tịnh, ngƣời ta một phen đƣợc nghe đến thân tâm
liền thanh tịnh, thế nhƣng kẻ kia lại bảo là tham dục, thì gã đó chỉ
là giòi tửa sống trong hầm xí, tự khoe mình thơm tho, sạch sẽ,
chê chiên đàn là hôi thối, chẳng mong lìa khỏi hầm phân đó để
ngửi đƣợc mùi thơm này!                                                                            352
Lũ Đạo Chích (7) tụ tập cả mấy ngàn đứa, hoành
hoành trộm cắp trong thiên hạ, lại tự khoe mình là hạng có đạo
đức, thống trách vua Nghiêu bất nhân, vua Thuấn bất hiếu, vua
Vũ dâm dật, vua Thang, Châu Võ Vƣơng bạo loạn, chê Khổng
Tử là ngụy, là vô đạo; tri kiến của chúng có khác gì hai hạng
ngƣời tà kiến ấy đâu?
      Lại nhƣ gần đây, có kẻ phế kinh, phế hiếu, phế cả luân
thƣờng, trần truồng đi lại, cho đó là bẩm thọ đức tự nhiên của
trời đất, chẳng nhọc lòng tạo tác. Nhƣng nếu Hạ đã đua nhau lõa
lồ, sao Đông về lại chẳng trần truồng nữa? Bảo là bẩm thọ tự
nhiên, chẳng cần phải tạo tác, sao lại phải đào giếng, cày ruộng,
dệt vải mới hòng có cái ăn cái mặc, chẳng phải là tạo tác đó ƣ?
Kẻ ác phá hoại, ngăn trở ngƣời khác làm lành thƣờng nhƣ thế.
Họ cứ bảo “làm lành phải vô tâm, nếu hữu tâm thì chẳng phải là
làm lành thật sự”! Nhƣng thánh hiền tự cổ không ai chẳng sáng
lo chiều lắng, dè dặt, cẩn thận nhƣ vào nơi vực sâu, nhƣ đi trên
băng mỏng, chẳng phải là hữu tâm ƣ? Nói chung, hạng ngƣời ấy
ý chỉ muốn coi không tu trì là cao thƣợng, nên mới đề ra luận
thuyết mù lòa cực hạ tiện nhƣ thế, tự huyễn mình là bậc hiểu lý,
mong ngƣời coi mình là bậc cao minh, là đại thông gia, là chân
danh sĩ, chẳng hề biết toàn thân đang ở trong hầm phẩn. Trừ
những kẻ có cùng tri kiến, nào ai chấp nhận những lý lẽ ấy đâu!
3. Thƣ phúc đáp cƣ sĩ Ngu Tăng
      Một việc phóng sanh vốn là để cảm phát cái tâm kiêng giết,
cứu vật cho đồng nhân, thực hành tâm trắc ẩn bất nhẫn đó thôi.
Thế nhân phần nhiều tâm hạnh khác nhau, dù chẳng thể khiến
cho mọi ngƣời đều cảm động, nhƣng nếu cảm  động đƣợc một                                                                             353
ngƣời thì cả đời ngƣời ấy đã bớt giết cả mấy ngàn
sanh mạng, huống hồ nào phải chỉ có mỗi một ngƣời thôi đâu!
Còn nhƣ ông bảo cá lớn nuốt cá bé, dù có thả nó xuống sông
sâu cũng khó cứu nó thoát nạn lƣới chài. Điều suy nghĩ ấy tựa
hồ hữu lý, nhƣng thật ra là trở ngại thiện niệm, hỗ trợ sát nghiệp
của ngƣời khác! Ngƣời ấy may mắn làm thân ngƣời, may ra
chẳng đến nỗi thân bị giết hại nên mới lý luận vô lý nhƣ thế, toan
dùng cái trí của mình ngăn trở việc phóng sanh.
Nếu nhƣ họ bị vƣớng chài và là các sanh mạng sắp bị giết, nhất
định họ sẽ chẳng khởi lên các tƣởng niệm nhƣ thế, chỉ mong có
ai cứu lấy mạng sống của mình, quyết chẳng có ý niệm “không
mong đƣợc ngƣời khác cứu, chỉ sợ sau này lại bị con vật khác
ăn mất, bị ngƣời khác bắt đƣợc, chỉ mong cam tâm bị giết để sau
này khỏi bị mắc các nạn ấy nữa”. Dù lúc ấy có ý niệm nhƣ thế đi
nữa, vẫn chẳng đáng để bàn cãi; huống hồ trong lúc ấy vạn vạn
phần chẳng thể nghĩ tƣởng nhƣ thế đƣợc!
Kẻ nào nhằm lúc mình chẳng bị dính dấp đau đớn gì bèn ngăn
trở thiện niệm của ngƣời khác, nói những lời khơi động sát cơ
cho ngƣời khác nhƣ thế, mà nếu đời sau chẳng thọ báo thì nhật
nguyệt sẽ mọc ngƣợc, trời đất sẽ bị đảo lộn! Có nên thốt lời xằng
bậy chăng?
Dĩ nhiên có chuyện cá lớn nuốt cá nhỏ, thả ra rồi lại bị bắt cũng
chẳng phải là không thể có, nhƣng nói cá lớn ăn sạch cá nhỏ
không còn sót gì, quyết chẳng có lẽ ấy! Đƣợc thả rồi lại bị ngƣời
khác bắt sạch hết cũng quyết chẳng có lẽ ấy! Cần chi phải lo quá
nhƣ thế? Ví nhƣ cứu giúp ngƣời bị nạn, nếu cho một manh áo,
hoặc cho một bữa ăn cũng có thể giúp cho ngƣời ấy chẳng đến
nỗi phải bị chết ngay, nhƣng lại cứ đối trƣớc ngƣời ấy bảo: “Một
manh áo, một bữa cơm này sao có thể khiến ngƣời ấy no ấm
suốt đời đƣợc? Có cho cũng chẳng lợi ích gì, chẳng thà mặc cho
kẻ  đó đói lạnh đến chết ắt kẻ ấy chẳng phải chịu đói lạnh dài
lâu!”                                                                            354
Lại nhƣ cƣờng đạo cƣớp giật ngƣời khác, kẻ có sức
mạnh ra tay chống cự, ngăn trở, kẻ kia bèn bảo: “Nếu ông có thể
chống cự, ngăn trở kẻ cƣớp cả đời mới thật là tốt, còn nhƣ chỉ
chống cự, ngăn trở một lúc thì rốt cuộc có ích lợi gì đâu? Chẳng
thà mặc cho nó cƣớp hết sạch đi, sau này mới khỏi bị cƣớp nữa
thì tốt hơn!” Đối với con cái, cha mẹ thƣờng chăm sóc, nuôi
nấng, nhƣng mẹ hiền chẳng thể chăm sóc thân đời sau của con;
kẻ kia bèn bảo: “Đã  chẳng thể chăm sóc, nuôi nấng thì chẳng
bằng giết phứt nó đi, chẳng tốt hơn sao?”
Quân tử tu đức chẳng vì điều thiện nhỏ bèn không làm, chẳng vì
điều ác nhỏ mà làm. Kẻ kia cứ muốn muôn sự chẳng sai suyển
điều gì mới chịu hành phóng sanh, tức là muốn cho  thế nhân
suốt cả đời chẳng làm những việc phóng sanh, kiêng giết. Tƣơng
lai khi kẻ ấy sắp bị chết, cả vạn ngƣời không có lấy một ai cứu
cho. Đau thay, buồn thay; chẳng đặng đừng phải dài dòng phân
giải!
4. Thƣ phúc đáp cƣ sĩ Thiệu Huệ Viên
      Hôm qua nhận đƣợc thƣ ông gởi đến, trong xóm ông có ông
Phan Trọng Thanh ở Trƣơng Gia Khẩu gởi thơ muốn đƣợc quy
y. Ngƣời này tánh tình chân thành, chất phác, cũng có học vấn.
Ông ta đã phát tâm thì Quang tôi cũng chỉ tùy duyên.
Nay tôi đặt pháp danh quy y cho ông ta là Huệ Thuần, bởi hết
thảy chúng sanh đều có Phật tánh, tức là đều có Phật huệ;
nhƣng vì bị tham, sân, si v.v... xen tạp nên Phật huệ bị trở thành
tri kiến chúng sanh. Nay đã biết vốn sẵn đủ Phật huệ thì đối với
tất cả những điều nghĩ ngợi, móng niệm, xử sự thảy đều kiểm
điểm, chẳng cho những tri kiến tham, sân, si... phát sanh.                                                                            355
Lại còn phải dùng lòng tín nguyện sâu trì danh hiệu
Phật, kiêng giết, phóng sanh, yêu tiếc tánh mạng loài vật, đừng
làm các điều ác, vâng làm các điều thiện, tự hành, dạy ngƣời
cùng tu Tịnh nghiệp thì trí huệ ấy sẽ dần dần thuần. Nếu giữ
đƣợc nhƣ vậy chẳng để mất, vãng sanh Tây Phƣơng thì huệ ấy
càng dễ thuần, đến khi phiền não hết sạch, phƣớc huệ viên mãn
là huệ đã thuần đến cực điểm bèn viên thành Phật đạo.
Thế nhân hay lầm tƣởng mình có trí huệ, chẳng biết rằng trí huệ
đó là vàng còn trong quặng, trọn chẳng sử dụng đƣợc, cần phải
nung luyện cho tiêu sạch hết mọi tạp chất thì mới có ích. Đại ý
nhƣ thế, mong hãy dốc chí!
Ngƣời học Phật tận lực thực hành nhiệm vụ.  Nay thế nhân đa
phần miệng lƣỡi nhanh nhạy, ăn nói hay ho, bóng bảy, trong
bụng thối nát, vô ích, thật đáng buồn!
5. Thƣ gởi cƣ sĩ Vƣơng Tâm Thiền
      Mẹ ông đã có thể niệm Phật thì hãy bảo các nàng dâu giúp
mẹ niệm Phật. Lại nên khuyên bà ăn chay trƣờng để trợ thành
đạo nghiệp cho mẹ mới là hiếu. Nếu cứ nghĩ niệm Phật chỉ sợ
tổn hao tâm lực, ăn chay sợ chẳng đúng phép vệ sinh mới là
hiếu thì lòng hiếu ấy khác gì con La Sát cái yêu ngƣời đâu.
Hiếu nhƣ vậy phá hoại đạo nghiệp của mẹ, chẳng làm  cho mẹ
đƣợc liễu sanh thoát tử, trái lại còn khiến mẹ ở mãi trong sanh
tử. Hiếu nhƣ vậy là đã xô ngƣời xuống giếng, còn quăng thêm đá
nữa, khiến cho mẹ chẳng đƣợc siêu sanh, luân lạc bao kiếp. Dù
là hiếu nhƣng chẳng biết hiếu đúng cách lại hóa thành ngỗ
nghịch.                                                                            356
Ông lo việc công, về hình dáng bất tất phải làm ra vẻ
tu trì, nhƣng trong lòng chẳng thể thƣờng nghĩ nhớ hay sao?
Nếu ông nhớ mẹ, ai cấm trong tâm ông thƣờng nhớ đến mẹ?
Ông tự thốt lên những lời trở ngại ấy nhƣng toàn là luận về mặt
hình tích, nào phải là luận trên phƣơng diện tâm địa? Hiện tại
thời cuộc nguy ngập nhƣ thế, nếu trong tâm vẫn chẳng chịu thầm
niệm Phật thì chuyện tƣơng lai chẳng biết phải giải quyết nhƣ thế
nào!
Ông đọc Văn Sao, Gia Ngôn Lục, nhƣng những điều nói trong
các sách ấy vẫn chƣa đủ để xóa tan đƣợc lòng nghi nên tôi lại
phải dùng một tờ giấy với vài trăm chữ để an ủi, vỗ về, đều là do
ông thƣờng ngày chẳng chịu suy xét, nghiền ngẫm mà ra cả.
Ông hãy nên đem lòng hiếu đúng đắn để dạy các cô con dâu,
thƣờng mật niệm tự hành thì lợi ích rất lớn. Mong ông hãy hạ cố
xét kỹ thì thật là may lắm vậy!
      Liên Trì đại sƣ nói: “Cha mẹ lìa đƣợc trần cấu, đạo làm con
mới đƣợc thành tựu”. Vì thế, sau khi cha mẹ đã mất, phận làm
con đều phải nên chí thành niệm Phật ngõ hầu cha mẹ chƣa
đƣợc vãng sanh sẽ đƣợc vãng sanh, vãng sanh rồi sẽ liền cao
thêm phẩm vị. Điều ấy phù hợp với ba thứ phƣớc Tịnh nghiệp
dạy trong Quán Kinh, thành tựu đạo hiếu thế gian và xuất thế
gian vậy.

13.ThapTamToAnQuang
                                                                              
Ấn Quang Gia Ngôn Lục hết
                          phật tử - Nguyễn Xuân Cương st.

6351133
Hôm nay
Hôm qua
Tháng này
Tháng trước
Tổng số
1659
5000
119035
138003
6351133