Tắm thuốc – phương pháp trị bệnh độc đáo trong Đông y

Tắm rửa là một nhu cầu vệ sinh tự nhiên của con người nhằm mục đích tẩy rửa các chất bẩn trên da khiến cho cơ thể trở nên sạch sẽ.

Tắm rửa là một nhu cầu vệ sinh tự nhiên của con người nhằm mục đích tẩy rửa các chất bẩn trên da khiến cho cơ thể trở nên sạch sẽ.

Không chỉ có vậy, trải qua quá trình tích luỹ kinh nghiệm con người cũng nhận thức được rằng: tắm rửa còn có tác dụng phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ ở một mức độ nhất định, đặc biệt là khi tắm rửa bằng nước nóng. Dân gian phương Đông  xưa có câu:

“Xuân thiên tẩy cước, thăng dương cố hoát

Hạ thiên tẩy cước, thử thấp khả khứ

Thu thiên tẩy cước, phế nhuận tràng thu

Đông thiên tẩy cước, đan điền ôn chước.”

Mùa xuân rửa chân có thể làm cho dương khí đi lên chống được các chứng sa, chứng thoát. Mùa hè rửa chân có tác dụng trừ thử thấp. Mùa thu rửa chân có thể làm cho phổi và ruột được nhu nhuận. Mùa đông rửa chân có thể làm ấm vùng đan điền.

Dần dần, con người còn biết sử dụng các dược vật chế thêm vào nước để tắm rửa nhằm mục đích nâng cao hiệu quả phòng chống bệnh tật. Ở phương Đông, cổ nhân gọi phương pháp này là Dược dục liệu pháp (DDLP). Vậy dược dục liệu pháp là gì ? Lịch sử phát sinh và phát triển của nó ra sao ? Đặc trưng của nó như thế nào ? Một số vấn đề cơ bản được trình bày dưới đây sẽ giúp bạn đọc hiểu biết thêm về phương pháp trị bệnh độc đáo này.

* Dược dục liệu pháp là gì ?

Về cơ bản có thể hiểu DDLP là phương pháp cho thêm vào nước thường hoặc trực tiếp sử dụng dịch thuốc Y học cổ truyền làm nước để tắm rửa toàn thân hay cục bộ nhằm mục đích phòng chống bệnh tật, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ. Đây là một trong những phương pháp chữa ngoài của Y học cổ truyền (ngoại trị) được tiến hành dưới sự chỉ đạo của lý luận Đông y, kết hợp tác dụng của hai liệu pháp: thuỷ trị liệu và dược vật trị liệu. Về danh pháp tiếng Việt xin tạm gọi là Phương pháp tắm thuốc.

* Dược dục liệu pháp có từ bao giờ ?

Dược dục liệu pháp có một lịch sử rất lâu đời. Ở Trung Quốc, sách “Lễ ký” đã viết: “Đầu hữu sang tắc mộc, thân hữu bệnh tắc dục” (đầu bị lở loét nên gội, thân mình có bệnh nên tắm). Y thư cổ “Hoàng đế nội kinh” cũng đã bàn luận đến DDLP trong nhiều chương mục. Ví như chương “Âm dương ứng tượng đại luận” đã viết: “Kỳ hữu tà giả, tứ hình dĩ vi hãn”, ý muốn nói: nếu bị ngoại tà xâm nhập nên tắm ngâm làm cho ra mồ hôi để tà khí theo đó mà ra ngoài. Các y thư cổ khác như Kim quỹ yếu lược (đời Đông Hán), Trửu hậu bị cấp phương, Ngoại đài bí yếu (đời Tuỳ Đường), Chân lạp phong thổ ký (đời Tống Kim Nguyên), Y tông kim giám, Quán nhã ngoại biên (đời Thanh)… cũng đều có đề cập đến DDLP ở các mức độ khác nhau. Đặc biệt, trong những y thư chuyên khảo về vấn đề này phải nói đến cuốn Lý thược biền văn của y gia Ngô Sư Cơ, đại biểu lỗi lạc của DDLP. Tác phẩm này đã đề cập một cách có hệ thống từ cơ sở lý luận đến kinh nghiệm thực tiễn trong việc vận dụng DDLP để điều trị khá nhiều chứng bệnh thuộc các chuyên khoa với 79 phương thuốc tắm ngâm độc đáo.

* Dược dục liệu pháp có mấy loại ?

Tuỳ theo phần thân thể ngâm trong dịch thuốc nhiều hay ít, người ta thường chia DDLP ra làm 3 loại: toàn thân dược dục, bán thân dược dục và cục bộ dược dục.

- Toàn thân dược dục: Là cách ngâm toàn bộ cơ thể trong dịch thuốc chứa trong bồn có dung tích 250 – 300 lít từ 20 – 30 phút, mỗi ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Thường dùng cho các bệnh lý nội khoa và da liễu.

- Bán thân dược dục: Là cách ngâm nửa cơ thể trong dịch thuốc, bệnh nhân ngồi nước ngập đến rốn. Mỗi lần ngâm trong 20 – 30 phút, mỗi ngày 1 lần, 10 lần là 1 liệu trình. Loại này thường dùng cho các bệnh lý chi dưới như viêm khớp gối, viêm tắc động mạch chân, liệt bại hai chân…

- Cục bộ dược dục: Là cách ngâm chi thể hoặc một bộ phận của cơ thể trong dịch thuốc hoặc tiếp xúc với dịch thuốc nhiều lần. Tuỳ theo cách thức và bộ phận ngâm khác nhau mà phân thành nhiều loại như ngâm tay, ngâm chân,ngâm tứ chi, ngâm đầu, rửa mắt, rửa mặt… Ví dụ, ngâm chân (túc dục) là loại hình thường dùng trên lâm sàng, được chia làm hai hình thức: ngâm chân thấp và ngâm chân cao. Ngâm chân thấp là khi dịch thuốc chỉ ngập đến mắt cá, thường dùng cho những chứng bệnh như nấm chân, ra mồ hôi lòng bàn chân, bỏng bàn chân, bong khớp cổ chân, viêm xương gót… Ngâm chân cao là khi dịch thuốc ngập đến tận đầu gối, thường dùng cho những chứng bệnh như viêm khớp, viêm dây thần kinh, tê bì chi dưới, viêm tắc động mạch, các bệnh ngoài da ở hai chân…

* Cơ chế tác dụng của dược dục liệu pháp như thế nào ?

DDLP tác động lên cơ thể thông qua hai yếu tố: Tác dụng của thuốc và tác dụng của nước.

Trải qua quá trình bào chế và đun nấu các hoạt chất có tác dụng chữa bệnh trong dược liệu sẽ hoà tan vào nước hoặc toả ra theo hơi nước tác động trực tiếp lên da và niêm mạc hoặc ngấm vào trong cơ thể mà phát huy tác dụng chữa bệnh. Tác động trực tiếp bên ngoài thường được ứng dụng cho các bệnh lý ngoài da, bệnh vùng hậu môn và bộ phận sinh dục ngoài, bệnh mắt, các thương tổn phần mềm do sang chấn… của dịch thuốc. Hoạt chất ngấm vào cơ thể theo hai con đường: ngấm qua niêm mạc mũi miệng do hít hơi thuốc và thẩm thấu qua da. Tác động bên trong chủ yếu được ứng dụng cho các bệnh lý nội khoa. Tuy nhiên, cả hai con đường tác động bên ngoài và tác động bên trong ít khi thực hiện riêng rẽ mà thường hiệp đồng tương hỗ với nhau.

Nước tác động lên cơ thể nhờ hai yếu tố: nhiệt độ và áp lực. Độ ấm của dịch thuốc có tác dụng làm giãn mạch toàn thân và tại chỗ, thúc đẩy tuần hoàn huyết dịch, cải thiện công năng hấp thu của da, làm giãn cơ và giảm đau. Đối với vết thương xung huyết kỳ đầu nếu ngâm trong dịch thuốc lạnh có khả năng làm co mạch và giảm xuất tiết. Áp lực của nước có tác dụng xoa bóp các bộ phận được ngâm, thúc đẩy quá trình hồi lưu của máu và dịch bạch huyết, làm giảm sưng nề và giảm đau.

Ngoài ra, theo quan niệm của Y học cổ truyền, dịch thuốc còn tác động lên các huyệt vị châm cứu phối hợp với các động tác xoa bóp khi ngâm sẽ giúp cho cơ thể điều chỉnh cân bằng âm dương, phục hồi công năng các tạng phủ và làm lưu thông huyết mạch.

* Khi thực hành dược dục liệu pháp cần chú ý gì ?

Thực tế cho thấy DDLP có tính an toàn rất cao và hầu như không có tác dụng phụ. Tuy nhiên, khi thực hành vẫn nên chú ý một số điểm sau đây:

- Những người bị cao huyết áp, vữa xơ động mạch, suy mạch vành, u mạch máu, suy tim, tiền sử đã bị nhồi máu cơ tim, cơ địa dễ xuất huyết không nên tắm ngâm toàn thân trong dịch thuốc có nhiệt độ trên 39oC.

- Phụ nữ đang hành kinh và người bị dị ứng với dịch thuốc thì không nên thực hành DDLP.

- Trước và sau bữa ăn ít nhất 30 phút không nên tắm ngâm toàn thân.

- Trước khi ngủ không nên tiến hành DDLP.

- Chú ý tránh tắm ngâm quá lâu, mùa đông cần đề phòng cảm lạnh.

* Cơ chế tác dụng của dược dục liệu pháp như thế nào ?

DDLP tác động lên cơ thể thông qua hai yếu tố: Tác dụng của thuốc và tác dụng của nước.

Trải qua quá trình bào chế và đun nấu các hoạt chất có tác dụng chữa bệnh trong dược liệu sẽ hoà tan vào nước hoặc toả ra theo hơi nước tác động trực tiếp lên da và niêm mạc hoặc ngấm vào trong cơ thể mà phát huy tác dụng chữa bệnh. Tác động trực tiếp bên ngoài thường được ứng dụng cho các bệnh lý ngoài da, bệnh vùng hậu môn và bộ phận sinh dục ngoài, bệnh mắt, các thương tổn phần mềm do sang chấn… của dịch thuốc. Hoạt chất ngấm vào cơ thể theo hai con đường: ngấm qua niêm mạc mũi miệng do hít hơi thuốc và thẩm thấu qua da. Tác động bên trong chủ yếu được ứng dụng cho các bệnh lý nội khoa. Tuy nhiên, cả hai con đường tác động bên ngoài và tác động bên trong ít khi thực hiện riêng rẽ mà thường hiệp đồng tương hỗ với nhau.

Nước tác động lên cơ thể nhờ hai yếu tố: nhiệt độ và áp lực. Độ ấm của dịch thuốc có tác dụng làm giãn mạch toàn thân và tại chỗ, thúc đẩy tuần hoàn huyết dịch, cải thiện công năng hấp thu của da, làm giãn cơ và giảm đau. Đối với vết thương xung huyết kỳ đầu nếu ngâm trong dịch thuốc lạnh có khả năng làm co mạch và giảm xuất tiết. Áp lực của nước có tác dụng xoa bóp các bộ phận được ngâm, thúc đẩy quá trình hồi lưu của máu và dịch bạch huyết, làm giảm sưng nề và giảm đau.

Ngoài ra, theo quan niệm của Y học cổ truyền, dịch thuốc còn tác động lên các huyệt vị châm cứu phối hợp với các động tác xoa bóp khi ngâm sẽ giúp cho cơ thể điều chỉnh cân bằng âm dương, phục hồi công năng các tạng phủ và làm lưu thông huyết mạch.

* Khi thực hành dược dục liệu pháp cần chú ý gì ?

Thực tế cho thấy DDLP có tính an toàn rất cao và hầu như không có tác dụng phụ. Tuy nhiên, khi thực hành vẫn nên chú ý một số điểm sau đây:

- Những người bị cao huyết áp, vữa xơ động mạch, suy mạch vành, u mạch máu, suy tim, tiền sử đã bị nhồi máu cơ tim, cơ địa dễ xuất huyết không nên tắm ngâm toàn thân trong dịch thuốc có nhiệt độ trên 39oC.

- Phụ nữ đang hành kinh và người bị dị ứng với dịch thuốc thì không nên thực hành DDLP.

- Trước và sau bữa ăn ít nhất 30 phút không nên tắm ngâm toàn thân.

- Trước khi ngủ không nên tiến hành DDLP.

- Chú ý tránh tắm ngâm quá lâu, mùa đông cần đề phòng cảm lạnh.

* Một số ứng dụng thông thường

- Cảm mạo: Tang diệp 30g, Cúc hoa 15g, Chi tử sao đen 9g, Độc hoạt 6g, Thiên ma 6g, Tần giao 4,5g. Các vị thuốc tán vụn, trộn với nước sắc bạc hạ làm thành viên hoàn, khi dùng lấy một vài viên hoà tan trong 1000ml nước sôi rồi gội đầu. Hoặc dùng gừng tươi lượng vừa đủ, thái vụn, sắc lấy nước ngâm hai bàn chân.

- Cao huyết áp: Từ thạch, Thạch quyết minh, Đẳng sâm, Hoàng cầm, Đương quy, Tang chi, Chỉ xác, Ô dược, Mạn kinh tử, Bạch tật lê, Bạch thược, Đỗ trọng sao, Ngưu tất, mỗi thứ 6g, Độc hoạt 18g. Tất cả sắc kỹ lấy nước ngâm chân trong 60 phút.

- Viêm khớp: Chế xuyên ô 10g, Chế thảo ô 10g, Tế tân 10g, Ý dĩ 50g, Đan bì 15g, Xích thược 15g, Dây đau xương 20g, Nhũ hương 15g, Một dược 15g, Hồng hoa 15g, Hoàng bá 15g, Thương truật 15g. Nếu đau nhiều tăng liều Chế xuyên ô, nếu chi thể co quắp gia thư Cân thảo, nếu sưng nóng đỏ nhiều Bội hoàng bá, nếu chi dưới sưng nền gia thêm Ngưu tất. Tất cả sắc kỹ lấy nước ngâm rửa, nếu sưng nhiều hơn nóng thì xông hơi thuốc 15 phút rồi rửa nước thuốc và đắp bã lên chỗ đau, nếu nóng nhiều hơn sưng thì dịch thuốc để nguội bớt rồi ngâm chừng 20 – 30 phút. Mỗi ngày 1 – 2 lần, 20 ngày là 1 liệu trình.

- Vết thương viêm loét: Sà sàng tử 9g, Thương truật 6g, Đương quy 9g, Hồng hoa 9g, Kim ngân hoa 9g, Xích thược 6g, Liên kiều 9g, Đan bì 6g, Địa cốt bì 9g, Trạch lan diệp 9g, Uy linh tiên 6g, Cam thảo 6g, Nhũ hương 6g, Một dược 6g, Địa phu tử 9g, Ngải diệp 6g, Phòng phong 6g, Bạch chỉ 9g, Kinh giới tuệ 3g. Tất cả sắc kỹ lấy nước ngâm rửa vết thương, mỗi ngày 2 lần.

- Viêm mạn tính tiền liệt tuyến: Xuyên ô đầu, Thảo ô đầu và Tế tân mỗi thứ 20g, Bạch chỉ, Nhũ hương, Một dược, Tô mộc và Tạo giác thích mỗi thứ 15g, Ngải diệp và Quế chi mỗi thứ 30g. Tất cả sắc với 3000ml nước lấy 1500ml rồi ngâm rửa phần âm bộ trong 20 – 30 phút, mỗi ngày 2 lần, mỗi thang dùng 2 lần, 3 thang là một liệu trình.

- Mày đay: Phòng phong 20g, Ngải diệp 20g, Khổ sâm 30g, Sinh địa khô, Kinh giới 20g, Bạch tiên bì 20g, Sà sàng tử 20g. Các vị sắc kỹ lấy nước, để nguội bớt còn chừng 50 – 60oC là được, tắm ngâm bộ phận bị bệnh trong 20 – 30 phút.

6348986
Hôm nay
Hôm qua
Tháng này
Tháng trước
Tổng số
4512
4355
116888
138003
6348986